bài giảng quản trị doanh nghiệp - nguyễn phan minh hiền - Pdf 15

Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
CHƯƠNG I : ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
1.1. Doanh nghiệp và các loại hình doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
Theo luật doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam số 60/2005/QH11 khoá XI thông qua ngày 29/11/2005:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh.”
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế, quy tụ các phương tiện về tài chính, vật chất và
con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch
vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hoá lợi nhuận
của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp hợp lý các mục tiêu xã hội.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi. Kinh doanh có các đặc điểm cơ bản sau:
- Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ
thể kinh doanh có thể là cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp.
- Kinh doanh phải gắn liền với thị trường.
- Kinh doanh phải gắn liền với sự vận động của đồng vốn. Công thức kinh doanh
của C.Mác:T-H-SX -H’ -T’
- Mục đích chủ yếu của kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận (T’-T >0)
Một DN có thể đảm nhận tất cả các khâu của quá trình kinh doanh, nhưng cũng có
thể chỉ thực hiện một khâu nào đó,chẳng hạn như: sản xuất hay tiêu thụ (DN thương mại).
1.1.2. Các loại hình doanh nghiệp
1.1.2.1. Phân loại Doanh nghiệp căn cứ vào hình thức sở hữu
a. Doanh nghiệp Nhà nước
- Khái niệm : Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế Nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực

tài sản khác của doanh nghiệp.
c. Công ty trách nhiệm hữu hạn
c1. Công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là DN có những đặc điểm chung sau đây:
- Hình thức sở hữu của công ty là sở hữu chung của các thành viên công ty.
- Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên mỗi công ty
không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi.
- Công ty không được quyền phát hành cổ phần.
- Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
c2. Công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là DN có những đặc điểm chung sau đây:
- Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan nhà
nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại DN, các tổ chức khác theo quy định
của pháp luật.
- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ cho
tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp.
- Công ty không được phát hành cổ phần.
- Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối
với kết quả kinh doanh trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Trang 2
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
d. Công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn
chế tối đa.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo
quy định của pháp luật về chứng khoán.

Theo tiêu thức quy mô, các doanh nghiệp đước phân làm ba loại:
- Doanh nghiệp quy mô lớn.
- Doanh nghiệp quy mô vừa.
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Trang 3
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên, hầu hết ở các nước người ta
dựa vào những tiêu chuẩn như:
- Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp.
- Số lượng lao động trong doanh nghiệp.
- Doanh thu của doanh nghiệp.
- Lợi nhuận hàng năm.
1.1.2.3. Phân loại Doanh nghiệp căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp.
- Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
- Doanh nghiệp thương mại.
- Doanh nghiệp vận tải.
- Doanh nghiệp xây dựng.
- Các doanh nghiệp dịch vụ.
- Doanh nghiệp hỗn hợp: sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ.
1.1.3. Mục tiêu của Doanh nghiệp
a. Những mục tiêu kinh tế
Doanh nghiệp cố gắng đạt tới lợi nhuận tối đa, đó là mục tiêu kinh tế quan trọng
nhất. Để đạt tới điều đó, doanh nghiệp phải thực hiện các mục tiêu kinh tế khác như:
- Về thị trường: chất lượng sản phẩm, dịch vụ khách hàng, bảo vệ và nâng cao thị
phần, chiến thắng các đối thủ cạnh tranh.
- Về tài chính: bảo toàn vốn, gia tăng tài sản,gia tăng vòng quay vốn, giảm chi phí
- Về cải tiến công nghệ, mở rộng qui mô và nâng cao hệ số sử dụng công suất
b. Những mục tiêu xã hội
- Nâng cao uy tín và danh tiếng.

kinh tế nào thì các chức năng: thương mại, sản xuất, cung ứng, tài chính, quản trị và nhân
sự đều vẫn là những chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự tồn tại của các doanh nghiệp.
* Chức năng của doanh nghiệp phân loại theo các chức năng kinh tế :
 Chức năng sản xuất: Có thể tóm tắt quá trình sản xuất theo sơ đồ sau :
 Chức năng thương mại
Kinh doanh gắn với thị trường và các hoạt động mua, bán. Vì vậy, chức năng
thương mại rất quan trọng. Chức năng thương mại bao gồm các hoạt động sau:
- Hoạt động cung ứng.
- Hoạt động tiêu thụ.
- Hoạt động phân phối.
 Chức năng phân phối : Chức năng phân phối của doanh nghiệp có thể mô tả
theo sơ đồ sau:
Hình 1.1. Chức năng phân phối của doanh nghiệp
Trang 5
Các yếu tố đầu vào:
+ Nguyên, nhiên, vật liệu
+ Máy móc, thiết bị, nhà
xưởng
+ Lao động
+ Vốn
+ Đất đai
Quá trình
sản xuất
Các yếu tố đầu ra:
+ Sản phẩm, hàng hóa
+Dịch vụ
+Chất phế thải (nước,
khói bụi, tiếng ồn )
Thu
nhập

đầu tiên cho khoa học quản trị là FEREDERICK W. TAYLOR vào những năm 1911 với
tác phẩm quản trị doanh nghiệp có giá trị đầu tiên được xuất bản ở Mỹ là “Những nguyên
tắc và phương pháp quản trị khoa học”. Điều này nói lên tính đa dạng, phong phú và phức
tạp của khoa học quản trị.
Quản trị doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu khách quan. Các hoạt động tập thể
(lao động, sản xuất kinh doanh…) đều đòi hỏi một sự phối hợp nhịp nhàng, sự điều khiển,
sự hướng dẫn cụ thể đối với từng cá nhân để hoàn thành công việc chung. Hoạt động quản
trị ra đời gắn liền với sự xuất hiện của hiệp tác và phân công lao động. Sản xuất xã hội và
nhân loại không thể tồn tại và phát triển, nếu không có quản trị. Qui mô sản xuất càng
phát triển, trình độ kỹ thuật của sản xuất càng cao, thì hoạt động quản trị doanh nghiệp
càng trở nên phức tạp. Sản xuất hiện đại đòi hỏi một sự điều khiển khéo léo, một sự phối
hợp nhip nhàng giữa các phần việc của tất cả các khâu trong quá trình sản xuất. Nhờ đó
hoạt động quản trị (tổ chức sản xuất, tổ chức lao động hợp lý, sự phối hợp tuyệt vời của
các phân xưởng, các bộ phận sản xuất trong xí nghiệp ) mà chỉ trong vài phút một chiếc
ô tô có thể được xuất xưởng, trong khi tổng thời gian để chế tạo một chiếc ô tô là hàng
nghìn giờ. Qua đây cũng đã minh chứng rõ ràng là hoạt động quản trị doanh nghiệp cần
thiết như thế nào trong tổ chức sản xuất kinh doanh hiện đại.
Tầm quan trọng của quản trị được thể hiện rất rõ trong sự phát triển kinh tế. Một xí
nghiệp quản trị tốt, sản xuất sẽ phát triển , kinh doanh có hiệu quả. Một Quốc gia quản trị
giỏi, nền kinh tế sẽ tăng trưởng với tốc độ cao, hàng hóa nhiều, đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân sẽ luôn luôn được cải thiện và nâng cao. Ngược lại, một xí nghiệp quản
trị kém sẽ làm ăn thua lỗ. Một Quốc gia quản trị kém sẽ kìm hãm sự phát triển của nền
kinh tế, không khai thác được những tiềm năng to lớn của đất nước, để tăng trưởng kinh
tế và nâng cao đời sống của nhân dân
Nhật Bản là một nước đất hẹp, người đông, tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, có
những điều kiện về dân số, hoàn cảnh tự nhiên và một số đặc điểm xã hội gần gũi với
nước ta. Thế mà, sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, từ trong đổ nát, bằng khả năng quản
trị giỏi của mình, đã đưa đất nước tiến lên với những bước phát triển thần kỳ. Tốc độ phát
triển kinh tế của Nhật Bản rất cao. Năm 1950 giá trị tổng sản phẩm quốc dân của Nhật chỉ
đạt 20 tỷ đôla, bằng khoảng 60% của CHLB Đức (33,7 tỷ đôla), bằng 1/2 của Pháp (39 tỷ

“Quản trị doanh nghiệp là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra họat
động của các thành viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đến sự thành
công trong các mục tiêu đề ra của doanh nghiệp”. Từ khái niệm này giúp chúng ta nhận ra
rằng, quản trị là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong
một tổ chức. Đó là quá trình nhằm tạo nên sức mạnh gắn liền các vấn đề lại với nhau
trong tổ chức và thúc đẩy các vấn đề chuyển động. Mục tiêu của quản trị là tạo ra giá trị
thặng dư tức tìm ra phương thức thích hợp để thực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả cao
nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất.
Như vậy, trong khái niệm trên chúng ta có thể xác định những vấn đề liên quan đến
hoạt động quản trị doanh nghiệp :
+ Phương thức quản trị.
+ Yếu tố con người trrong tổ chức
+ Doanh nghiệp phải đảm bảo đầy đủ 3 yếu tố của một tổ chức : có mục tiêu, nhiều
thành viên và là một cơ cấu có tính hệ thống.
Trang 7
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
+ Đạt được các mục tiêu của tổ chức đồng thời tương quan giữa kết quả và hiệu
quả: nhà quản trị cần đạt được mục tiêu trong tương quan với nguồn lực, đồng thời cần
phải cân bằng giữa kết quả và hiệu quả.
1.2.3. Lịch sử phát triển của các lí thuyết quản trị
1.2.3.1. Trường phái cổ điển về quản trị doanh nghiệp
Lý thuyết cổ điển về quản trị doanh nghiệp vẫn giữ một vị trí xứng đáng trong quản
trị học hiện đại. Nhiều kỹ thuật tổ chức và quản trị kinh doanh ngày nay vẫn áp dụng các
nguyên tắc của lý thuyết quản trị cổ điển. Thậm chí, các lý thuyết mới về quản trị cũng
chịu ảnh hưởng một cách có ý thức hoặc không có ý thức của những lý thuyết cổ điển.
Lý thuyết cổ điển về quản trị bao gồm hai lý thuyết chính. Một là “lý thuyết quản trị
một cách khoa học” ở Hoa Kì của Ferederick Winslow Taylor và các công sự. Hai là, “lý
thuyết về quản trị hành chính” xuất hiện vài năm sau lý thuyết quản trị khoa học của
Henry Fayol ở Pháp, Max Weber ở Đức, Chester Barnard, Luther Gulick và Lyndal
Urwick ở Anh và Hoa Kì.

Thuyết quản trị hành chính được đưa ra ở Pháp bởi Henry Fayol, có thể gọi ông là
một Taylor của Châu Âu, người cha của một trong những lý thuyết quản lý hiện đại quan
trọng nhất. Năm 1916, ông xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Quản lý hành chính chung và
trong công nghiệp” (Administration Industrielle et Générale) đề cập đến các nguyên tắc
quản trị.Trong khi lý thuyết quản trị khoa học tập trung vào việc nâng cao năng suất lao
động ở cấp phân xưởng theo khảo hướng vi mô, thì lý thuyết quản trị hành chính được tập
trung sự chú ý vào việc nêu lên các nguyên tắc quản trị lớn, áp dụng cho cấp bậc tổ chức
cao hơn.
* Nội dung của lý thuyết quản trị hành chính
- Nhấn mạnh đến yếu tố mệnh lệnh, quyền hành, cấp bậc trong doanh nghiệp.
- Điều hành doanh nghiệp thông qua những nguyên tắc đã quy định từ trước.
* Nhận xét về các lý thuyết quản trị hành chính
+ Ưu điểm : Cơ cấu rõ ràng, đảm bảo nguyên tắc
+ Nhược điểm:
- Không đề cập đến tác động của môi trường
- Không chú trọng tính hợp lý trong hành động của nhà quản trị
- Trọng tâm của quản trị là nhà quản trị
1.2.3.2. Trường phái tâm lý xã hội trong quản trị doanh nghiệp : (Hugo
Munsterberg, Mary Parker Follet, Elton Mayo (1880-1849); Maslow (1908-1970)
Lý thuyết này cho rằng hiệu quả của quản trị cũng do năng suất lao động quyết định,
nhưng năng suất lao động không phái chỉ do các yếu tố vật chất quyết định, nhưng năng
suất lao động không phải chỉ do các yếu tố vật chất quyết định, mà còn do sự thỏa mãn
các nhu cầu tâm lý xã hội của con người.
* Nội dung của lý thuyết tâm lý xã hội
- Nhấn mạnh đến yếu tố con người, tính nhân văn, nhân bản trong doanh nghiệp
- Con người không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn có nhu cầu về mặt tinh thần
- Sự thỏa mãn tinh thần có mối liên quan chặt chẽ với năng suất và kết quả lao
động
- DN cần tạo ra nét văn hóa trong giao tiếp, và tạo mối quan hệ tốt với nhân viên
1.2.3.3. Trường phái hệ thống trong quản trị doanh nghiệp

doanh nghiệp.
 Tầm quan trọng của hoạch định
- Chú trọng vào việc thực hiện các mục tiêu, đồng thời tìm ra các giải pháp tốt
nhất.
- Là công việc cần thiết để ứng phó với những tình huống, yếu tố bất định và
những thay đổi của môi trường bên ngoài và bên trong của một tổ chức, một doanh
nghiệp.
- Là công cụ đắc lực trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên giữa các bộ
phận với nhau trong doanh nghiệp.
- Tạo ra hiệu quả kinh tế cao, nó chú trọng đến mục tiêu chung, giảm được sự
chồng chéo và những hoạt động lãng phí.
- Hoạch định có vai trò làm cơ sở quan trọng cho công tác kiểm tra và điều chỉnh
cho hoạt động của toàn bộ hệ thống nói chung hay từng bộ phận nói riêng.
 Các quyết định chính trong quá trình xây dựng kế hoạch:
- Xác định mục tiêu và nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu.
- Xây dựng các phương án để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra.
- Xác định các nguồn lực cần thiết: vật chất, công nghệ, vốn, lao động …
Trang 10
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
- Xác định mốc thời gian bắt đầu và hoàn thành các công việc, nhiệm vụ cụ thể
nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra.
- Phân công trách nhiệm cho các tổ chức, tập thể và cá nhân.
Hình 1.2. Các chức năng quản trị
b. Tổ chức
* Khái niệm
Công tác tổ chức là quá trình xác định các công việc cần phải làm và những người
làm các công việc đó, định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận và cá
nhân cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận và cá nhân này trong khi tiến hành công việc.
Tổ chức là quá trình gắn kết, phân công và phối hợp các thành viên vào cùng làm
việc, nhằm thực hiện mục tiêu chung; trong đó bao gồm tổ chức con người, tổ chức công

Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
- Liên kết các yếu tố động tác thành hoạt động thao tác có hiệu quả.
- Từ những hoạt động thao tác đó, hình thành các chức trách (hoặc công tác) hợp lí.
- Từ các chức trách, hình thành cương vị của từng người.
- Phân chia các chức trách thành các ngành hoặc bộ phận.
- Sắp xếp các bộ phận theo một trật tự dọc và ngang, từ đó hình thành một kết cấu tổ
chức hoàn chỉnh.
c. Lãnh đạo (chỉ huy, phối hợp và điều hành)
Sau khi đã lập kế hoạch, đã xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và cán bộ thì vấn đề
tiếp theo là phải làm thế nào để cho cả doanh nghiệp hoạt động. Đó chính là chức năng
lãnh đạo chủa nhà quản trị.
* Khái niệm
Lãnh đạo là quá trình khởi động và duy trì sự hoạt động của doanh nghiệp theo kế
hoạch đã đề ra bằng cách tác động lên động cơ và hành vi của con người trong doanh
nghiệp và phối hợp các hoạt động của họ sao cho họ cố gắng một cách tự giác để hoàn
thành các nhiệm vụ của mình và mục tiêu chung của doanh nghiệp.
* Thực hành lãnh đạo doanh nghiệp
Để thúc đẩy nhân viên nhà quản trị cần phải biết cách thực hành lãnh đạo. Quá
trình thực hành lãnh đạo có thể được triển khai theo hai phương thức:
- Khơi thông các mối quan hệ
+ Quan hệ trên dưới.
+ Yêu mến nhân viên.
+ Doanh nghiệp là gia đình.
+ Đàm phán nội bộ.
- Khích lệ nhân viên
* Các phong cách lãnh đạo
- Phong cách lãnh đạo chuyên quyền.
- Phong cách lãnh đạo dân chủ.
- Phong cách lãnh đạo tản quyền.
* Vai trò của chức năng lãnh đạo

quyết định quản trị.
1.2.5.1. Lĩnh vực vật tư
Lĩnh vực vật tư bao gồm các nhiệm vụ sau : Phát hiện nhu cầu vật tư, tính toán vật
tư tồn kho, mua sắm vật tư, nhập kho và bảo quản, cấp phát vật tư
1.2.5.2. Lĩnh vực sản xuất
Lĩnh vực sản xuất gồm toàn bộ các hoạt động có tính chất công nghiệp trên cơ sở
phối hợp các yếu tố lao động, tư liệu sản xuất và đối tượng lao động đã có để chế biến các
sabr phẩm hàng hóa và thực hiện các dịch vụ. Nhiệm vụ gồm : hoạch định chương trình,
xây dựng kế hoạch sản xuất, điều khiển quá trình chế biến, kiểm tra chất lượng, giữ gìn
bản quyền, bí quyết, kiểu dáng…và phát huy sáng chế phát minh của các nhân viên.
1.2.5.3. Lĩnh vực marketing
Lĩnh vực marketing bao gồm các nhiệm vụ sau : Thu thập các thông tin về thị
trường, hoạch định các chính sách sản phẩm, hoạch định các chính sách giá cả, hoạch
định các chính sách phân phối, hoạch định các chính sách truyền thông cổ động.
1.2.5.4. Lĩnh vực nhân sự
Lĩnh vực nhân sự bao gồm các nhiệm vụ sau : Lập kế hoạch nhân sự, tuyển dụng
nhân sự, bố trí nhân sự, đánh giá nhân sự, phát triển nhân viên (đao tạo, bồi dưỡng, đề
bạt), thù lao, quản lý nhân sự thông qua hồ sơ dữ liệu nhân sự, qua thống kê hoạt động
của nhân viên và hỗ trợ đời sống.
1.2.5.5. Lĩnh vực tài chính
Lĩnh vực tài chính bao gồm các nhiệm vụ sau : Tạo vốn, sử dụng vốn, quản lý vốn
(chủ yếu là quản lý sự lưu thông thanh toán và các quan hệ tín dụng)
1.2.5.6. Lĩnh vực kế toán
Trang 13
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
Lĩnh kế toán bao gồm các nhiệm vụ sau : Kế toán sổ sách, tính toán chi phí-kết
quả, xây dựng các bảng cân đối, tính toán lỗ lãi; các nhiệm vụ :thẩm định kế hoạch, thống
kê, kiểm tra việc tính toán, bảo hiểm, thuế
1.2.5.7. Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển
Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển bao gồm các nhiệm vụ sau :

trường thay đổi nhanh và phức tạp.
Như vậy, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nhà quản
trị. Chính họ là người vạch ra mục tiêu, chiến lược, chính sách, ra quyết định cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện các quyết định đó. Họ chính là người điều
khiển công việc của người khác, ví dụ như giám đốc, kế toán trưởng, tổ trưởng… đối với
nhà quản trị cấp cơ sở họ còn làm cả công việc của người thừa hành, chẳng hạn như tổ
Trang 14
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
trưởng tổ giá cước trong một doanh nghiệp viễn thông, họ vừa quản lý nhân viên trong tổ
vừa sử dụng nghiệp vụ chuyên môn để nghiên cứu và đề xuất các chính sách giá cước
viễn thông.
1.2.6.2. Các cấp quản trị
Tuỳ theo tổ chức mà cấp bậc quản trị có thể phân chia khác nhau, nhưng để thuận lợi
cho việc nghiên cứu các nhà khoa học phân chia các nhà quản trị trong một tổ chức thành
03 cấp quản trị như sau (hình 1.3):
Cấp cao : Vạch chiến lược, mục tiêu dài hạn, giải pháp lớn…
Cấp giữa : Cụ thể hóa mục tiêu của cấp cao, đ-khiển cấp dưới…
Cấp cơ sở : Điều khiển, đôn đốc công nhân, nhân viên…
Người thừa hành
Hình 1.3 : Các cấp quản trị trong tổ chức
a. Các nhà quản trị cấp cơ sở (first line manager)
Nhà quản trị cấp cơ sở là những nhà quản trị ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp
bậc của nhà quản trị trong một tổ chức. Nhiệm vụ của họ là thường xuyên hướng dẫn, đôn
đốc, điều khiển người thừa hành và họ cũng tham gia trực tiếp thực hiện các công việc cụ
thể như những người dưới quyền họ. Ví dụ trong các doanh nghiệp ta dễ thấy họ là những
tổ trưởng, trưởng nhóm, trưởng ca ….
b. Các nhà quản trị cấp trung gian (middle manager)
Nhà quản trị cấp trung gian là những nhà quản trị ở cấp chỉ huy trung gian, đứng trên
các nhà quản trị cấp cơ sở và ở dưới các nhà quản trị cấp cao. Họ cụ thể hoá các mục tiêu
của cấp cao, thực hiện các kế hoạch và chính sách của tổ chức, họ vừa quản trị các quản

người và tập thể trong tổ chức nhằm tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy hoàn thành công
việc chung. Chẳng hạn như kỹ năng thông đạt hữu hiệu (viết & nói), có thái độ quan tâm
đến người khác, xây dựng bầu không khí hợp tác giữa mọi người, động viên nhân viên
dưới quyền…
Đối với kỹ năng nhân sự thì yêu cầu cần thiết đối với cả 03 cấp quản trị, vì dù thuộc
cấp nào, nhà quản trị cũng phải cùng làm việc với tất cả mọi người.
c. Kỹ năng tư duy
Kỹ năng tư duy yêu cầu nhà quản trị phải hiểu rõ mức độ phức tạp của môi trường
và giảm thiểu sự phức tạp đó xuống ở mức mà tổ chức có thể đối phó và thích ứng được.
Kỹ năng tư duy là một kỹ năng khó tiếp thu nhất và rất quan trọng đối với nhà quản
trị cấp cao. Các chiến lược, kế hoạch, chính sách và quyết định của nhà quản trị cấp cao
thường phụ thuộc vào tư duy chiến lược của họ. Hình 1.4 sau diễn tả kỹ năng quản trị của
các cấp như sau:
Trang 16
Kỹ năng kỹ thuật
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
Hình 1.4 : Kỹ năng quản trị của các cấp quản trị
1.2.6.4. Vai trò của nhà quản trị
Để làm rõ các công việc của các nhà quản trị, cũng như các cách ứng xử khác nhau
của họ đối với mọi người và mọi tổ chức khác, Henry Mentzberg đã đưa ra 10 loại vai trò
khác nhau như sau mà nhà quản trị phải thực hiện và chia chúng thành 03 nhóm lớn:
a. Nhóm vai trò quan hệ với con người (gồm 03 vai trò)
- Vai trò đại diện, hay tượng trưng, có tính chất nghi lễ trong tổ chức : Có nghĩa là
bất cứ một tổ chức nào cũng đều phải có người đại diện cho tổ chức đó nhằm thực hiện
các giao dịch, đối thoại với các cá nhân và tổ chức bên ngoài. Ngay cả từng bộ phận trong
tổ chức cũng phải có người đứng đầu bộ phận đó để lĩnh hội các ý kiến, chính sách, kế
hoạch của cấp trên.
- Vai trò lãnh đạo: Vai trò này phản ảnh sự phối hợp và kiểm tra của nhà quản trị
đối với cấp dưới của mình.
- Vai trò liên lạc: Thể hiện mối quan hệ của nhà quản trị đối với người khác cả bên

nhà quản trị phải phân bổ các nguồn lực đó cho các thành viên, từng bộ phận sao cho hợp
lý nhằm đảm bảo cho các thành viên, bộ phận hoạt động một cách ổn định và hiệu quả.
- Vai trò thương thuyết : Tức phản ảnh việc thương thuyết, đàm phán thay mặt cho
tổ chức trong các giao dịch với các cá nhân, tổ chức bên ngoài. Ví dụ đàm phán ký kết
hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế…
1.2.6.5. Những tiêu chuẩn cần có của nhà quản trị
a. Những năng lực cần có của nhà quản trị
- Năng lực kĩ thuật, năng lực nhân sự, năng lực bao quát. Các nhà quản trị cần phải
có đủ ba năng lực trên, tuy vậy tầm quan trọng của từng loại năng lực lại phụ thuộc vào
cấp bậc của nhà quản trị trong doanh nghiệp. Nói chung năng lực kĩ thuật giảm dần sự
quan trọng đối với các vị trí quản trị cao cấp. Ở cấp càng cao, các nhà quản trị cần có
nhiều năng lực bao quát và chiến lược hơn. Với các nhà quản trị cấp thấp, năng lực kĩ
thuật là cần thiết vì ở cấp này nhà quản trị làm việc trực tiếp gắn bó với quy trình kĩ thuật
sản xuất. Năng lực nhân sự trái lại cần thiết đối với mọi cấp quản trị vì nhà quản trị ở cấp
nào cũng phải làm việc với con người.
b. Những phẩm chất cốt lõi của nhà quản trị
- Dám mạo hiểm
- Quyết đoán
- Tự tin
- Chủ động
- Lạc quan
- Có tinh thần đổi mới…
1.3. Cơ cấu tổ chức của quản trị doanh nghiệp
1.3.1. Khái niệm cơ cấu tổ chức
Trang 18
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau,
được chuyên môn hóa, được giao những nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn nhất định và
bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp
1.3.2. Nguyên tắc xây dựng cơ cấu tổ chức

Quản đốc
phân xưởng B
Quản đốc
phân xưởng A
Tổng giám đốc
Marketing Kỹ thuật Sản xuất Tài chính Nhân sự
Phân xưởng A Phân xưởng B Phân xưởng C
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
Hình 1.6. Cơ cấu quản lý chức năng
Trong cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng, các bộ phận quản lý cấp dưới
nhận mệnh lệnh từ nhiều phòng ban chức năng khác nhau. Đôi khi các mệnh lệnh này
có thể trái ngược nhau hoặc mâu thuẫn với nhau, gây khó khăn cho cấp thừa hành. Có
thể phân chia các bộ phận theo các chức năng (sơ đồ 2-4) cơ bản như:
- Chức năng sản xuất
- Chức năng kỹ thuật
- Chức năng marketing
- Chức năng tài chính
- Chức năng nhân sự
* Ưu điểm của cơ cấu theo chức năng:
- Phản ánh lôgic các chức năng
- Nhiệm vụ được phân định rõ ràng
- Tuân theo nguyên tắc chuyên môn hóa ngành nghề
- Phát huy được sức mạnh và khả năng của đội ngũ cán bộ theo từng chức
năng
- Giảm chi phí và rút ngắn thời gian đào tạo
- Tạo ra các biện pháp kiểm tra chặt chẽ của cấp cao nhất
* Nhược điểm của cơ cấu quản lý theo chức năng:
- Chỉ có cấp quản lý cao nhất có trách nhiệm về hiệu quả cuối cùng của toàn thể
công ty
- Qua chuyên môn hóa và tạo ra cách nhìn quá hẹp với các cán bộ chủ chốt

ngang.
Trang 21
Tổng giám đốc
GĐ sản xuất
GĐ marketing GĐ tài chính
Quản trị
bộ phận A
Nhân viên
bộ phận A
Quản trị
bộ phận B
Nhân viên
bộ phận B
Nhân viên
bộ phận A
Nhân viên
bộ phận A
Nhân viên
bộ phận B
Nhân viên
bộ phận B
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
CHƯƠNG II: QUẢN TRỊ SẢN XUẤT
2.1. Lựa chọn địa điểm, công nghệ và hoạch định sản xuất
2.1.1. Lựa chọn địa điểm sản xuất và bố trí mặt bằng
Địa điểm kinh doanh và bố trí mặt bằng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành, năng
lực sản xuất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một số nội dung của việc lựa chọn
địa điểm kinh doanh và bố trí mặt bằng sản xuất bao gồm:
a. Xác định nhu cầu của doanh nghiệp về diện tích mặt bằng sản xuất
* Diện tích mặt bằng cần cho sản xuất được tính toán dựa trên cơ sở:

+ Bố trí theo quy trình sản xuất: Máy móc có những chức năng tương tự nhau được
bố trí thành từng nhóm gần nhau.
- Áp dụng: Trong sản xuất các sản phẩm cần có sự đồng bộ trong phối hợp chuyên
môn.
- Ưu điểm: Linh hoạt trong sử dụng các trang thiết bị có tính chuyên môn hóa cao
và phát triển được chuyên môn cho nhân viên vì họ được tổ chức thành các nhóm có trình
độ tay nghề khá cao.
+ Bố trí theo sản phẩm cố định: Sản xuất được tiến hành xung quanh sản phẩm.
- Ápdụng: trong sản xuất các sản phẩm có kích thước cồng kềnh hoặc khó di
chuyển.
2.1.2. Lựa chọn công nghệ và thiết bị sản xuất
a. Lựa chọn công nghệ
Lựa chọn công nghệ sản xuất phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tạo ra sản phẩm, dịch vụ và khả năng cạnh tranh về chất lượng, giá cả và mức độ
đáp ứng thị hiếu khách hàng.
- Đội ngũ lao động có thể làm chủ được công nghệ trong quá trình vận hành, sử
dụng, khắc phục sự cố kỹ thuật
- Phù hợp với điều kiện kinh phí của dự án.
- Không làm ảnh hưởng đến môi trường.
- Phù hợp với yêu cầu của phát triển công nghệ - kĩ thuật của doanh nghiệp và của
đất nước.
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế cho dự án.
b. Mua sắm trang thiết bị sản xuất
Khi tiến hành mua sắm trang thiết bị, cần tính toán cân nhắc trên hai góc độ chính sau:
- Góc độ đặc tính kĩ thuật của máy móc thiết bị.
- Góc độ kinh tế.
2.1.3. Lập kế hoạch sản xuất
Lập kế hoạch sản xuất liên quan chặt chẽ đến 4 nội dung là dự tính số lượng sản
xuất, chất lượng sản phẩm, thời hạn và giá thành sản phẩm.
Trang 23

Trong đó: N : nhu cầu vật tư để sản xuất trong kì.
Q : số sản phẩm cần sản xuất trong kì.
M : định mức nguyên, vật liệu để sản xuất một đơn vị sản phẩm
Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm thì nhu cầu vật tư sẽ
được tính bằng tổng nhu cầu vật tư cho từng loại sản phẩm.
2.2. Tổ chức sản xuất
2.2.1. Khái niệm
Trang 24
Bài giảng Quản trị doanh nghiệp Nguyễn Phan Minh Hiền
a. Nội dung của tổ chức sản xuất
Có nhiều cách hiểu khác nhau về tổ chức sản xuất.
- Nếu coi tổ chức sản xuất như một trạng thái thì đó chính là các phương pháp, các thủ
thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phân bố
chúng một cách hợp lý về mặt không gian. Theo cách quan niệm này thì nội dung của tổ
chức sản xuất gồm:
+ Hình thành cơ cấu sản xuất hợp lí.
+ Xác định loại hình sản xuất cho các nơi làm việc bộ phận sản xuất một cách hợp
lí, trên cơ sở đó xây dựng các bộ phận sản xuất.
+ Bố trí sản xuất nội bộ xí nghiệp.
- Nếu coi tổ chức sản xuất như một quá trình thì đó chính là các biện pháp, các phương
pháp, các thủ thuật để duy trì mối liên hệ và phối hợp hoạt động của các bộ phận sản xuất
theo thời gian một cách hợp lí. Nội dung của tổ chức sản xuất bao gồm:
+ Lựa chọn phương pháp tổ chức quá trình sản xuất.
+ Tìm cách rút ngắn chu kỳ sản xuất.
+ Lập kế hoạch tiến độ và tổ chức công tác điều độ sản xuất.
- Nếu coi tổ chức sản xuất là một trong những nội dung của quản lí sản xuất thì tổ chức
sản xuất là một tập các quyết định mà người quản đốc các xưởng hoặc cán bộ quản lí cần
đưa ra để thực hiện tốt một dự án hay một chương trình sản xuất đã được lập ra. Nội dung
của tổ chức sản xuất nhằm trả lời các câu hỏi sau:
+ Sản xuất sản phẩm gì?


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status