BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
Đề tài:
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA ĐẦU NĂM 2014
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Lớp HP : 210707101
Sinh viên thực hiện : Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng
MSSV : 11065151 (DHQT7B)
TP.Hồ Chí Minh, Tháng 06 năm 2014
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
Đề tài:
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA ĐẦU NĂM 2014
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Lớp HP : 210707101
Sinh viên thực hiện : Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng
MSSV : 11065151 (DHQT7B)
TP.Hồ Chí Minh, Tháng 06 năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tiểu luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
• Ban Giám Hiệu trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh vì đã tạo điều
kiện về cơ sở vật chất với hệ thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách thuận lợi
cho việc tìm kiếm thông tin.
Chuyên đề môn học GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
PHẦN MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xuất nhập khẩu là một trong những ngành mũi nhọn của nước ta trong giao thương với
quốc tế, đem lại lợi nhuận lớn hàng năm. Hiện nay Việt Nam đã mở rộng được quan hệ với
rất nhiều đối tác như Anh, Mỹ, Nhật Bản… Các mặt hàng chủ lực như như lúa gạo, thủy
sản, cà phê… vẫn được ưa chuộng cộng với sự gia tăng về số lượng của các mặt hàng điện
thoại và các loại linh kiện, phương tiện vận tải trong những năm gần đây cho thấy sự tăng
trưởng tốt trong ngành.
Ngành thủy sản trong những năm gần đây (2013 - 2014) cũng có những tăng trưởng rõ rệt.
Tuy nhiên vấn đề Biển Đông trong vài tháng trở lại đây rất có thể sẽ ảnh hưởng tới sản
lượng ngành trong thời gian tới. Báo cáo sơ bộ tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của
Việt Nam trong nửa đầu năm 2014 của Tổng cục thống kê cho thấy kim ngạch xuất khẩu
của ngành đạt 2.537 triệu USD, tăng 601 triệu USD, tương đương 31,1 % so với cùng kỳ
năm ngoái cho thấy vẫn có sự tăng trưởng tốt của thủy sản.
Hiện nay, đẩy mạnh xuất nhập khẩu đang là lối đi chính của nước ta trong những năm gần
đây. Tuy nhiên để đảm bảo giữa tăng trưởng và bền vững của ngành thì thật sự còn khá
nhiều khó khăn, bất cập. Vì lẽ đó tôi chọn ngành thủy sản và môn học xuất nhập khẩu trong
đề tài “Tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn nửa đầu năm 2014” với hy vọng sẽ
phần nào làm rõ những vấn đề trên.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục đích của việc thực hiện đề tài này, trước hết là để hiểu rõ hơn về nội dung môn học,
giúp tôi có điều kiện thực tế để vận dụng chúng một cách có hiệu quả, phân tích được tình
hình hiện nay của ngành thủy sản Việt và đề xuất những giải pháp hợp lí.
Những mục tiêu mà tôi mong muốn đạt được:
• Mục tiêu 1: Hoàn thành chuyên đề mang tính thực tế, phản ánh đúng thực trạng
nghiên cứu.
• Mục tiêu 2: Vận dụng những kiến thức của môn Quản trị Xuất nhập khẩu đã được
giảng dạy để nghiên cứu và tìm hiểu tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
• Mục tiêu 3: Đưa ra những kiến nghị và đề xuất về các vấn đề gặp phải trong quá
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU
1.1.1 Ý nghĩa của môn học quản trị xuất nhập khẩu
Xuất nhập khẩu là hoạt động mũi nhọn của quốc gia, giúp khai thác hiệu quả lợi thế của đất
nước, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân. Nó còn giúp thúc đẩy phát triển quan hệ
đối ngoại với nhiều nước, giúp chuyển giao vốn và công nghệ vào trong quốc gia, phát triển
trình độ sản xuất cả doanh nghiệp và lao động, tạo ra việc làm, kinh nghiệm… Và còn nhiều
lợi ích khác. Đất nước muốn phát triển phải mở rộng ngoại thương, giao dịch xuyên biên
giới. Công cụ để thực hiện điều đó chính là xuất nhập khẩu.
Vì những vai trò to lớn trên cho thấy việc nghiên cứu và vận dụng môn học Quản trị xuất
nhập khẩu vào thực tiễn là hết sức cần thiết, cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của bộ
môn. Chính vì vậy, tất cả các nhà quản trị đều phải nghiên cứu quản trị xuất nhập khẩu. Đây
là một môn học mà không thể thiếu trong các trường kinh tế, quản trị kinh doanh trong
nhiều nước trên thế giới.
1.1.2 Mục đích môn học
- Nghiên cứu chủ yếu vào các quy trình, thủ tục, những quy ước riêng trong hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu bao gồm những điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms), thanh toán quốc tế trong
hoạt động xuất nhập khẩu, chứng từ xuất nhập khẩu. Và các vấn đề liên quan đến việc đàm phán, ký
kết và thực hiện các hợp đồng ngoại thương.
- Giúp sinh viên có cái nhìn toàn cảnh về hoạt động xuất nhập khẩu đang diễn ra trong thực tế nhằm
có kế hoạch xây dựng, tổ chức và triển khai các hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu trong tương
lai.
1.1.3 Nội dung môn học
Nội dung chính của môn học dưới sự giảng dạy của thầy Nguyễn Hữu Khoa được truyền
tải qua 6 chương:
Chương 1: Các phương thức giao dịch trên thị trường thế giới
Chương 2: Các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms)
Chương 3: Thanh toán quốc tế trong hoạt động xuất nhập khẩu
Chương 4: Chứng từ xuất nhập khẩu
bảy lần, Incoterms sau thì hoàn thiện hơn Incoterms trước. Phổ biến nhất là Incoterms 2000
và 2010. Incoterms không phải là luật nên muốn áp dụng thì phải ghi rõ trong hợp đồng và
ghi rõ Incoterms năm nào.
Incoterms 2010 có 11 điều kiện, được phân chia thành 2 nhóm: 1) Áp dụng cho mọi phương
thức vận tải (EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP); 2) Áp dụng cho vận tải đường biển
và đường thủy nội địa (FAS, FOB, CFR, CIF).
Cần nghiên cứu kĩ Incoterms để lựa chọn, vận dụng thích hợp cho tình hình doanh nghiệp,
đem lại hiệu quả cao.
Chương 3: Thanh toán quốc tế trong hoạt động xuất nhập khẩu
SVTH: Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 11
Chuyên đề môn học GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Phương thức thanh toán quốc tế là điều kiện quan trọng bậc nhất trong các điều kiện thanh
toán quốc tế cũng như trong hoạt động kinh doanh ngoại thương. Doanh nghiệp cần nắm
vững các phương thức này để vận dụng tốt trong mua bán quốc tế. Các phương thức thanh
toán chủ yếu:
Trả tiền mặt (In Cash): Người mua thanh toán tiền mặt cho người bán khi người bán giao
hàng hoặc chấp nhận đơn hàng của người mua.
Phương thức ghi sổ hay phương thức mở tài khoản (Open account): Người bán mở một tài
khoản hoặc một quyển sổ để ghi nợ cho người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao
hàng hay dịch vụ, định kỳ người mua trả tiền cho người bán.
Thanh toán trong buôn bán đối lưu (Counter Trade): là hoạt động trao đổi hàng hoá trực
tiếp trong thương mại quốc tế.
Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment): là phương thức thanh toán trong
đó người bán khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người mua
sẽ tiến hành ủy thác cho ngân hàng của mình thu nợ số tiền ở người mua nhờ thu.
Phương thức chuyển tiền (Remittance): là phương thức mà trong đó khách hàng yêu cầu
ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác ở một địa điểm nhất
định bằng phương tiện vận chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Phương thức giao chứng từ trả tiền (Cash Against Documents – CAD): là phương thức
thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoản tín thác (Trust Account)
nước khác nhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu (Bên Bán) có nghĩa vụ chuyển vào
quyền sở hữu của một bên khác gọi là Bên nhập khẩu (Bên Mua) một tài sản nhất định gọi
là hàng hóa; Bên Mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng xuất nhập khẩu là: Tên hàng; Chất lượng; Số lượng;
Giao hàng; Giá cả; Thanh toán. Ngoài ra trong hợp đồng còn có các điều kiện và điều khoản
khác như: Bao bì và kí mã hiệu; Bảo hành; Phạt; Bảo hiểm; Bất khả kháng; Khiếu nại;
Trọng tài…
Hợp đồng xem như bản cam kết quyết định quyền lợi, nghĩa vụ cũng như rủi ro của hai bên.
Bất cứ điểm sơ hở nào cũng dễ dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp. Cho nên phải hết sức
cẩn thận khi ký kết hợp đồng.
Chương 6: Chuẩn bị giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng ngoại thương
Quá trình đàm phán hợp đồng xuất nhập khẩu bao gồm nhiều giai đoạn: Chuẩn bị; Tiếp xúc;
Đàm phán; Kết thúc – Ký kết hợp đồng; Rút kinh nghiệm. Mỗi giai đoạn đều có vị trí và
tầm quan trọng riêng. Muốn đàm phán thành công cần chuẩn bị kĩ càng áp dụng kĩ thuật
thích hợp trong từng giai đoạn đàm phán. Trong quá trình đàm phán cần giữ vững các
nguyên tắc sau:
• Tách con người ra khỏi vấn đề đàm phán, làm việc một cách khoa học.
• Luôn tập trung vào lợi ích đôi bên và cố gắng mở rộng lợi ích đó.
• Có nhiều phương án khác nhau để lựa chọn, đàm phán uyển chuyển đạt hiệu quả cao.
• Cần dựa vào tiêu chuẩn khách quan, khoa học để đánh giá kết quả đàm phán.
SVTH: Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 13
Chuyên đề môn học GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
1.2 TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
1.2.1 Sơ lược về thủy sản Việt Nam
Thủy sản nước ta chủ yếu là cá biển, giáp xác, nhuyễn thể và rong biển. Tiềm năng phát
triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1,4 triệu ha mặt nước nội địa, 300.000 ha bãi
triều, 400.000 ha hồ chứa, sông suối, 600.000 ha ao hồ nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử
dụng để nuôi trồng thủy sản. Năng suất nuôi trồng thủy sản mới chỉ bằng 10% - 25% năng
suất của các nước trong khu vực.
Theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài có giá trị
nghiệp đánh cá, dần dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng hiệu
quả cao, du nhập nghề mới từ nước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ.
- Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu, nguồn vốn nước ngoài và chuyển
giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ. Từ cơ chế “Lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự
trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác và nuôi trồng” qua các thời kỳ, Nhà nước thực hiện chính
sách mở cửa đến nay, sản phẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại hơn 50 nước và vùng lãnh thổ với một
số sản phẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quan trọng. Trao đổi quốc tế trên lĩnh vực công
nghệ đã góp phần để có kết quả vừa nêu.
Trong 5 tháng đầu năm 2014, vượt qua khó khăn, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt
Nam đang dần hồi phục. Theo dự báo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt
Nam (VASEP), năm 2014, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam dự kiến đạt
khoảng 7 tỷ USD, tăng 5% so với năm 2013. Tỷ trọng tương ứng của ngành thủy sản trong
GDP sẻ giảm do có sự tăng trưởng mạnh trong các ngành khác của nền kinh tế. Song sự
đóng góp của ngành thủy sản đối với ổn định xã hội và an toàn quốc gia là quan trọng vì
tiềm năng phân phối thu nhập của ngành thủy sản ở các vùng nông thôn. Một bộ phận dân
cư ở nông thôn, thường là các vùng nghèo vẫn tiếp tục sống dựa vào nghề cá và nuôi trồng
thủy sản, bao gồm cả thiểu số ở vùng cao.
Đối với hoạt động xuất khẩu
Nếu trong GDP, ngành thủy sản đóng góp tương đối yếu thì ngành đã có sự bù đắp lại bởi sự
đóng góp mạnh mẽ vào kim ngạch xuất khẩu cả nước. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước
ta qua các năm đã không ngừng tăng lên, đóng vai trò là một trong những mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam trong một số năm qua và trong nhiều năm tiếp theo, đóng góp
một phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Từ năm 2009 đến 2014, năm
nào kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng chiếm tỷ trọng trên dưới 10% so với tổng giá trị
xuất khẩu, đặc biệt năm 2014, tỷ trọng này là 31,1%.
SVTH: Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 15
Chuyên đề môn học GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
BẢNG 1.1 - Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất của Việt Nam từ
01/01 đến 15/05/2014 và so sánh với cùng kì năm 2013
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan)
2.1 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
2.1.1 Về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
Xuất khẩu (XK) thủy sản của cả nước trong tháng 4 tiếp tục tăng hơn 9,53% về kim ngạch
so với tháng 3, đạt 672,48 triệu USD; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu
năm đạt trên 2,28 tỷ USD, tăng 31,97% so với cùng kỳ.
Trong tháng 4/2014, xuất khẩu thủy sản sang hầu hết các thị trường lớn đều tăng mạnh,
nhưng xuất khẩu giảm mạnh ở các thị trường kim ngạch nhỏ. XK tôm chân trắng vẫn duy trì
tăng trưởng khả quan 151% trong tháng 4 với 185 triệu USD, đưa tổng XK 4 tháng lên 666
triệu USD, tăng 192% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, XK tôm sú tăng 15,5%
trong tháng 4, đạt 121 triệu USD, tổng XK 4 tháng đạt 381 triệu USD, tăng 14%.
Trừ cá ngừ và nhuyễn thể hai mảnh vỏ, XK các mặt hàng hải sản khác đều tăng. XK mực,
bạch tuộc có xu hướng phục hồi mạnh, tăng 36% trong tháng 4 đạt gần 45 triệu USD. XK 4
tháng đầu năm tăng 14% đạt 136,5 triệu USD. XK cua ghẹ và giáp xác khác cùng tăng
trưởng 2 con số: tháng 4 tăng 19%, 4 tháng đầu năm tăng 14% đạt trên 26 triệu USD. XK
các loại cá biển khác cũng tăng 23% trong tháng 4 và tăng 20,5% trong 4 tháng đạt 292 triệu
USD.
XK cá ngừ tiếp tục giảm không chỉ ở phân khúc sản phẩm cá nguyên liệu mà cả sản phẩm
cá hộp. Tổng XK cá ngừ 4 tháng giảm 21% đạt 163 triệu USD, trong đó cá ngừ hộp giảm
11,4%, cá nguyên liệu giảm 27%. Nguyên nhân: sản lượng khai thác cá ngừ giảm trong quý
I, thiếu cá ngừ cho chế biến sản phẩm phẩm cấp cao.
XK cá tra giảm gần 6% trong tháng 4 và 4 tháng tăng 2,1% đạt 546 triệu USD. Diện tích và
sản lượng cá tra giảm đang tác động đến kết quả XK. Theo báo cáo của Bộ NN và PTNT,
diện tích nuôi cá tra của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 4 tháng đầu năm ước đạt 5.300
ha với sản lượng 243 ngàn tấn. Theo báo cáo của các Sở NN&PTNT thuộc đồng bằng sông
Cửu Long, diện tích và sản lượng cá tra một số tỉnh giảm so với cùng kỳ năm ngoái: Vĩnh
Long diện tích 419 ha (-3,6%), sản lượng 30.400 tấn (-27,8%), An Giang diện tích 476 ha (-
38,9%), sản lượng 45.689 tấn (- 30,8%), Đồng Tháp diện tích 1.149 ha (-0,7%), sản lượng
83.102 tấn (-7,9%)…
SVTH: Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 18
Chuyên đề môn học GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
nhập khẩu (NK) trong tháng 4-2014.
Cụ thể, 2 tháng đầu năm 2014, XK tôm sang Nhật Bản tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2013
với mức tăng trên 60%/tháng. Tuy nhiên, sang tháng 3-2014, XK tôm sang Nhật Bản chỉ
tăng 1,2% so với tháng 3-2013. Tháng 4-2014, XK tiếp tục giảm 15%.
SVTH: Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 19
Chuyên đề môn học GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Nguyên nhân chính dẫn đến XK tôm sang Nhật Bản sụt giảm là do phát hiện thấy
Oxytetracycline trong 2 lô lôm NK từ Việt Nam, Nhật Bản đã áp dụng chế độ kiểm tra đối
với 100% tôm nuôi và các sản phẩm chế biến từ tôm nuôi NK từ Việt Nam về chỉ tiêu chất
này với mức giới hạn 0,2ppm từ giữa tháng 3-2014.
Hiện nay, các DN đã tăng cường kiểm nghiệm Oxytetracycline trong tôm XK sang Nhật
Bản, tuy nhiên DN chế biến và XK khó có thể kiểm hết được nếu như từ khâu nuôi không
được ngăn chặn và kiểm soát chặt chẽ. Do đó, XK tôm sang Nhật Bản có thể sẽ tiếp tục
giảm trong Quý II này.
Về mặt hàng cá ngừ
Tính từ đầu năm tới giữa tháng 4/2014, XK cá ngừ của Việt Nam sang Nhật Bản vẫn chưa
khả quan hơn, tiếp tục sụt giảm so với cùng kỳ năm 2013. Tổng giá trị XK cá ngừ của Việt
Nam sang đây chỉ đạt hơn 8 triệu USD, giảm gần 67% so với cùng kỳ 2013.
ĐỒ THỊ 2.1 - Nhập khẩu cá ngừ Nhật Bản (Nguồn: vasep.com)
Vấn đề của Việt Nam là ở năng lực khai thác cá ngừ và giá bán của sản phẩm. Trong số các
nước xuất khẩu cá ngừ sang Nhật Bản (Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Trung
Quốc và Philippines) thì giá bán của Việt Nam vẫn ở mức cao và năng lực cung cấp kém
hơn nên khả năng cạnh tranh không cao. Nguyên nhân là do các sản phẩm cá ngừ của Việt
Nam vẫn đang phải chịu mức thuế cao hơn hẳn so với các nước láng giềng như Trung Quốc,
Philippines, Thái Lan và Hàn Quốc.
Ngoài Nhật Bản thì Mỹ và EU là hai thị trường lớn của cá ngừ Việt Nam. Trong khi XK cá
ngừ của Việt Nam sang Mỹ vẫn chưa có dấu hiệu khả quan, nhưng mức xuất sang thị trường
EU vẫn duy trì tăng trưởng dương, dù chỉ với mức tăng khiêm tốn 1,7% trong quý I/2014.
Tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam sang các nước EU trong 3 tháng đầu năm đạt hơn
33,4 triệu USD. Như mọi năm, trong quý đầu năm, EU chủ yếu NK thăn cá ngừ đông lạnh
7/2/2014, Tổng Thống Obama đã chính thức ký quyết định ban hành Luật Nông trại 2014,
trong đó có nội dung chuyển chức năng giám sát cá da trơn, trong đó có cá tra của Việt
Nam, từ Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) sang Bộ Nông nghiệp Mỹ
(USDA). Mặc dù, Farm Bill chưa ảnh hưởng đến DN cá tra trong năm nay nhưng cũng là
một trở ngại đối với cá tra trong tương lai gần. Trong khi đó, ngày 31/3/2014, Bộ Thương
mại Hoa Kỳ (DOC) công bố kết quả cuối cùng của đợt xem xét hành chính lần thứ 9
(POR9) vụ kiện chống bán phá giá cá tra tại thị trường Hoa Kỳ áp dụng đối với các lô hàng
SVTH: Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 21
Chuyên đề môn học GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
XK trong giai đoạn từ 1/8/2011- 31/7/2012. Hầu hết các DN đều bị áp mức thuế cao, chính
vì vậy chỉ có một số DN có mức thuế suất thấp vẫn XK cá tra vào thị trường này.
Về mặt hàng mực, bạch tuột
So với quý I/2013, XK mực, bạch tuộc 3 tháng đầu năm nay đã có dấu hiệu hồi phục. Tính
đến hết giữa tháng 4/2014, tổng giá trị XK mực, bạch tuộc đạt 111,8 triệu USD, tăng 8,2%
so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trong tháng 3, giá trị XK đạt 38,9 triệu USD, tăng 21%
so với cùng kỳ năm 2013.
ĐỒ THỊ 2.2 – Xuất khẩu mực, bạch tuột 3 tháng đầu năm 2012-2014
(Nguồn: vasep.com)
Mặc dù, giá trị XK tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng tình hình XK sang 3 thị trường
chính vẫn chưa thực sự tốt (nhất là sang Nhật Bản và EU) do các tiêu chuẩn chất lượng khắt
khe. Trong khi đó, giá trị XK sang các thị trường XK tiềm năng lớn là: Nga, Đài Loan,
Australia và Mỹ vẫn tiếp tục nằm trong mức tăng trưởng âm.
Tính đến giữa tháng 4/2014, Hàn Quốc là thị trường NK lớn nhất của mực, bạch tuộc Việt
Nam, chiếm gần 36,1% tổng giá trị XK với giá trị XK đạt 40,35 triệu USD, tăng 19,2% so
với cùng kỳ năm trước. Chiếm tỷ lệ này, Hàn Quốc đã vượt xa thị trường Nhật Bản trong cơ
cấu thị trường XK nhuyễn thể chân đầu của Việt Nam. Tuy nhiên do bị đánh thuế cao, sản
lượng của Việt Nam vẫn kém Trung Quốc tại đây.
Trong quý I/2013, thì có đến 2 tháng liên tiếp giá trị XK sang 4 thị trường đều giảm từ 5,8 -
56% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo, trong quý II/2014, giá trị XK sang Nga và Australia
tăng dần, tuy nhiên XK sang Đài Loan chững. Do sự bấp bênh của những “hướng đi” đi này
hơn vào nhập khẩu.
- Thuận lợi về chính sách: Việt Nam có lợi thế khi xuất khẩu thủy sản ở một số thị trường. Ở EU, Việt
Nam được hưởng chế độ thuế GSP do đáp ứng được các tiêu chuẩn của EU nên làm giảm thuế nhập
SVTH: Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 23
Chuyên đề môn học GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
khẩu khi với hàng thủy sản Việt Nam. Một phần cũng do EU có nhu cầu nhập khẩu thủy sản cao nên
thường không dùng biện pháp chống bán phá giá như ở Mỹ.
- Thủy sản Việt Nam đa dạng về chủng loại và có mức trung bình khá rẻ: do điều kiện nuôi trồng
nhiều, nguồn nhân lực rẻ và được thiên nhiên ưu đãi nên rất có lợi thế khi xuất khẩu sang thị trường
nước ngoài.
- Chính sách khuyến khích xuất khẩu từ chính phủ cũng là một yếu tố thúc đẩy sản lượng xuất khẩu
thủy sản. Việc đánh thuế xuất khẩu bằng 0 cho đa số mặt hàng xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan đơn
giản hóa đang là những nỗ lực của nhà nước Việt Nam nhằm kích thích xuất khẩu trong nước phát
triển đặc biệt là ngành thủy sản.
2.2.2 Khó khăn
Có những khó khăn chính đối với ngành thủy sản nước ta cần khắc phục như sau:
Thứ nhất là thiếu nguyên liệu đầu vào, do:
- Mặc dù có thuận lợi về tự nhiên cho việc khai thác và đánh bắt thủy sản nhưng cũng chính tự nhiên
gây bất lợi cho nước ta. Giai đoạn 2013 – 2014, biến đổi khí hậu đẩy nước mạnh xâm nhập vào đất
liền gây đe dọa đến nghề nuôi thủy sản trong nước vì đa số thủy sản nước ta thuộc loại nước ngọt.
- Dịch bệnh: dịch bệnh với giống tôm đã gây nhiều thiệt hại cho ngành vì tôm là một trong những mặt
hàng thủy sản chủ lực của nước ta.
- Việc ứng dụng khoa học kĩ thuật tuy có phát triển nhưng chưa đồng bộ. Đa số ngư dân vẫn đánh bắt
theo hình thức nhỏ lẻ, đặc biệt là việc nuôi trồng và đánh bắt xa bờ vẫn còn quy mô nhỏ, kĩ thuật còn
hạn chế nên sản lượng thu được không cao, thậm chí còn hư hỏng trên đường về vì không có biện
pháp bảo quản tốt.
- Về chính sách phát triển: Mô hình công nghiệp còn ít, vấn đề quy hoạch còn chồng chéo nên không
thể ổn định việc nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu.
Thứ hai là sự không ổn định về giá. Vấn đề này đã được nói vài lần trong phần thực trạng
nêu trên. Nguyên nhân là do:
- Làm tăng chi phí sản xuất, trở thành rào cản đối với hàng hóa xuất khẩu nước ta.
- Sản phẩm theo quy định mới phải sạch ngay từ giai đoạn con giống ko như trước. Nhật Bản thì tăng
cường tần suất kiểm tra enroflosaxin từ 30% lên 100% tháng 06/2011. EU cũng đưa ra quy định quy
định doanh nghiệp áp dụng hiệu quả HACCP thì mới được phép xuất khẩu sang thị trường này.
Thứ bảy, sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam còn yếu. Hiện nay các thị trường lớn đang
nới lỏng quy định xuất khẩu. Thủy sản Việt Nam sẽ phải gặp phải cạnh tranh nhiều hơn từ
các nước khác như Trung Quốc, Hà Lan, Ấn Độ,… Hơn nữa thị trường tự do thương mại
còn làm nhều đối thủ xuất hiện hơn nữa. Nguyên nhân là do:
- Năng lực cạnh tranh và tính năng động của nền kinh tế còn yếu.
- Cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn bất hợp lí, cơ chế thị trường còn nhiều vấn đề chưa được giải
quyết.
- Hệ thống tài chính còn nhiều bất cập.
- Trình độ công nghệ còn thấp, cải cách chậm chạp, tư duy còn thấp gây hạn chế trong tiếp cận, thâm
nhập thị trường nước ngoài.
- Cơ sở vật chất lạc hậu, vận dụng yếu kém yếu tố công nghệ, tiến bộ kĩ thuật, nuôi trồng thủy sản còn
phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.
- Sản xuất chưa tự động hóa, giá thành chưa ổn định.
- Sản phẩm mới chỉ qua sơ chế hay đông lạnh.
- Chưa xây dựng được thương hiệu có uy tín nhưng bán giá thấp làm ảnh hưởng gây ảnh hưởng tới
hình ảnh thủy sản Việt Nam.
Thứ tám, vấn đề đăng kí nhãn hiệu và thương hiệu hàng thủy sản vẫn chưa được quan tâm
đúng mức. Ngoài nước mắm Phú Quốc chưa có nhãn hiệu nào được đăng kí chính thức trên
thị trường quốc tế. Nếu có nhãn hiệu và thương hiệu chắc chắn sẽ giảm thiểu được nhiều rủi
ro và nâng cao được uy tín của hàng thủy sản Việt Nam trên thương trường quốc tế.
SVTH: Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 25