Học thuyết Chính danh của triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó tới Việt Nam - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI KIỂM TRA
MÔN TRIẾT HỌC
Đề bài:
Học thuyết Chính danh của triết học Nho giáo và ảnh hưởng
của nó tới Việt Nam
Giáo viên: Nguyễn Đình Tư
Học viên: Nguyễn Công Sỹ
Lớp: QLBVR K20A
Hà Nội, tháng 7 năm 2012
Nội dung
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TRƯỜNG PHÁI NHO GIÁO
1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội
- Trung Quốc là một quốc gia phương Đông điển hình, đó là một xã hội không có
hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, đặc biệt thể hiện rõ nét nhất là không có tư hữu về
ruộng đất. xã hội Trung Quốc cũng giống như nhiều xã hội khác ở châu á không hề
giống như một xã hội nô lệ và phong kiến phương Tây. Đặc điểm của xã hội ấy là công
hữu ruộng đất chiếm ưu thế, tàn dư công xã kéo dài, nền kinh tế - xã hội diễn ra với sự
cống nạp từ bên dưới và phân phối từ bên trên.
Nhà nước ra đời sớm do nhu cầu, đòi hỏi của lịch sử, mặc dù phân hóa giai cấp
chưa chín muồi.
Xã hội và quốc gia chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại được hình thành vào
khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước công nguyên. Lịch sử xã hội chiếm hữu nô lệ Trung
Quốc cổ đại là lịch sử đấu tranh tàn khốc giữa chủ nô và nô lệ, giữa tầng lớp thượng lưu
của xã hội chiếm hữu nô lệ với những người nông dân bị phá sản, bị nô dịch và phụ
thuộc. Giữa tầng lớp quý tộc gia truyền bị bần cùng hóa với những thương nhân và trọc
phú tiếm quyền. Những xung đột giai cấp trong quốc gia chiếm hữu nô lệ Trung Quốc trở
nên sâu sắc. Cuộc đấu tranh ấy để lại những dấu ấn rất nặng nề. Nó tạo tiền đề chính trị -
xã hội cho cuộc đấu tranh của các trường phái chính trị khác nhau rất đa dạng và phong
phú.

của ông về nhân, lễ, Chính danh và mối quan hệ giữa chúng.
Trong phạm vi tiểu luận này tôi chỉ xin đề cập đến học thuyết "Chính danh" của
Nho giáo. Tuy nhiên "Chính danh" không phải là học thuyết độc lập mà nó nằm trong
chỉnh thể đức trị (nhân - lễ - Chính danh). Có nhân và lễ thì mới có Chính danh. Và khi
có "Chính danh" thì chi phối cái nhân, lễ. Con người không có nhân và lễ thì không có
Chính danh. Vì vậy, trong quá trình phân tích học thuyết "Chính danh" chúng ta không
thể không đề cập đến "nhân" và "lễ".
II. NỘI DUNG HỌC THUYẾT CHÍNH DANH CỦA NHO GIÁO
1. Nội dung của học thuyết "Chính danh'
- Thời đại của Khổng Tử sống là thời đại "vương đạo" suy vi, "bá đạo" nổi lên
lấn át "vương đạo", chế độ tông pháp nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi. Đứng
trước tình hình đó các Nho gia có hoài bão về một chế độ phong kiến có kỷ cương, thái
bịnh và thịnh trị. Khi xét tư tưởng của Khổng Tử ta thấy có một quy tắc chính, một phát
kiến của ông đó là học thuyết "Chính danh".
"Chính danh" là tư tưởng cơ bản của chính trị Nho giáo nhằm đưa xã hội loạn trở
lại trị. Khổng Tử phản đối nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ
trương nhân trị.
Sự vật tồn tại khách quan, để biểu hiện nó phải dùng ngôn ngữ, cái ngôn ngữ để
biểu hiện đó là "danh". Danh đối lập với thực. Danh có nội hàm, sự vật luôn thay đổi nên
nội hàm của danh cũng luôn thay đổi. Nhưng ngôn ngữ lại có tính ổn định nên danh
thường lạc hậu hơn so với thực, không thay đổi kịp so với hiện thực, nhất là xã hội có
biến loạn. Nguyên nhân khiến cho xã hội loạn lạc là do "danh" không hợp với "thực", xã
hội đã xa rời đạo lý nhân nghĩa, kỷ cương phép nước bị đảo lộn. Muốn ổn định trật tự xã
hội, Khổng Tử chủ trương giáo dục chính trị đạo đức là "Chính danh, định phận".
Thực chất là mỗi người cần phải có phẩm chất tương xứng với vị thế xã hội của
anh ta và suy nghĩ, hành động tương xứng với vị thế ấy. Khổng Tử nói rằng: "Bất tại kỳ
vị, bất mưu kỳ chính" (không ở vị thế khác thì không mưu việc của người ở vị thế ấy). ở
đây cần nhìn vấn đề "Chính danh" từ sự quy định lẫn nhau giữa phẩm chất và năng lực
với vị thế xã hội, nghĩa là mọi vật cần hợp với cái danh nó mang. Mỗi cái danh đều bao
hàm bổn phận, trách nhiệm, những cá nhân mang danh ấy phải có trách nhiệm và bổn

dân, yêu nước. "Quân" lý tưởng ấy là địa vị chính đáng của vạn vật trong tự nhiên "như
sao bắc đẩu đứng ở vị trí của nó mà các sao khác đều hướng theo ". Còn chữ "danh"
trong xã hội là danh vị, hiểu theo ngôn ngữ ngày nay là cương vị và quyền hạn, còn chữ
"phận" có nghĩa là "phần", là "bổn phận" tức là gồm cả quyền lợi, nghĩa vụ, mọi mặt.
Trong quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chủ trương dùng đức trị, tức là người thống
trị tự lấy đạo đức của mình để cảm hóa người bị trị, làm cho họ không chống lại. Khác
với hình chính, đức trị không quan tâm đến sản xuất, đến chính sách, không dùng biện
pháp thưởng - phạt, mà chỉ cho rằng người thống trị chỉ cần có đạo đức là đủ, thậm chí
không cần cả đẳng cấp xuất thân của họ. Ông thường nói làm chính trị mà có đức nhân là
đã đứng vào vị trí của sao bắc đẩu, vị trí mà tất cả các ngôi sao khác phải hướng theo.
Theo ông đối với dân lòng tin là quan trọng nhất, sau đó mới đến lương thực và
những thứ khác. Vì vậy, nhà cầm quyền phải giúp cho dân giàu có, sau khi đã giàu có rồi
thì nhà cầm quyền phải giáo hóa dân. Và để làm được điều đó thì nhà cầm quyền phải
làm ba việc: - Đó là phân công cho người dưới quyền mình, họ làm xong phải xem xét
lại. Thứ hai là phải dung thứ cho những người phạm phải lỗi nhỏ. Thứ ba là phải đề cử và
dùng người hiền đức, tài cán ở đây quan niệm hiền tài của ông cũng khác: Hiền là có
năng (kỹ năng, kỹ nghệ), có nghệ (lắm tài ba)song ông quý đức hơn năng nghệ. Ông nói
người quân tử coi đạo là mục tiêu, nhân đức là chỗ dựa, còn nghệ chỉ là để chơi (chí ư
đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ). Như vậy, ở đây ta thấy Khổng Tử chỉ rõ nhà cầm
quyền để Chính danh thì phải có nhân và lễ, nhà cầm quyền phải có lòng thương người,
yêu người. Ông vua, kẻ sĩ lớn nhất cũng trước hết là từ chữ nhân mà trở thành ngôi sao
bắc đẩu để cai trị các sao khác hướng theo. Chữ nhân ở đây không bị giới hạn ở một cá
nhân nhất định mà từ trong mỗi cá nhân để đi ra nhân hóa xã hội. Người cầm quyền phải
biết phát hiện và sử dụng những người tài đức, giúp họ trở thành nhân, làm cho cái đẹp,
cái thiện trong mỗi người nảy nở, chớ không khơi dậy cái ác trong họ. Tựu trung lại theo
Khổng Tử, nhân là nền móng, là gốc từ đó nảy sinh ra các phẩm chất đạo đức khác. Vì
vậy, người nhân không thể không giữ lễ. ở trong mối quan hệ vua - tôi thì vua lấy "lễ" để
sai khiến bề tôi. Còn tôi đối với vua thì phải trung có nghĩa là phải trung thành, hết lòng,
thành tâm.
Trong mối quan hệ cha - con, thì cha từ, con hiếu. Hiếu ở đây chủ yếu được xét

phải hạ lệnh mọi việc vẫn tiến hành, thân mình mà không chính được thì dù có hạ lệnh
cũng chẳng ai theo". "Nếu thân mình mà chính được rồi thì đối với mọi việc chính sự có
còn gì khó. Không thể chính được thân mình thì chính người khác thế nào?
Khổng Tử khẳng định "để mang cái danh là vua, thì phải làm tròn trách nhiệm
của ông vua, nếu không sẽ mất cái danh và mất luôn cả ngôi.
Tóm lại, quy tắc Chính danh đưa tới quy kết: ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn
trách nhiệm, và ai giữ phận nấy, không được việt vị, nghĩa là không được hưởng những
quyền lợi cao hơn địa vị của mình. Khi Khổng Tử với tư cách một đại phu trí sĩ có trách
nhiệm khuyến cáo vua Lỗ trừng trị một nghịch thần của một nước bạn, và ông đã theo
"Chính danh" nghiêm cẩn làm tròn trách nhiệm đó. Còn Hoàn Tử đã tự ban cho mình cái
quyền dùng vũ "bát dật" mà chỉ thiên tử mới được dùng là trái với quy tắc Chính danh.
"Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính" là quan điểm quan trọng đối với Khổng Tử, ai giữ phận
nấy, cứ theo đúng tổ chức xã hội rất chặt chẽ, rất có tôn ti của chu công thì nước sẽ trị,
thiên hạ mới gọi là hữu đạo. Hay nói cách khác, mọi người phải trọng pháp điển, có tôn ti
không ai được việt vị (lễ). Người trên phải đính chính, làm tròn nhiệm vụ, yêu dân
(nhân), có tín đức thì mới Chính danh, đáng được dân trọng.
Như vậy, muốn cho xã hội khỏi loạn Khổng Tử đã đề ra học thuyết "Chính
danh", mà muốn Chính danh thì phải tôn trọng "lễ", và một người muốn Chính danh thì
phải có nhân.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT NHO GIÁO TỚI VIỆT NAM
- Đối với Việt Nam từ chính trị Nho giáo có ảnh hưởng rất quan trọng. Thực tế
xây dựng các triều đại phong kiến đã cho thấy điều đó, Nho giáo đã góp phần quan trọng
vào việc tổ chức đời sống - xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến một cách có nề
nếp, có quy chế, có kỷ cương. Nó đã có những đóng góp tích cực trong việc khuyên bảo,
dạy dỗ con người thương yêu đồng loại, quan hệ tốt với nhau. Sống yên vui, hòa thuận
với nhau. Nho giáo đặt giáo dục đạo đức để thuyết phục và cảm hóa lên trên chính trị và
hình phạt. Nho giáo tỏ rõ tinh thần tích cực đi vào đời sống xã hội, đứng ra đảm nhận
việc dân, việc nước nhằm thực hiện lý tưởng của mình ở khắp mọi nơi. Vì thế cho nên
Nho giáo thể hiện khá rõ chủ nghĩa nhân đạo và nó góp phần tích cực vào việc thúc đẩy
xã hội học tập. Và những ý nghĩa đó đến nay vẫn còn giá trị mà chúng ta vận dụng, phát

dân. Để làm được điều đó, nếu chúng ta vận dụng, phát triển học thuyết Chính danh của
Nho giáo ở những nhân tố hợp lý thì sẽ thu được hiệu quả rất cao. Chúng ta đang xây
dựng một trật tự kỷ cương trong xã hội: Đảng ra Đảng, Nhà nước ra Nhà nước, thủ
trưởng ra thủ trưởng, nhân viên ra nhân viên, không có sự lẫn lộn. Mỗi người, mỗi tổ
chức phải giữ đúng danh phận, chức trách của mình. Trước hết chúng ta phải xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh, có trí tuệ xứng đáng với vai trò lãnh đạo toàn xã hội. Muốn
xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, điều quan trọng nhất là mỗi cán bộ, đảng viên
phải gương mẫu trong sinh hoạt và công tác, không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, nói
đi đôi với làm, chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, kiên quyết khắc phục sự suy thoái đạo đức cũng như những tiêu cực
trong xã hội. Nói cách khác, người cán bộ, đảng viên phải thực hiện: cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tư (như Hồ Chí Minh đã vận dụng đề ra) để làm gương cho nhân dân
noi theo.
Đó là điều rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi tình trạng tham nhũng,
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng
viên là rất nghiêm trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn đối với lòng tin của nhân dân, với
Đảng, với chế độ mà nguyên nhân chính là việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương,
chính sách của Đảng chưa tốt, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm và tinh thần trách nhiệm
chấp hành của cán bộ và nhân dân chưa cao. Vì vậy, mỗi cán bộ, mỗi người đảng viên
phải xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, hay nói cách khác là phải "Chính danh,
định phận" để góp phần đề ra chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tế và quyết
tâm thực hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
- Trong giai đoạn hiện nay, nếu chúng ta vận dụng học thuyết "Chính danh" để
xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có vị trí xứng đáng với tài năng của mình,
thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động và năng suất lao động xã
hội sẽ ngày càng cao hơn. Thực tế hiện nay ở các cấp, các ngành vẫn còn tồn tại một đội
ngũ cán bộ kiêm chức khá đông, mà theo như Khổng Tử nói "danh không chính thì ngôn
không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành ". Cho nên hiệu quả công việc
không cao, tình trạng ỷ lại cho nhau vẫn còn mà cụ thể nhất là vấn đề chịu trách nhiệm
trước công việc chung. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ chúng ta phải coi trọng tài năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status