Vợ chồng A Phủ
* Tác giả: Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 trong một
gia đình làm nghề thủ công, ở quê ngoại − làng Nghĩa Đô, ven sông Tô Lịch,
thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phờng Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy,
Hà Nội). Quê nội ở làng Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà
Đông (nay là Hà Tây). Tô Hoài chỉ đợc học hết bậc Tiểu học, rồi phải làm nhiều
nghề để kiếm sống trớc khi cầm bút. Từ trớc Cách mạng tháng Tám 1945, Tô
Hoài đã viết nhiều, với hai đề tài chính : truyện loài vật và truyện về cuộc
sống của những ngời dân nghèo, thợ thủ công ở vùng quê ngoại. Năm 1943,
Tô Hoài gia nhập tổ chức Văn hoá cứu quốc do Đảng Cộng sản thành lập.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Tô Hoài làm báo Cứu quốc Việt Bắc
và hoạt động văn nghệ ở Việt Bắc. Năm 1957, khi Hội Nhà văn Việt Nam đợc
thành lập, ông làm Tổng th kí, rồi Phó Tổng th kí trong nhiều năm. Tô Hoài còn
là Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội (1986 - 1996). Tô Hoài là nhà văn có sức
sáng tạo dồi dào. Đến nay, trong hơn sáu mơi năm cầm bút, Tô Hoài đã cho ra
hơn 160 đầu sách, và ở giai đoạn nào cũng viết đều. Tác phẩm của Tô Hoài đa
dạng về thể loại : tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, hồi kí, tự truyện, kinh
nghiệm sáng tác, truyện và kịch cho thiếu nhi, kịch bản phim, Tô Hoài đợc
Nhà nớc tặng Giải thởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật năm 1996.
Những tác phẩm chính : Dế Mèn phiêu lu kí (đồng thoại,
1941), O chuột (tập truyện về loài vật, 1942), Quê ngời (tiểu thuyết, 1942),
Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Mời
năm (tiểu thuyết, 1957), Miền Tây (tiểu thuyết, 1967), Ngời ven thành (tập
truyện ngắn, 1972), Tự truyện (1978), Quê nhà (tiểu thuyết, 1980), Cát
bụi chân ai (hồi kí, 1992), Chiều chiều (tự truyện, 1999),
Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của
nền văn học hiện đại Việt Nam. Sáng tác của Tô Hoài thể hiện vốn hiểu biết
phong phú, kĩ lỡng của nhà văn về đời sống, đặc biệt là sinh hoạt và phong
tục đợc tái hiện bằng cảm quan hiện thực đời thờng. Nghệ thuật văn xuôi
của Tô Hoài có nhiều đặc sắc, nổi bật ở lối kể chuyện tự nhiên, sinh động,
cách miêu tả giàu chất tạo hình, ngôn ngữ phong phú và đậm tính khẩu
- Ngợi ca những gì tốt đẹp ở con người.
- Trân trọng, đề cao những khát vọng chính đáng của con người.
- Chỉ ra con đường giải phóng người lao động có cuộc đời tăm tối và số phận
thê thảm.
* Chủ đề
Qua việc miêu tả cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, nhà văn đã làm sống lại
quãng đời tăm tối, cơ cực của người dân miền núi dưới ách thống trị dã man của
bọn chúa đất phong kiến, đồng thời khẳng định sức sống tiềm tàng, mãnh liệt
không gì hủy diệt được của những kiếp nô lệ, khẳng định chỉ có sự vùng dậy
của chính họ, được ánh sáng cách mạng soi đường sẽ dẫn tới cuộc đời tươi sáng.
Tâm trạng và hành động của Mị trong đêm cứu A Phủ
Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô
Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ
tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải
phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng
bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để
viết truyện này. Tô Hoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn
sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút
tài hoa. Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ
thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý và hành
động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng
và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong
đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo
của tác phẩm.
Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình ảnh
của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi". Đó là
nét tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh
sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân
cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời
ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là
thản nhiên thổi lửa hơ tay "dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại
sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết
là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó
nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ
rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại
đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt
lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ
cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen
lại". Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất
gần. Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong
lòng Mị.
Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước
Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống
miệng, xuống cổ không biết lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống mình
về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị
nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến
chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cài nhà này”. Lí trí giúp Mị nhận ra
“Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn các hơn cả thú dữ trong
rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khỏe mạnh,
siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống
trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A
Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi.
Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay dắng cho
thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó
rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ
đến A Phủ “có chừng này chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói,
chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng
phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ
phải chết vì cái tội để mất một con bò!
Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người
họ cũng chưa biết đến…
Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức
quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu
A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích
trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi
nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm
thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng
bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và
ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn
sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân
lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó
dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật qua đó tác phẩm này
giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói
chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như
vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình
thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong
truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện
ngắn - giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955. Và “Vợ
chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá
trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả
là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.
Truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp độc giả cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của
người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó giúp chúng ta ngày càng
trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích
thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan
niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”.
Giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực của "Vợ chồng A Phủ"
1, Với vợ chồng A phủ tác giả Tô Hoài đã vẽ lại chân thực cái không khí ngột
ngạt của một vùng quê Tây Bắc trước cách mạng. Ở đó có đủ cả các giai tàng xã
tối của sự bế tắc thì ở A Phủ, trong cái màn đêm thăm thẳm vô biên đã có ánh
sáng, tuy còn mờ của cách mạng. Con người lao động trong Mị & A Phủ đã tìm
ra nguồn sáng, trên con đường chạy thoát số phận, tìm ve với hạnh phúc để rồi
đứng lên, giáng trả lại kẻ thù.
Sức sống mãnh liệt của Mỵ trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài
Lúc đó, khung cảnh mùa xuân căng tràn sự sống,niềm vui.Không khí tưng
bừng, nhộn nhịp”Trai đánh pao,đánh quay,thổi sáo,thổi khèn nhảy”.Màu sắc rực
rỡ”Những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc
sỡ”Âm thanh réo rắt mời gọi”Những đêm tình mùa xuân đã tới, tiếng sáo gọi
bạn yêu lửng lơ bay ngoài đường…
“Anh ném pao,em không bắt
Em không yêu,quả pao rơi rồi
Tgiả miêu tả bức tranh thiên nhiên Tây Bắc nhiều màu sắc, thấm đượm chất
thơ,chất trữ tình. Qua đó ,ta hiểu thêm về khung cảnh vùng cao cùa Tổ Quốc.Ta
biết thêm về cuộc sống,phong tục , sinh hoạt của người miền núi. Âm thanh
tiếng sáo thiết tha mời gọi cùng với thiên nhiên , cuộc sống căng tràn niền vui
đã tác dộng đến tâm hồn Mỵ.
Trong một đêm tình mùa xuân năm đó,dĩên biến tâm trạng và hành động của Mị
đã có nhiều thay đổi.Lúc đó ngoài đầu núi có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi
“Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi.Mị nhẩm thầm bài hát của người
đang thổi”.Đây có lẽ là dấu hiệu đầu tiên của sự hồi sinh trong tâm hồn Mị.Cô
bắt đầu nghe được âm thanh của sự sống và đang dần dần hoà nhập vào cuộc
sống.
Ngày Tết,”Mị cũng uống rượu. Rồi say,nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày
trước.Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng.” Mị nhớ lại “Ngày trước,Mị
thổi sáo giỏi.Mị uốn chiếc lá trên môi,thổi lá cũng hay như thổi sáo.Có biết bao
nhiêu người mê,ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.”Mị tự hào về tài năng của
mình,hãnh diện về một thời tươi đẹp xưa kia.Những cảm xúc trong tâm hồn Mị
đang hồi sinh.
Cứ như thế,”Mị ngồi xuống giường.Đã từ nãy,Mị thấy phơi phới trở lại,trong
bước đi”.Hành động này cho ta thấy tình yêu cuộc sống tự do,khát vọng về hạnh
phúc trong lòng Mị đang trỗi dậy mạnh mẽ ,không gì có thể dập tắt được.
Ở đoạn văn miêu tả diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân,ta thấy
nhiều lần Tô Hoài nhắc đến tiếng sáo.Vào một ngày Tết” Mị nghe tiếng sáo
vọng lại, thiết tha bổi hổi “Mị chợt nhận ra những đêm tình mùa xuân đã
tới.”Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”Chính âm thanh tiếng sáo dìu
dặt đã làm cho Mị nhớ lại “Ngày trước,Mị thổi sáo giỏi.Mị uốn chiếc lá trên
môi,thổi lá cũng hay như thổi sáo.Có biết bao nhiêu người mê,ngày đêm thổi
sáo đi theo Mị.”Lúc Mị muốn chết thì “Tiếng sáo gọi bạn yêu lửng lơ bay ngoài
đường”.Có lẽ tiếng sáo gọi bạn này đã tiếp thêm sức mạnh cho Mị hành
động.Mị chuẩn bị đi chơi khi “Trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo”.Khi bị A Sử trói
đứng ở cột nhà” Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa mị Mị đi theo những cuộc
chơi,những đám chơi”….Am thanh tiếng sáo vốn là biểu tượng của mùa xuân
,của tình yêu, của sự sống.Mị nghe được âm thanh này chính là Mị nghe được
âm thanh của cuộc sống,của hạnh phúc.
Trước đây, ta tưởng khát vọng sống đã tàn lụi và chết hẳn trong tâm hồn Mị.Thế
nhưng không!Ngọn lửa tình yêu cuộc sống,khát vọng về hạnh phúc tự do vẫn
âm ỉ cháy trong sâu thẳm tâm hồn Mị.Khi có điều kiện thuận lợi,ngọn lửa đó đã
được khơi dậy và bùng lên .Điều kiện đó chính là Mị đang sống trong một đêm
tình mùa xuân,mùa của sự sống căng tràn,mùa của tình yêu.Lúc đó âm thanh
tiếng sáo bồi hồi,tha thiết,lơ lửng luôn dập dìu vang lên mời gọi.Đã vậy lại thêm
có men rượu nồng nàn.Tất cả các yếu tố trên cùng cộng hưởng làm cho những
khát khao về hạnh phúc trong tâm hồn Mị hồi sinh và bùng lên mạnh mẽ.
Thế nhưng,thực tại phũ phàng đã bóp chết những khát vọng chính đáng đó.Bị A
Sử trói cả đêm bằng một thúng dây đay.Tay chân đau đến mức Mị không còn
nghe tiếng sáo nữa.Khát vọng về hạnh phúc một lần nữa bị dập tắt trong tâm
hồn Mị.Cô lại trở về với kiếp sống không bằng con trâu,con ngựa như xưa kia…
Mỵ sức sống bùng dậy mãnh liệt trong đêm giải cứu A Phủ
Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ
(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài).
cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng
sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi, rồi Mị uống rượu
và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời
rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột.
Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói"
được tâm hồn của một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm
ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng
mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một
đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.
Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết
về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp
tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một
luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng
cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác
phẩm ngời lên ở chỗ đó.
Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và
buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, vì
thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm
đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn
thản nhiên thổi lửa hơ tay "Dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại
sao Mị lại lãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết
là một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen với điều đó
nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ
rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại
đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt
lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ
cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen
lại". Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất
gần. Chính "dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong
lòng Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân
Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một
chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại.
A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể hình dung
được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm
câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống
tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm
nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của
bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu
năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu
năm câm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khao khát
sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình
cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân - hệ quả của
việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình. Thế là Mị và A
Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà
những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất
không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những
ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…
Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức
quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của mình. Mị cứu
A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích
trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi
nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm
thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng
bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và
ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn
sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân
lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó
dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật, tác phẩm này giúp ta
hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói
Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượngnhất đó chính là hình ảnh
của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũngcúi mặt, mắt buồn rười rượi". Đó là
tâm lý của một con người cam chịu,buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống
đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mịcó nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng
bức giữa Mị và A Sử.Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp
với một người màmình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy
quyền, thầnquyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa
condâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng,nhưng
thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làmMị đau khổ,
Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lángón kết thúc cuộc
đời mình. Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quenkhổ rồi". Chính vì thế Mị
đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình,trái tim của Mị dần chai sạn và
mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.
Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng củamột người yêu đời, yêu cuộc
sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sốngđen tối, đầy bi kịch. Điều đó đã
được thể hiện trong đêm mùa xuân.
Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triểntheo những cung bậc tình
cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậctrước. Ban đầu, Mị nghe tiếng
sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hátngười đang thổi, rồi Mị uống rượu
và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời
rồi Mị muốn đi chơi. Nhưngsợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột.
Thế nhưng sợi dây ấychỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói"
được tâm hồncủa một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm
ấy thật làmột đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình
sauhàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêmcô
vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.
Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đờitrâu ngựa. Thế nhưng viết về
vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổcái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro
tàn phủ khuất che lấp sức sốngtiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng
gió mạnh đủ sức thổiđi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy
là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ngườikia việc gì mà
phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”.Thật sự, chẳng có lí
do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chếtvì cái tội để mất một con bò!
Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh APhủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người
chết thay cho A Phủ trên cái cộttưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy
sợ, sự suy tưởng của Mị làcó cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một
con người yêu đời,yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình
yêuthành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khitrói
một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại khôngđối xử với
Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh”của A Phủ, tâm
trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với ngườicùng cảnh ngộ, Mị
nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúpMị nhận ra bọn lãnh chúa
phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước sốphận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A
Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đếncái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét
tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến vớihành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói
cho A Phủ. Đó là mộtviệc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp
với nét tâm lícủa Mị trong đêm mùa đông này.
Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờmình dám làm một
chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng“đi ngay” rồi Mị nghẹn lại.
A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứng lặngtrong bóng tối. Ta có thể hình dung
được nét tâm lí ngổn ngang trăm mốicủa Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm
câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủhay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống
tiềm tàng đã thôi thúcMị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm
nhưng Mị vẫn băngđi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của
bọn lãnh chúaphong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu
năm qua. Mịđuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu
nămcâm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khaokhát
sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biếtbao tình
cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân- hệ quả của
việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời củamình. Thế là Mị và A
Sức sống tiềm tàng của Mị
MB:
Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tô Hoài tính đến nay đã già nửa thế kỉ. Hơn 60
năm cầm bút ông là tác giả của hàng trăm đầu sách, hàng nghìn bài báo, thể loại
phong phú, đa dạng. Thế nhưng nhắc đến Tô Hoài ta ko thể quên đc tp "Dế mèn
phiêu lưu kí"- tp tiêu biểu trước Cách mạng tháng 8. Sau Cách mạng, Tô Hoài
lại nổi lên với tập truyện Tây Bắc mà linh hồn của nó là Vợ chồng A Phủ.
Những năm gần đây người ta lại xôn xao nhớ đến Tô Hoài với tp "Cát bụi chân
ai" Cho đến nay, "Vợ chồng A Phủ" vẫn là cái mốc thách thức với chính Tô
Hoài, truyện đc giải thưởng văn nghệ năm 1954-1955, một tp xuất sắc viết về đề
tài miền núi. Truyện xoay quanh cuộc đời của Mị- 1 cô gái Mèo nghèo khổ,
xinh đẹp, nết na được Tô Hoài xây dựng chân thực và sống động với sức sống
tiềm tàng bất diệt. Thông qua sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị, ngòi bút của
Tô Hoài đã bộc lộ là 1 ngòi bút nhân văn, nhân đạo sâu sắc và cao cả. Văn hào
Nga Sêkhốp đã từng nói: " 1 người nghệ sĩ chân chính phải là nhà nhân đạo từ
trong cốt tuỷ". Tô Hoài là 1 nhà văn như vậy.
TB:
a. Trước hết là phản ứng của Mị khi biết tin mình là con dâu gạt nợ cho nhà
thống lí Pá Tra
Như đã nói, Mị là 1 cô gái mèo xinh đẹp, nết na. Một người như Mị lẽ ra phải
được sống cuộc đời hp, nhưng trái lại, cô đã khổ từ trong trứng nước. Ngày xưa
khi cưới nhau đã ko có tiền, bố mẹ Mị đã phải vay của bố thống lí Pá Tra- tức
ông của A Sử 10 đồng bạc trắng, mỗi năm fải trả lãi 1 nương ngô. Cho đến nay
bố Mị đã già, mẹ Mị đã chết vậy mà món nợ ấy vẫn chưa trả được. Thống lí Pá
Tra đến gạ bố Mị gả Mị cho A Sử con trai hắn làm con dâu gạt nợ. Biết vậy, Mị
đã phản ứng lại ngay: "Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải ở nhà làm
nương ngô trả nợ cho người ta. Bố đừng bán con cho nhà giàu". Đây chỉ là 1
câu nói bình thường nhưng đã toát ra cả 1 con người. Đó là con người có sức
sống tiềm tàng bất diệt. Câu nói của Mị là 1 sự đánh tráo, đánh đổi: Mị thà ở
nhà lao động cực nhọc trên nương rẫy để được sống 1 cuộc đời hp trong tự do
nhưng nếu làm theo sức sống tiềm tàng đang trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng thì
Mị fải trà đạp lên chữ "hiếu", Mị ko thể giày xéo lên tình phụ tử. Vì chữ "hiếu"
Mị đành vứt nắm lá ngón, gạt nước mắt quay trở lại nhà thống lí. Nhà thống lí
Pá Tra ở Hồng Ngài chả khác nào thiên la địa võng, dấn thân vào đó là dấn thân
vào chỗ chết, vào địa ngục trần gian. Biết đc điều nàynhưng Mị vẫn chấp nhận
vì thương cha. Đọc đến đây ta nhớ đến bi kịch của Thuý Kiều hơn 200 năm
trước "bán mình chuộc cha". Hôm nay bi kịch ấy lại đổ dồn lên đôi vai gầy của
người con gái Mèo nghèo khổ. Giữa những năm đó, miền Bắc nước ta đang tiến
lên CNXH nhưng ánh sáng của Đảng chưa rọi tới cs của những người vùng cao.
Là 1 chiến sĩ trên diễn đàn văn chương, nói như HCM: "VH nghệ thuật là 1 mặt
trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy". Tô Hoài thông qua "vợ chồng A
Phủ" đem ánh sáng của Đảng rọi lên kiếp đời thổ ti lang tảo ở bản Mèo để "cứu
đất cứu Mường". Bđầu từ đây Mị sống khác hẳn, Mị ko khóc như trước nữa.
"Mị sống lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa", như cái bóng, cái xác vô hồn
trong địa ngục trần gian. Mị sống chẳng qua là kéo dài những ngày chưa chết
đc, điều này đã được Tô Hoài thể hiện ngay ở mươi dòng đầu câu chuyện với
những câu văn đầy tính tạo hình. Nhà văn đã dựng lên trước mắt chúng ta với
sức sống tàn fai, mai một: "Ai ở xa về có việc vào nhà thống lí Pá Tra cô ấy
cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi".
c.Tất cả những gì tưởng đã chết trong lòng Mị thì bây giờ lại được hồi sinh, hồi
sinh 1 cách chóng vánh khi mùa xuân đến.
Phải nói rằng những trang viết về mùa xuân là những trang tuyệt bút của nhà
văn Tô Hoài. Ta bắt gặp ở 1 nhà văn hiện thực lại có những trang văn lãn mạn.
"Vợ chồng A Phủ" xứng đáng là 1 minh chứng cho lời nhận định: "Văn học VN
gđoạn 45-75 có sự kết hợp hài hoà giữa 2 nhân tố hiện thực và lãn mạn". Nhưng
điều cta quan tâm hơn cả là ngòi bút tâm lí của nhà văn Tô Hoài khi mô tả sự
trỗi dậy sức sống tiềm tàng của Mị. Ông tỏ ra am hiểu những tâm lí phức tạp,
âm thầm trong tâm hồn người fụ nữ:
Đầu tiên là sự thay đổi bên ngoài. Năm ấy mùa xuân về sớm hơn mọi năm. Tô
Hoài mô tả những làn gió đem mùa xuân về trên khắp các bản làng. Những
để bù đắp những cay đắng trong hiện tại.
Mùa xuân năm ấy, khi sức sống tiềm tàng của Mị trỗi dậy, nhà văn Tô Hoài rất
khéo léo khi đưa bất cứ 1 hình ảnh nào đến với Mị thì hình ảnh ấy đều là chỗ
dựa cho sức sống của Mị trỗi dậy. Nhất là bữa cơm tất niên trong gđ nhà thồng
lí Pá Tra với hình ảnh của những người ốp đồng nhảy múa vui vẻ trong tiếng
nhạc sinh tiền càng làm cho lòng Mị trở nên rộn ràng, náo nức. Niềm rộn ràng,
náo nức ấy thực sự là nỗi thúc bách khi những người trong nhà thống lí mặc váy
áo mới đi chơi. Như vậy, sức sống tiềm tàng của Mị đã trỗi dậy, nó trở thành
đòi hỏi bên trong muốn cất cánh ra bên ngoài. Rồi Mị lén lấy hũ rượu, Mị uống
ừng ực từng bát, Mị uống như nuốt những tủi hờn, cay đắng vào trong ***g
ngực. Mị uống như nuốt hiện tại khổ đau để trước mắt Mị giờ đây chỉ còn là quá
khứ hp. Thế là Mị đang sống lại ngày trước với quãng đời thiếu nữ tự do, với hp
trongmối tình đầu. Việc làm tiếp theo của Mị khi cô bước vào căn buồng tăm tối
ấy là Mị xắn 1 miếng mỡ để vào trong đèn cho đèn sáng hơn. Đây ko còn là chi
tiết sinh hoạt nữa mà nó trở thành 1 chi tiết có chiều sâu nghệ thuật bởi trước
đây ko thiết sống nên căn buồng của Mị tăm tối, hôi hám, luộm thuộm, ẩm thấp,
bẩn thỉu Mị cũng chẳng bận lòng. Hnay thì khác, lòng yêu đời vừa mới trở về
với Mị. Mị muốn đời mình fải sáng sủa hơn. Thế nên hành động Mị xắn miếng
mỡ bỏ vào đĩa đèn cho đèn sáng hơn cũng đồng nghĩa với việc Mị thắp lên ngọn
lửa trong lòng mình. Mị thấy mình trẻ đẹp, Mị muốn đi chơi hội như bao người
đàn bà có chồng khác ở Hồng Ngài. Mị chuẩn bị, sửa soạn đi chơi. Mị tìm cái
váy hoa đẹp nhất của mình vắt tít trên vách. Khi 1 người đàn bà khổ đau sống
lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa, như cái bóng, cái xác vô hồn giữa địa
ngục trần gian bỗng 1 hôm thấy mình trẻ ra, đẹp hơn, muốn ăn mặc đẹp, đó là
dấu hiệu đầu tiên của sự tái xuân. Đó là lúc sức sống tiềm tàng trỗi dậy mạnh
mẽ nhất trong lòng Mị. Thế nhưng sức sống ấy đã bị dập tắt ngay lập tức, A Sử
đã vùi dập nó 1 cách fũ fàng, hắn trói Mị = 1 thúng dây đay từ chân lên đầu.
Chưa bao giờ Mị lại cảm thấy nhục nhã như thế, sự so sánh đã bắt đầu xuất hiện
trong Mị, Mị thấy mình ko bằng con trâu, con ngựa trong nhà thống lí Pá Tra,
khi mỏi còn đc đổi tàu, còn đc gãi chân, nhai cỏ, còn Mị khóc ko tự lau đc nước
là 2 người nô lệ giải thoát cho nhau, nương tựa vào nhau, trốn khỏi Hồng Ngài
đến Phiềng Sa.
KB:
Việc Mị giải thoát cho A Phủ có thể coi như 1 chiếc bản lề khép mở 2 thế giới.
Nó khép lại TG tăm tối với kiếp sống trâu ngựa, nô lệ ở Hồng Ngài, đồng thời
nó mở ra TG mới- TG tươi sáng ở phía Phiềng Sa. Với hành động này của Mị,
nó đã đưa "vợ chồng A Phủ" trở thành tp bản lề trên diễn đàn văn chương VN.
Nó khép lại những hạn chế của 1 dòng văn học hiện thực fê fán 1 thời. Nó mở
ra 1 hướng đi mới cho VH kháng chiến và đây nó trở thành mốc thách thức của
chính nhà văn Tô Hoài. Đến Phiềng Sa, Mị và A Phủ đã gặp được ánh sáng của
Đảng, gặp được cán bộ CM A Châu. Và 2 người đã tham gia CM, chỉ có CM
mới soi sáng được kiếp người trâu ngựa, nô lệ. Và cũng chỉ có Mị và A Phủ mới
là những người cách mạng trung kiên. Nói như nhà thơ Tố Hữu
"Đời CM từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là fải chịu khổ nhiều
Là gươm kề cổ, là súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn 1 nửa"
"Vợ chồng A Phủ" mô tả quá trình bừng thức, vùng lên của kiếp sống nô lệ này.
Ngòi bút của Tô Hoài đã thể hiện là ngòi bút nhân văn, nhân đạo sâu sắc và cao
cả. Và "vợ chồng A Phủ" mãi là bài ca ca ngợi tự do, lòng yêu đời.
Bài 2
I . ĐẶT VẤN ĐỀ .
Trước cách mạng tháng Tám, Tô Hoài nổi tiếng với tác phẩm Dế
mèn phưu lưu kí . Sau cách mạng tháng Tám và đi theo kháng
chiến, Tô Hoài tiếp tục khẳng định tài năng của mình bằng tập
Truyện Tây Bắc . Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công
nhất trong ba truyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc . Tác phẩm có
một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể . Truyện viết về cuộc
sống của người dân lao động vùng núi cao, dưới ách thống trị
tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi . Đặc biệt truyện
ngựa, “Con trâu con ngựa làm còn có lúc, đêm nó còn được
đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái ở cái nhà ngày thì
vùi vào việc làm cả ngày lẫn đêm” .
Song nhà văn xem ra vẫn thông cảm nhiều hơn với nỗi đau khổ
về tinh thần . Chính cảm xúc về nỗi đau thinh thần ấy đã giúp
ông sáng tạo ra những ngôn từ, những hình ảnh khó quên : Một
cô Mị mới hồi nào còn rạo rực yêu đương, bây giờ lạng câm ,
“lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” . Và nhất là hình ảnh căn
buồng Mị, kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, Mị ngồi
trong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không
biết là sương hay là nắng . Đó quả thực là một thứ địa ngục trần
gian giam hãm thể xác Mị, cách li tâm hồn Mị với cuộc đời, cầm
cố tuổi xuân và sức sống của cô . Rõ ràng tiếng nói tố cáo chế
độ phong kiến miền núi ở đây đã được cất lên nhân danh quyền
sống . Cái chế độ ấy đáng lên án, bởi vì nó làm cạn khô nhựa
sống, làm tàn lụi đi ngọn lửa của niềm vui sống trong những
con người vô cùng đáng sống .
Mị đã tùng muốn chết mà không được chết , vì cô vẫn còn đó
món nợ của người cha . Nhưng dến lúc có thể chết đi, vì cha Mị
không còn nữa thì Mị lại buông trôi , kéo dài mãi sự tồn taịi vật
vờ . Chính lúc này cô gái còn đáng thương hơn . Bởi muốn chết
nghĩa là vẫn còn muốn chống lại một cuộc sống không ra sống,
nghĩa là xét cho cùng, còn thiết sống . Còn khi đã không thiết
chết , nghĩa là sự tha thiết với cuộc sống cũng không còn, lúc
đó thì lên núi hay đi nương, thái cỏ ngựa hay cõng nước… cũng
chỉ là cái xác không hồn của Mị mà thôi .
Như vậy sức sống của Mị đã vĩnh viễn mất đi ? Không phải thế,
bên trong cái hình ảnh con rùa lầm lũi kia dang còn một con
người . Khát vọng hnạh phúc có thể bị vùi lấp , bị lãng quyên
trong đáy sâu của một tâm hồn đã chai cứng vì đau khổ, nhưng
nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết . Huống chi Mị và A
Sử, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” .
Nhưng tác nhân có tác dụng nhiều nhất trong việc dìu hồn Mị
bềnh bồng về với những khát khao hạnh phúc yêu đương có lẽ
vẫn là tiếng sáo bởi tiếng sáo là tiếng gọi của mùa xuân, của
tình yêu và tuổi trẻ . Tiếng sáo lúc đầu đã có tình cảm lắm,
nhưng còn vọng lại từ xa, mãi từ ngoài đầu núi, và Mị vẫn còn
đủ tỉnh táo để để nhẩm theo lời hát . ít lâu sau, tai Mị lại vẳng
tiếng sáo , nhưng không còn vẳng từ ngoài đầu núi xa nữa mà
là tiếng sáo gọi bạ đầu làng . Rồi đến lúc tiếng sáo không chỉ là
gọi bạn. Nó gọi bạn yêu . Và nó “lửng lơ bay ngoài đường” , như
tình ai không thể tan, như lòng ai đợi chờ, hờn trách . Để rồi
cuối cùng tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị, nó đã trở nên tiếng
lòng của người thiếu phụ .
Tô Hoài đã đặt Mị trong sự tương giao giữa một bên là sức sống
tiềm tàng với một bên là cảm thức về thân phận . Cho nên
trong thời khắc âý, ta mới thấy Mị đầy rẫy những mâu thuẫn .
Lòng phơi phới nhưng Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng ,
ngồi xuống giường, trông ra cái lỗ vuông mờ mờ trăng trắng .
Và khi lòng ham sống trỗi dậy thì ý nghĩ đầu tiên là được chết
ngay đi .
Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mãnh liệt của tuổi xuân cứ
lớn dần , cho tới khi nó lấn chiếm hẳn trọn bộ tâm hồn và suy
nghĩ của Mị, cho tới khi Mị hoàn toàn chìm hẳn vào trong ảo
giác : “Mị muốn đi chơi . Mị cũng sắp đi chơi” . Phải tới thời
điểm đó Mị mới có hành động như một kẻ mộng du : quấn lại
tóc , với thêm cái váy hoa, rồi rút thêm cái áo . Tất cả những
việc đó , Mị đã làm như trog một giấc mơ, tuyệt nhiên không
nhìn thấy A Sử bước vào, không nghe thấy A Sử hỏi “.
Rồi cái gì đến đã đến . A Sử trói Mị vào cột, rồi lẳng lặng khoác
Mị từ cõi quên trở về với cõi nhớ . Mị nhớ mình đã từng bị trói,
đã từng đau đớn và bất lực . Mị cũng đã khóc, nước mắt chảy
xuống cổ, xuống cằm không biết lau đi được . A Phủ, nói đúng
hơn là dòng nước mắt của A Phủ, đã giúp Mị nhớ ra mình, xót
thương cho mình .
Và đã nhớ lại mình, biết nhận ra mình cũng từng có những đau
khổ, mới có thể thấy có người nào đó cũng khổ giống mình . Từ
sự thương mình, Mị dần dần có tình thương với A Phủ, tình
thương với một con người cùng cảnh ngộ . Nhưng nó còn vượt