TÂM PHẾ MẠN
(Kỳ 3)
II. Sinh lý bệnh
Động mạch phổi có lu lợng cao, áp lực dòng chảy thấp, sức cản mạch máu
thấp với chức năng cung cấp máu cho trao đổi khí và có 3 đặc điểm: (1) thành
mỏng với trơng lực cơ lúc nghỉ thấp, (2) ở ngời lớn, lúc nghỉ có sự điều chỉnh nhỏ
vận mạch phổi nhờ hệ thông thần kinh tự động, (3) có nhiều tiểu động mạch và
mao mạch phế nang không tham gia vận chuyển máu lúc nghỉ và có thể hoạt động
lại khi cần thiết để mở rộng mạng lới mao mạch phổi và nhờ vậy làm giảm sức cản
mạch máu phổi. Bình thờng, áp lực động mạch phổi trung bình khoảng 12 - 17
mmHg, khi áp lực động mạch phổi lúc nghỉ lớn hơn 20 mmHg thì cần phải nghĩ
tới có tăng áp động mạch phổi. Sức cản của hệ mạch máu phổi tăng và TAĐMP là
những cơ chế bệnh sinh chính trong tất cả các trờng hợp TPM.
A. Cơ chế tăng áp động mạch phổi
1. Suy hô hấp từng phần gây thiếu ôxy máu, thiếu ôxy tổ chức, làm co thắt
các tiểu động mạch phổi và từ đó dẫn đến tăng áp lực động mạch phổi. Nguyên
nhân quan trọng nhất gây co các tiểu động mạch phổi là thiếu ôxy ở các phế nang.
Cơ chế co mạch do thiếu ôxy tổ chức còn cha đợc rõ. Ngời ta cho là có thể có một
vài hoạt chất trung gian đợc phóng thích từ các tế bào hiệu ứng và làm co mạch
hoặc hiện tợng co mạch là một đáp ứng trực tiếp của các cơ trơn mạch máu phổi
đối với tình trạng giảm ôxy tổ chức.
2. Mức độ co mạch do giảm ôxy tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào PaO
2
phế
nang và khi PaO
2
phế nang < 55 mmHg thì áp lực động mạch phổi tăng rất nhanh.
Khi áp lực động mạch phổi lớn hơn 40 mmHg thì độ bão hoà ôxy động mạch có
thể thấp hơn 75%.
3. Suy hô hấp toàn bộ sẽ làm ứ trệ CO
2
hơi mờ do hiện tợng giãn phế nang của phổi.
2. Các dấu hiệu sớm nhất là các dấu hiệu có liên quan đến tăng áp lực động
mạch phổi kéo dài.
a. Dấu hiệu nhạy nhất của tăng áp động mạch phổi là thành phần phổi của
tiếng T
2
vang mạnh, có thể nghe đợc ở vị trí ổ van động mạch phổi và ở vùng thất
phải trên xơng ức.
b. Khi áp lực động mạch phổi tăng rất cao, có thể có tiếng thổi tâm trơng ở
ổ van động mạch phổi và tiếng thổi tâm thu ở ổ van ba lá do hở phổi và hở van ba
lá, đồng thời cũng có thể nghe thấy tiếng tống máu tâm thu và tiếng ngựa phi T
3
thất phải.
3. Khi đã có suy tim phải bệnh nhân thờng có tim to, tĩnh mạch cổ nổi, gan
to và phù ở ngoại biên. Dấu hiệu tĩnh mạch cổ nổi cả trong thì hít vào và thở ra là
dấu hiệu chỉ điểm chắc chắn có suy tim phải. Trong các trờng hợp suy tim phải
nặng, bệnh nhân có thể có phù toàn thân và tràn dịch cả màng phổi, màng tim, cổ
chớng…
4. Các đầu chi có thể ấm do giãn mạch ngoại biên vì tăng CO
2
máu; hoặc
cũng có thể tím do lu lợng máu thấp hoặc giảm ôxy máu.
5. Những bệnh nhân có TPM lâu có thể bị tím đen nh ngời đen, mắt lồi và
đỏ do tăng sinh của các mạch máu màng tiếp hợp trông nh mắt ếch và thờng có
ngón tay, ngón chân dùi trống.