Trong nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, việc phân loại là vấn đề khó nhất và cũng còn
nhiều ý kiến trái ngược nhau nhất. Bởi lẽ phân loại khoa học là một trong những bước đầu
tiên của việc miêu tả khoa học. Việc nghiên cứu phân tích tài liệu tiếp theo đó có chính xác
hay không là phụ thuộc vào viêc phân loại tài liệu có chính xác hay không. Cấp phân loại đầu
tiên là phân loại theo thể loại.
Trong văn học dân gian Việt Nam, có không ít tác phẩm bị phân làm hai ba thể loại. Ví như,
đã từ lâu, truyện Sơn Tinh Thủy Tinh được nhận diện vừa thuộc thể loại thần thoại vừa là một
câu chuyện truyền thuyết.
Thuộc thể loại thần thoại, truyện Sơn Tinh Thủy Tinh được nhận diện theo hai tiêu chí vể nhân
vật và đề tài. Nhân vật chính ở đây là bán thần tức là con người được thần thánh hóa. Đề tài
chính là hoạt động chính của hai vị thần tượng trưng cho hai sức mạnh tự nhiên. Bởi lẽ nội
dung chính của truyện này là nhằm giải thích hiện tượng lũ lụt xảy ra hàng năm ở lưu vực
sông Hồng – đó là một vế trong định nghĩa về thần thoại được nhiều người thừa nhận là
‘’thần thoại nhằm lý giải các hiện tượng tự nhiên’’. Song ở đây, hiện tượng này không được
lý giải bằng những tri thức của khoa học tự nhiên mà bằng sự tưởng tượng về cuộc đánh nhau
vì một vị hôn thê giữa hai vị thần tượng trưng cho hai sức mạnh tự nhiên là Núi và Nước. Có
thể căn cứ vào một đặc điểm nữa là đặc điểm vể thới gian nghệ thuật. Trong thần thoại thời
gian nghệ thuật là quá khứ khởi nguyên, nghĩa là quá khứ khởi đầu của mọi hiện tượng tự
nhiên. Và truyện đã có kiểu kết thúc bằng mệnh đề thời gian quá khứ khởi nguyên như ‘’Từ
đó, oán nặng, thù sâu, hàng năm Thuỷ Tinh làm mưa gió, bão lụt dâng nước đánh Sơn Tinh’’.
Thuộc thể loại truyền thuyết, truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh được đặt trong chùm truyển thuyết
về các vua Hùng trong đó có mặt Hùng Vương thứ 18, bên cạnh đó còn nhiều truyện khác về
Sơn Tinh như Tản Viên Sơn Thánh, Tản Viên đón vợ, Sơn Tinh đánh giặc, Sơn Tinh dạy dân
săn bắn, Sơn Tinh trị thuỷ… Cả thời gian và không gian trong truyện đều được xác định cụ
thể nhằm đáp ứng chức năng cơ bản của thể loại truyền thuyết là giáo dục ý thức cộng đồng,
người kể truyền thuyết thường có xu hướng cố làm cho người nghe tin vào điều được kể ra.
Như vậy, đối với những tác phẩm giao thoa thể loại, như các truyện về Sơn Tinh và Thuỷ
Tinh, ở từng tác phẩm cụ thể sưu tầm được ở địa phương cụ thể nào đó , cần phải xem xét
‘’tính trội’’ thuộc về thể loại nào để qui định thể loại cho nó.
Bất cứ một hiện tượng, một quá trình nào nằm trong chu trình phát triển đều có sự chuyển tiếp
từ cái cũ lên cái mới, từ tầng thấp hơn lên bậc cao hơn. Và trong sự chuyển đổi đó bao giờ
mẹo lừa và sự mắc lừa, sự thành công và sự thất bại của hai hạng người mang danh động vật
đó.
Trong tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ có loại đề tài – cốt truyện về nhân vật bất hạnh người
em út và trong đó thảng hoặc có hiện tượng giao thoa giữa tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ với
tiểu loại truyện cổ tích thế tục. Thuộc về những nhân vật thấp hèn bất hạnh trong thời kỳ mà ở
các tộc người sự tan rã của chế độ thị tộc mẫu hệ cổ điển đã trở thành sự tan rã của toàn bộ hệ
thống chế độ thị tộc nói chung, người mồ côi cùng người em út con út, người con riêng bị rơi
vào địa vị nghèo khổ bị đọa đày đã được lý tưởng hóa. Nhân vật người em út trở thành nhân
vật chính của loại truyện cổ tích thần kỳ xuất hiện ở giai đoạn xã hội tư hữu tư nhân. Về kết
cấu, đề tài - cốt truyện này thường gồm bốn sự kiện chính: tình cảnh ban đầu của hai anh em
với sự kiện bố mẹ chết cả (hoàn cảnh hai anh em mồ côi cha mẹ); việc chia gia tài giữa hai
người: người anh tìm cách chia một phần nhỏ cho em hoặc chiếm đoạt hết tài sản đuổi em ra
ở riêng (có chia và không chia gia tài); hoàn cảnh sống của người em sau khi chia gia tài ra ở
riêng (khốn cùng); người em gặp được thần linh / lực lượng thần kỳ giúp đỡ đưa đi lấy vàng
bạc sống giàu có hạnh phúc (người em trở nên giàu có như thế nào ?); người anh thấy em
giàu có tìm cách gạ đổi gia tài bắt chước em lặp lại sự việc (gạ gẫm đổi chác); người anh gặp
được nhân vật trợ thủ thần kỳ và cũng được dẫn đi lấy vàng bạc nhưng cuối cùng người anh
tham lam bị trừng phạt ra sao / thiệt mạng / hóa thành thú vật hoặc người anh được tha mạng
(bắt chước không thành công / bắt chước thất bại), và kết thúc truyện người em được hưởng
hạnh phúc. Các môtip được thấy phổ biến trong loại đề tài - cốt truyện này là: môtip nhân vật
trợ thủ thần kỳ, môtip bắt chước không thành công. Truyện thường đưa ra những tình thế
tương phản nhằm khắc họa rõ những nét tính cách đối lập nhằm tạo nên mâu thuẫn dẫn dắt
câu chuyện một cách hợp lý: người em nghèo nhưng lại không thiết tha đến của cải, còn
người anh giàu có thì lại tham lam vô độ. Nhằm biểu hiện những mâu thuẫn và những sự phức
tạp của cuộc sống, tác giả dân gian thường sử dụng thủ pháp nghệ thuật đắc dụng “nhắc lại”.
Sự nhắc lại có tác dụng nêu bật tâm lý của nhân vật này bằng cách đối chiếu tâm lý với nhân
2
vật khác. Đặt vào hoàn cảnh như nhau, người anh đã hành động trái ngược hẳn với người em,
một đằng thì giả dối tham lam, một đằng thì thực thà trung hậu và cũng từ đó khiến nổi rõ tính
cách, phẩm chất, đạo đức của hai nhân vật đối lập, qua đó làm nổi bật phẩm chất của người
gia đình nọ cha mẹ mất cả, chỉ còn lại hai chị em gái…. Người chị thì tham lam độc ác còn
cô em rất thật thà đôn hậu. Người chị đã có chồng ra ở riêng cho nên của cải cha mẹ để lại
bao nhiêu đều chiếm hết, mặc cho em gái sống nghèo nàn túng thiếu”. Trường hợp này có thể
xảy ra trong gia đình mẫu hệ truyền thống Chăm một khi nhân vật người chị có dã tâm lấn
lướt người em gái út – thường được đặc biệt nhận nhiều tài sản thừa kế hơn cả vì người con
gái út sẽ ở với cha mẹ và có trách nhiệm nuôi cha mẹ lúc già yếu. Còn trong truyện Cađốp và
Cađoéc / Chàlúc - Chàlắc, việc thừa kế tài sản được kể như sau: “Một phú ông chết để lại
cho hai con trai gia tài khá lớn. Lúc em Cađoéc đi chôn bố thì anh là Cađốp giấu tất cả vàng
bạc. Em về hỏi: “Vàng bạc của cha đâu ?” Đáp: “Không biết”.Thấy em không nói gì, Cađốp
còn lấn tới: “Của cha mẹ chỉ có cái nhà này, tao có vợ con, mày chưa có gì, mày hãy nhường
cho tao, đi ở chỗ khác”. Nói rồi chiếm lấy tất cả, chỉ chia cho em một con chó, một con mèo
và một mảnh ruộng hoang”.
Đối chiếu so sánh hai truyện trên, ta thấy chúng đều có những tình tiết / chi tiết giống nhau
mang tính điển hình như: cả hai gia đình đều mất cha mẹ chỉ còn lại hai chị em gái hoặc hai
anh em trai trong đó cả hai nhân vật người chị và người anh đều có gia đình đã hoặc đang có
3
ý định ra ở riêng tách biệt với người thân ruột thịt - em gái út / em trai út, với cùng một ý đồ
lấn lướt chiếm đoạt hết hoặc phần lớn tài sản thừa kế của cha mẹ để lại. Tuy nhiên, cả hai
truyện lại có kết thúc không giống nhau, truyện Đáng đời kẻ gian tham kết thúc có hậu và
truyện Cađốp và Cađoéc / Chàlúc - Chàlắc kết thúc không có hậu. Hiện tượng phân chia tài
sản tất yếu xảy ra trong quá trình hình thành và phát triển của cấu trúc tiểu gia đình / gia đình
riêng đang dần tách khỏi gia đình lớn mẫu hệ. Đó là quá trình đấu tranh giằng co, là sự loại
trừ và níu kéo lẫn nhau giữa một bên là sự bảo thủ vốn có của đại gia đình và một bên là sự
phát triển tất yếu của kinh tế, của toàn bộ xã hội. Khuynh hướng muốn tích lũy tài sản riêng
dần dần dẫn đến tư hữu luôn đấu tranh với tính thống nhất về huyết thống, truyền thống đoàn
kết với chủ nghĩa bình quân trong kinh tế đại gia đình. Và hai hình tượng nhân vật phản diện
điển hình là người chị và người anh ấy đã được tác giả dân gian Chăm khắc họa một cách tận
cùng và thật rõ nét với thói tham lam, gian trá, giảo hoạt, mất hết nhân cách. Họ đã vì tham
lam mà đẩy em mình vào chỗ cơ cực, đói rét… Các nhà cổ tích học cho đấy là sự xung đột
giữa thành viên “trưởng” với thành viên “thứ” trong gia đình và trong thị tộc, là sự xung đột
cảm của con người trong lao động. Ở những giai đoạn sớm của lịch sử phát triển của văn học
dân gian, yếu tố nhịp điệu đóng vai trò quan trọng hơn xúc cảm của con người . Nhưng trong
tiến trình xã hội yếu tố xúc cảm dãn nở dần và có khi lấn át yếu tố nhịp điệu (tức chức năng
phối hợp lao động). Chúng ta có thể hình dung quá trình vận động giữa chức năng phối hợp
4
lao động và chức năng giao lưu tình cảm giữa những người lao động với nhau qua trình tự
tiến triển của cuộc hò lao động giã gạo của một đôi nam và nữ thanh niên nông thôn sau đây :
A : ký hiệu về chức năng phối hợp lao động ;
B : ký hiệu về chức năng giao lưu tình cảm ;
Trình tự tiến triển này gồm ba giai đoạn cơ bản như sau :
Ở giai đoạn 1 : A > B (giã lúa thành gạo là chính) ;
Ở giai đoạn 2 : A = B (vừa giã lúa vừa trao đổi giao lưu tình cảm) ;
Ở giai đoạn 3 : A < B (lúa đã hết nhưng vì nhu cầu giao lưu tình cảm tiếp nên đôi bạn khác
giới mới quen nhau bỏ vỏ trẩu vào cối để lấy cớ / mượn mội trường lao động hầu được giao
lưu tình cảm tiếp).
Đây là tường hợp vượt khung điển hình trong dân ca lao động có nội dung chuyển tiếp / giao
thoa qua dân ca sinh hoạt giao duyên.
Qua các trường hợp vượt khung / giao thoa được dẫn ra trên đây, chúng tôi thiết nghĩ cần
quan tâm hơn nữa việc đưa vào nội dung giảng dạy môn văn học dân gian Việt Nam hiện nay
nguyên tắc phân loại tác phẩm theo thể loại dựa vào các tiêu chí về chức năng thể loại và
những đặc trưng thi pháp của thể loại. Và một khi đưa ra đúng cách lý giải xác hợp và thỏa
đáng trong những trường hợp có hiện tượng vượt khung / giao thoa ở những tác phẩm cụ thể
thì ắt hẳn người giảng viên có thể giúp cho sinh viên nắm vững được nguyên tắc phân loại
cùng những tiêu chí phân loại tác phẩm văn học dân gian Việt Nam.
Tháng 05-2008
So sánh kiểu truyện "người lạc cõi tiên" trong văn học Việt Nam với tiểu thuyết cứu Vân
Mộng (Hàn Quốc)
PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn
Phòng Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học
1. Trước hết chúng tôi cần giới thuyết kiểu truyện "người lạc cõi tiên" theo một nghĩa
"người lạc cõi tiên" cũng có sự vận động và biến đổi theo thời gian. Theo tiến trình văn học
sử Việt Nam, có thể thấy kiểu nhân vật "người lạc cõi tiên" xuất hiện gắn với hai thể loại
chủ yếu là Ghi chép truyện cổ tích, truyền thuyết, nhân vật lịch sử và Truyện truyền kỳ
2.1. Loại truyện ghi chép truyện cổ tích, truyền thuyết và nhân vật lịch sử phát triển mạnh
dưới thời Lý - Trần (Thế kỷ X-XIV), có ý nghĩa đặt nền móng cho nền văn học dân tộc. Có thể
kể đến ba tác phẩm tiêu biểu là Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và Thiền uyển tập anh.
Tác phẩm Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên được biên soạn xong vào năm Khai Hựu
nguyên niên (1329) viết về "lịch đại quân nhân" (vua các đời), "lịch đại phụ thần" (bề tôi các
đời), "hạo khí anh linh" (sự tích linh thiêng). Liên quan đến mẫu hình "người lạc cõi tiên" có
Việt Vương khi cùng đường: "Thoạt thấy Rồng vàng rẽ nước thành đường đi, dẫn nhà vua vào
trong nước, rồi thì nước lấp lại như cũ" (Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế); việc Sơn Tinh đưa lễ
vật đến trước, lấy được Mị Nương và đưa vợ về núi Lôi Sơn đã khiến: "Thủy Tinh cả giận đem
quân chúng đuổi theo nàng, muốn đạp nát núi Lôi Sơn. Vương liền dời lên ở trên tuyệt đỉnh núi
Tản Viên, đời đời là kẻ cừu thù với Thủy Tinh. Cứ mỗi năm, Thủy Tinh đưa nước mùa thu dâng
tràn lên để tiến kích vào núi Tản Viên. Dân chúng đem nhau đắp đê đắp bờ để giúp Vương.
Thủy Tinh không thể nào xâm phạm tới được" (Sơn Tinh, Thủy Tinh); hoặc như Sóc Thiên
Vương sau khi đánh tan quân giặc cũng bay về cõi trời: "Ngài bèn phi ngựa đến núi Vệ Linh,
leo lên một cây đa, rồi bay vút lên trời, có để lại áo và dấu tích, ngày nay vẫn còn. Bây giờ
người trong làng vẫn gọi là cây Đổi Áo" (Chuyện Sóc Thiên Vương)
(3)
Nhìn chung, các nhân
vật mới đi đến một cõi khác chứ chưa được mô tả họ đang sống ở chính cõi đó như thế nào.
Tác phẩm Lĩnh Nam chích quái liệt truyện do Vũ Quỳnh (1453-1516) kế thừa và hoàn
chỉnh văn bản gồm 22 truyện, chủ yếu là những dã sử, truyện dân gian. Liên quan đến mẫu hình
"người lạc động tiên" có truyện Tiên Dung - Chử Đồng Tử: "Bấy giờ những dân cư mới tới đều
sợ chạy tứ tán, chỉ có dân cũ ở lại cùng Tiên Dung. Khi quân Hùng Vương đến, đóng doanh trại
ở châu Tự Nhiên, còn cách một con sông lớn thì gặp trời tối, chưa kịp tiến quân. Đến nửa đêm,
bỗng nổi gió to, nhổ cây tung cát, quân Hùng Vương hỗn loạn. Tiên Dung, Chử Đồng Tử cùng
quần thần, bộ hạ, thành quách phút chốc bay lên trời. Chỗ đất cũ sụt xuống thành cái chằm lớn.
Ngày hôm sau dân chúng nhìn không thấy nữa, cho là linh dị, liền lập miếu thờ, thường xuyên
cho cây tích trượng, sau đó sinh ra ông"
(5)
Với phong cách viết truyện tiểu sử các thiền sư,
những chi tiết trong các giấc mơ và cuộc sống tu hành đặc biệt khác lạ cho thấy những dấu ấn
của tư duy Phật giáo mang màu sắc Mật tông và ảnh hưởng xa gần của tư tưởng Đạo giáo.
Nhìn chung, kiểu truyện "người lạc cõi tiên" qua ba tác phẩm thời Lý - Trần nêu trên chủ
yếu mới là những phác thảo cô đúc, những chi tiết ngắn gọn thoáng qua. Tất cả để nói rằng
những nhân vật đó có những phẩm chất kỳ lạ, gắn làm một với những giấc mơ lạ. Bản thân các
nhân vật chưa thành một khách thể, chưa có không gian riêng để tồn tại và hoạt động trong cõi
mơ, cõi lạ. Nói cách khác, nhân vật có xu thế đồng nhất, nhất thể hóa và vĩnh cửu hóa trong
không gian của cõi mơ, cõi lạ.
2.2. Các tác phẩm thuộc thể loại truyện truyền kỳ phát triển mạnh từ khoảng cuối thế kỷ
XV - đầu thế kỷ XIX. Có thể kể đến các tác gia tiêu biểu như Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ,
Đoàn Thị Điểm, Phạm Quý Thích Ở đây chỉ đi sâu khảo sát tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ và Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm.
Tập truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Thế kỷ XVI) gồm 4 quyển, 20 truyện.
Những truyện có kiểu nhân vật phiêu du đến một cõi khác lạ có thể kể đến Hồ Tông Thốc khi đi
sứ mơ gặp và phê phán mạnh mẽ Hạng Vương (Câu chuyện ở đền Hạng Vương); Phùng Trọng
7
Quỳ khi nằm ngủ đã mơ gặp và trò chuyện với vợ là Nhị Khanh đã chết từ lâu (Chuyện người
nghĩa phụ ở Khoái Châu); Dương Đức Tạc khi bất tỉnh thấy mình lạc cõi trời, sau được Thượng
đế sai gã trà đồng thác sinh làm con mình (Chuyện gã trà đồng giáng sinh); một người họ Trịnh
được thần Bạch Long Hầu dẫn xuống Long cung gặp Long Vương và đòi được vợ (Chuyện đối
tụng ở Long cung); chàng Ngô Tử Văn xuống cõi âm gặp Diêm Vương để kể tội viên Bách bộ
họ Thôi (Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên); Từ Thức cáo quan về ở ẩn rồi lạc vào nơi suối
Sậu nguồn Đào, được sống yên bình giữa cõi tiên, đến khi trở về cố hương thì thời gian đã trôi
qua 80 năm (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên); Phạm Tử Hư có lần được vong hồn thầy Dương
Trạm đưa du chơi trên Thiên Tào, biết được quang cảnh và gặp được nhiều bậc hiền tài thuở
trước (Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào); người họ Hoàng lấy hồn ma nàng Nghi Thị,
sau bị bắt xuống cõi âm cho Diêm Vương tra xét (Chuyện yêu quái ở Xương Giang); người họ
thứ nhất (1735) mới về báo mộng và đưa một người tú tài lên chơi cung Tử Thanh trên chín
tầng trời, cách nhân gian 80 vạn dặm (Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu)
Với những mức độ khác nhau, kiểu nhân vật "người lạc cõi tiên" đã xuất hiện trong Truyền
kỳ mạn lục và Truyền kỳ tân phả với một số lượng đông đảo, thời gian lưu lạc cũng kéo dài hơn,
8
cuộc sống riêng được mô tả cụ thể hơn, số lần đi - về từ cõi trần đến cõi xa lạ cũng nhiều hơn
hẳn.
2.3. Trong văn học trung đại Việt Nam, mẫu hình nhân vật "người lạc cõi tiên" phát triển
chủ yếu trong các thể văn ghi chép truyện cổ tích, truyền thuyết, nhân vật lịch sử và truyện
truyền kỳ Do tính chất đan xen thể loại, ngay các tập truyện ký vốn nghiêng về ghi chép
chuyện người thật việc thật cũng xuất hiện nhiều sự kiện, chi tiết, yếu tố liên quan đến các giấc
mơ và kiểu nhân vật "người lạc cõi tiên". Một số thiên truyện khác như Hoa viên kỳ ngộ tập có
tính phóng tác, tập cổ (Khuyết danh, thế kỷ XVIII), Đào hoa mộng ký (còn gọi Đào hoa mộng
ký tục Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Đăng Tuyển (Thế kỷ XIX) và các bộ tiểu thuyết
chương hồi cũng đều có sử dụng hình ảnh những điềm lạ, những giấc mơ lạ và chuyện người
lưu lạc đến chốn xa lạ, hoang đường. Không thấy có những tác phẩm trường thiên viết riêng về
nhân vật phi thường và những chuyến du ngoạn đến cõi thần tiên kỳ ảo.
3. Tương đồng với kiểu nhân vật "người lạc cõi tiên" trong văn xuôi Việt Nam thời trung
đại song tác phẩm Cửu vân mộng (Giấc mơ chín tầng mây) của nhà văn Kim - Man - Chung
(Kim Vạn Trọng, 1637-1692) lại có qui mô to lớn, đạt đến sự đa dạng, phong phú cả về số
lượng nhân vật, nội dung hiện thực, thời gian và không gian nghệ thuật. Điều may mắn là tiểu
thuyết cổ điển nổi tiếng Hàn Quốc này đã vừa được dịch và đến với đông đảo bạn đọc Việt
Nam
(7)
.
Với Giấc mơ chín tầng mây, Kim Vạn Trọng dẫn dắt nhân vật Dương Thiếu Du từ cõi thực
đi vào cõi mộng, lạc vào cõi tiên, đầm Bạch Long, hồ Động Đình, cung Thúy Vi và gặp các bậc
vua chúa, đạo sĩ, thiền sư, tiên nữ. Trong cuộc ngao du khắp chốn Bồng Lai tiên cảnh, nhân vật
chính có dịp trải nghiệm và chiêm nghiệm mọi buồn vui của kiếp con người, thấy rõ mọi sự
giàu sang, quan cao lộc hậu cũng chỉ như đám mây nổi và giấc mơ hư ảo. Cho đến đoạn kết,
(9)
Điều
này cho thấy kiểu nhân vật "người mộng du", "người lạc cõi tiên" đều xuất hiện tương đối sớm
trong nền văn học trung đại cả ở Hàn Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, trong khi kiểu nhân vật
này ở Việt Nam chủ yếu dừng lại ở các thể văn xuôi đoản thiên, các tác phẩm ghi chép truyện
cổ tích, truyền thuyết, nhân vật lịch sử và truyện truyền kỳ thì trong văn học Hàn Quốc, chúng
lại có điều kiện phát triển thành tiểu thuyết, bao quát nội dung hiện thực phong phú và một hình
thức nghệ thuật sinh động.
Nhìn rộng ra, bên cạnh hệ thống văn liệu có nguồn gốc từ sách Hán cổ nói trên, sau Kim
Vạn Trọng hơn một thế kỷ, nhà văn Trung Hoa Lý Nhữ Trân (1763-1830) đã viết Kính hoa
duyên (Mối duyên hoa trong gương) dài tới 100 hồi
(10)
cùng theo một phong cách và hình thức
của Cửu vân mộng Nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu nhấn mạnh: "Tác phẩm được đánh giá là
kết hợp khéo léo đặc trưng của nhiều loại tiểu thuyết, từ tiểu thuyết huyễn tưởng, tiểu thuyết
lịch sử, tiểu thuyết châm biếm đến tiểu thuyết du ký"
(11)
Các học giả Trung Quốc cũng xác
định đây là tác phẩm "xuất sắc nhất" trong nền tiểu thuyết khoảng hai mươi năm đầu thế kỷ
XIX (niên hiệu từ Gia Khánh đến Đạo Quang): "Tác phẩm này thông qua việc miêu tả thế giới
hải ngoại ảo tưởng, vạch trần và châm biếm xã hội hiện thực đen tối bất công, nhằm gửi gắm lý
tưởng xã hội kiểu không tưởng, có nhân tố tư tưởng dân chủ", đồng thời tầm quan trọng của
việc xuất hiện Kính hoa duyên cũng được ghi nhận trong phần Niên biểu những sự kiện lớn của
văn học Trung Quốc
(12)
4. Kết luận
Đặt trong phối cảnh rộng lớn của truyền thống văn hóa phương Đông có thể nhận thấy mẫu
hình nhân vật "người lạc cõi tiên" có nguồn gốc từ kho văn liệu cổ Trung Hoa và hệ thống văn
học dân gian của các nước trong khu vực. Khảo sát riêng trong nền văn học trung đại sẽ thấy