CHƯƠNG III: TỔNG CẦU VÀ XÁC ĐỊNH SẢN LƯỢNG QUỐC GIA pot - Pdf 16

CHƯƠNG III
TỔNG CẦU VÀ XÁC ĐỊNH SẢN LƯỢNG QUỐC GIA
Chương này tập trung nghiên cứu mặt cầu của nền kinh tế: các thành phần của tổng cầu, các
nhân tố qui định sự biến động của tổng cầu. và vai trò của tổng cầu trong việc xác định mức sản lượng
trong nền kinh tế. Phần cuối của chương giới thiệu chính sách tài khoá nhằm ổn định nền kinh tế trong
ngắn hạn.
Hoạt động kinh tế biến động từ năm này sang năm khác. Trong hầu hết các năm, sản xuất hàng
hóa và dịch vụ tăng lên. Do đó, có sự tăng lên của lực lượng lao động tư bản và tiến bộ công nghệ, nền
kinh tế ngày càng có thể sản xuất nhiều hơn. Sự tăng trưởng này ngày càng cho phép mọi người hưởng
thụ mức sống cao hơn.
Tuy nhiên trong một số năm, sự tăng trưởng bình thường này không xảy ra. Các doanh nghiệp
không bán được hết hàng hóa và dịch vụ và quyết định cắt giảm sản xuất. Nhiều công nhân bị sa thải,
thất nghiệp bị tăng cao và các nhà máy thì bị bỏ không. Khi nền kinh tế sản xuất hàng hóa và dịch vụ ít
hơn, GDP thực tế và các đại lượng phản ánh thu nhập khác giảm đi. Những thời kỳ thu nhập giảm
trong khi thất nghiệp tăng cao được gọi là suy thoái nếu tình trạng không nghiêm trọng, và được gọi là
khủng hoảng nếu nó gọi là trầm trọng.
Điều gì đã gây ra biến động của hoạt động kinh tế trong ngắn hạn? Các chính sách công cộng có
thể làm gì để ngăn chặn các thời kỳ thu nhập giảm sút và thất nghiệp tăng cao? Khi suy giảm hoặc suy
thoái xảy ra, các nhà hoạch định chính sách có thể làm gì để giảm bớt độ dài và mức độ trầm trọng của
chúng? Đây là câu hỏi mà chúng ta cần xem xét trong chương này và hai chương tiếp theo.
Các biến số mà chúng ta nghiên cứu trong các chương tiếp theo phần lớn là các biến cố mà
chúng ta đã biết. Đó là GDP, thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá hối đoái và mức giá. Các công cụ và chính
sách của chính phủ như chi tiêu, cung ứng và tiền tệ cũng quen thuộc với chúng ta. Cái khác trong các
chương tiếp theo là ở khoảng thời gian phân tích. Trọng tâm của chương vừa rồi là nền kinh tế trong
dài hạn. Giờ đây, chúng ta quan tâm đến những biến động ngắn hạn xung quanh xu hướng dài hạn của
nền kinh tế.
Mặc dù còn có sự tranh luận giữa các nhà kinh tế vế phương pháp phân tích các biến động ngắn
hạn, nhưng hầu hết các nhà kinh tế đều sử dụng mô hình tổng cung và tổng cầu. Học cách vận dụng mô
hình này để phân tích ảnh hưởng của các chính sách là nhiệm vụ chủ yếu sắp tới của chúng ta. Trong
chương này, chúng ta bàn đến hai mảng then yếu của mô hình của tổng cung và tổng cầu. Sau khi có
cái nhìn tổng quan vế mô hình trong chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn trong hai chương tiếp

chi tiêu để xây dựng nhà máy, nhà ở và bổ sung thêm hàng tồn kho mới.
Bằng chứng 3: Khi sản lượng giảm, thất nghiệp sẽ tăng
Những thay đổi trong sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế gắn chặt với những thay
đổi trong việc sử dụng lực lượng lao động của nền kinh tế. Nói cách khác, khi GDP thực tế giảm, thất
nghiệp sẽ tăng. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên: khi các doanh nghiệp sản xuất ít hàng hóa và
dịch vụ hơn, họ sa thải bớt công nhân và số người thất nghiệp tăng.
1. CÁC THÀNH TỐ CỦA TỔNG CẦU.
1.1. Tiêu dùng và tiết kiệm.
1.1.1. Khái niệm.
Toàn bộ thu nhập của khu vực hộ gia đình do cung cấp các yếu tố sản xuất được dành phần lớn
để chi mua hàng hoá và dịch vụ cho đời sống, phần còn lại để dành tiết kiệm.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng và tiết kiệm của hộ gia đình.
Có 3 nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng cá nhân, đó là thu nhập khả dụng cá nhân, thu nhập dự
đoán và lãi suất.
Thu nhập khả dụng cá nhân là tổng số thu nhập mà một cá nhân hoặc một hộ gia đình có thể
sử dụng cho tiêu dùng và cho tiết kiệm.Thu nhập khả dụng của hộ gia đình được xác định bằng tổng số
thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ lợi tức cho vay, cổ tức, tiền cho thuê các yếu tố sản xuất
kinh doanh, tiền lương, tiền trợ cấp (trợ cấp nghỉ hưu, thất nghiệp, khó khăn, học bổng .v.v ) sau đó trừ
đi khoản thuế thu nhập cá nhân và bảo hiểm xã hội. Thu nhập khả dụng được sử dụng vào hai mục
đích: tiêu dùng và tiết kiệm.
Khi sử dụng lương thực thực phẩm, quần áo hoặc đi xem phim chúng ta đã tiêu dùng sản phẩm
của nền kinh tế.Tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập khả dụng sau khi trừ đi tiêu dùng. Do đó, thu
nhập khả dụng Yd tăng thì tiêu dùng (C) tăng và tiết kiệm (S) tăng. Ngoài ra, khi thu nhập dự đoán
tăng thì chi tiêu cũng tăng.
2
Trong khi đó, lãi suất lại có xu hướng biến động ngược chiều với tiêu dùng. Lãi suất cao thì chi
tiêu tiêu dùng giảm.Bởi vì, lãi suất cao sẽ không khuyến khích chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình đặc
biệt là các khoản chi tiêu trả góp, trái lại nó khuyến khích tiết kiệm. Ngược lại, với mức lãi suất thấp
hơn thì các hộ gia đình có khuynh hướng chi tiêu nhiều hơn.
1.1.3. Hàm tiêu dùng và hàm tiết kiệm cá nhân.

MPC (hay C
m
): khuynh hướng tiêu dùng biên
Thu nhập
khả dụng
Y
d
Tiêu dùng
ứng dụng
(MPC.Y
d
)
Tiêu dùng tự
định
(C)
Tổng tiêu
dùng
C
0
+MPC.Y
d
Tiết kiệm
ứng dụng
MPS.Y
d
Tổng mức tiết kiệm
S
0
+ MPC.Y
d

-250
0
250
500
750
1.000
MPC = 0.75
MPS = 1- MPC = 1 - 0.75 = 0.25
3
· Hàm tiết kiệm.
Mối quan hệ giữa tiết kiệm và thu nhập khả dụng cá nhân được gọi là hàm số tiết kiệm cá nhân
S = f (Y
d
)
S = -C
0
+ MPS.Y
d
Trong đó: MPS là khuynh hướng tiết kiệm biên
Hình 3.1: Khuynh hướng tiêu dùng biên và khuynh hướng tiết kiệm biên.
Khuynh hướng tiêu dùng trung bình (APC) và khuynh hướng tiết kiệm trung bình (APS)
VD Tính khuynh hướng tiết kiệm trung bình và tiêu dùng trung bình cho bảng số liệu trên.
Khuynh hướng tiêu dùng biên (MPC) và khuynh hướng tiết kiệm biên (MPS)
 Khuynh hướng tiêu dùng biên là phần của đồng thu nhập khả dụng tăng thêm được sử dụng
để chi tiêu tiêu dùng.
 Khuynh hướng tiết kiệm biên là phần của thu nhập khả dụng tăng thêm được tiết kiệm
4
Mối quan hệ giữa khuynh hướng tiêu dùng trung bình và khuynh hướng tiêu dùng biên
Thu nhập khả dụng
Tổng tiêu dùng

- Khi thu nhập khả dụng tăng, khuynh hướng tiêu dùng trung bình giảm.
Khuynh hướng tiêu dùng biên và độ dốc của đường biểu diễn hàm số tiêu dùng
- Khuynh hướng tiêu dùng biên bằng độ dốc đường biểu diễn hàm số tiêu dùng
- khuynh hướng tiết kiệm biên bằng độ dốc đường biểu diễn hàm số tiết kiệm
1.1.4.Từ hàm số tiêu dùng cá nhân đến hàm số tổng tiêu dùng.
Hàm số tổng tiêu dùng biểu thị mối quan hệ giữa chi tiêu tiêu dùng thực và thu nhập khả dụng
thực của toàn bộ nền kinh tế trong một khoản thời gian.
Trong thực tế người ta thường biểu thị mối quan hệ giữa tổng chi tiêu tiêu dùng và GDP thực
(thay vì thu nhập khả dụng thực) trong hàm số tổng tiêu dùng theo chuỗi thời gian.Vì vậy hàm tổng
tiêu dùng trở nên ít dốc hơn.
Y
d
= GDP thực - TN
TN = Tổng thuế + BHXH – TR
Khi GDP thực tăng thì TN cũng tăng
Giả sử thuế ròng tăng 12,5% số gia tăng của GDP thực ở mỗi năm thì chỉ có 87.5% của số tăng GDP là
thu nhập khả dụng.
Hàm tiêu dùng theo GDP thực là:
C = 0,8(Y – TN) + 550 = 0,8 [Y – (0,125Y + 500)] + 550 = 0,7Y + 150
5
1.2. Đầu tư
1.2.1.Những yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư.
Đầu tư là một đề tài quan trọng trong kinh tế vĩ mô vì:
 Mặc dù tiêu dùng là phần lớn nhất của tổng cầu, nhưng hầu hết những thay đổi về giá trị GDP là
do những thay đổi về đầu tư trong chu kỳ kinh doanh.
 Đầu tư được định nghĩa là sự sản xuất ra vốn vật chất nên những thay đổi nguồn vốn là một yếu tố
quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng và hướng đi tương lai cho nền kinh tế.
Bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến đầu tư
(1) Lãi suất
Mức đầu tư là hàm số của lãi suất I = I (i). Trên thực tế có nhiều mức lãi suất khác nhau. Chẳng

-
400
500
200

100
70
27

300
430
173
1.000
700
270
90
-90
Doanh thu ròng = doanh số bán – chi phí sx
6
Trường hợp II
Năm
Đầu tư
ban đầu
Doanh thu ròng
dự đoán
Lãi vốn vay trả hàng
năm (lãi suất 5%)
vốn vay được
trả hằng năm
tiền vay còn lại

khác cũng tăng).
 Tuy nhiên doanh số bán cùng với chi phí gia tăng qua các năm như vậy thì doanh thu ròng
qua các năm cũng tăng cùng với mức lạm phát.
Tác động kết hợp lãi suất và lạm phát.
Nếu lãi suất 10%,lạm phát dự đoán hàng năm 5% thì doanh thu ròng dự tính tăng 5% /năm .
Điều này cho phép công ty có khả năng trả nhiều hơn khoản nợ vay và giảm bớt tiền lãi phải trả.
Vậy khi mức lãi suất thực thấp thì mức đầu tư cao.
 Lợi nhuận dự đoán
Lợi nhuận dự đoán của máy móc thiết bị càng cao số lượng đầu tư vào chúng càng nhiều.
 Khấu hao.
Khấu hao càng nhiều qui mô đầu tư càng lớn.
1.2.2. Hàm cầu đầu tư.
Hàm số cầu đầu tư biểu thị mối
quan hệ giữa mức đầu tư (I) và mức lãi
suất thực (r) với giả thiết là tất cả các nhân
tố ảnh hưởng đến đầu tư là không đổi.
Hình 3.2: Đường cầu đầu tư
7
Cần phân biệt giữa sự di chuyển dọc theo đường thẳng biểu thị hàm đầu tư và sự dịch chuyển
của đường thẳng này. Khi lãi suất giảm thì đầu tư tăng, do đó thay đổi của lãi suất sẽ dẫn đến sự di
chuyển dọc theo đường thẳng biểu thị hàm cầu đầu tư.
Hình 3.3: Những thay đổi của cầu đầu tư và đường cầu đầu tư.
Những yếu tố sau làm cho hàm cầu đầu tư dịch chuyển:
 Thuế: Sự thay đổi về thuế hay thuế suất sẽ có tác động đến chi phí hay lợi nhuận của dự án.
Thông thường các doanh nghiệp có thể được giảm thuế nhằm khuyến khích đầu tư. Điều này sẽ
làm giảm chi phí thực của dự án và tăng giá trị hiệu suất đầu tư biên ứng với mỗi mức lãi suất.
Kết quả là hàm đầu tư sẽ dịch chuyển sang phải.
 Những kỳ vọng lợi nhuận sẽ ảnh hưởng đến giá trị lợi nhuận Sự dao dộng trong lợi nhuận
dự đoán của các doanh nhiệp là nguồn gốc chính của những dao động trong cầu đầu tư. Khi kỳ
vọng về lợi nhuận là lạc quan thì đường cầu đầu tư sẽ dịch chuyển về phía bên phải. Khi lợi

1. GDP thực trong nước,
2. mức độ chuyên môn hoá sản xuất toàn cầu,
3. giá tương đối của hàng hoá ở nước ngoài và hàng hoá tương tự được sản xuất trong nước,
4. tỉ giá hối đoái.
 Giả sử những nhân tố khác không đổi, GDP thực trong nước càng cao thì lượng nhập khẩu càng
lớn. Điều này có thể giải thích là khi GDP thực tăng thì thu nhập khả dụng cũng tăng. Người tiêu
dùng sẽ mua nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn kể cả hàng hoá nhập khẩu.
 Mức độ chuyên môn hoá sản xuất của từng nước càng cao thì nhập khẩu của từng nước càng tăng.
 Giá hàng hoá được sản xuất ra ở một nước cao tương đối so với giá hàng hoá tương tự được sản
xuất ra ở các nước khác và giá trị của đồng tiền một nước càng cao, nhập khẩu của nước đó sẽ tăng.
 Chính sách của một chính phủ như hàng rào thuế quan, bảo hộ sản xuất cúng có ảnh hưởng đến
nhập khẩu và xuất khẩu.
Hàm xuất khẩu ròng
Hàm xuất khẩu ròng biểu thị mối quan hệ giữa xuất khẩu ròng và GDP thực với giả thiết rằng
GDP thực của các nước khác, giá cả và tỉ giá hối đoái cố định.
Hàm xuất khẩu ròng dưới dạng tổng quát
NX = X – MPM.Y
Trong đó:
NX : xuất nhập khẩu ròng
X : xuất khẩu
MPM : khuynh hướng nhập khẩu biên
9
2. TỔNG CẦU VÀ SẢN LUỢNG CÂN BẰNG.
Mô hình tổng cầu được trình bày từ giản đơn đến phức tạp để xem xét nền kinh tế thực tế hơn.
2.1. Nền kinh tế đơn giản có hai khu vực.
2.1.1. Sản lượng cân bằng.
Thị trường hàng hoá đạt cân bằng ngắn hạn khi tổng cầu của nền kinh tế bằng sản lượng thực tế,
tức là :
Y = AD = C + I
Hình 3.4: sản lượng cân bằng

Đầu tư: I = I
0
Chi tiêu chính phủ: G = G
0
Mô hình tổng cầu: AD = C
0
+ MPC (Y – T
0
) + I
0
+ G
0
Sản lượng cân bằng: AD = Y = C
0
+ I
0
+ G
0
+ MPC. Y – MPC. T
0
Số nhân chi tiêu: Từ phương trình cân bằng ta nhận thấy, khi chi tiêu của hộ gia đình, chi tiêu
đầu tư hay chi tiêu của chính phủ thay đổi thì sản lượng cân bằng Y0 sẽ thay đổi. Cụ thể là khi chi tiêu
hộ gia đình, đầu tư, chi tiêu chính phủ tăng tương ứng các đại lượng thì tổng cầu sẽ gia tăng
một lượng là:
11
Số nhân Thuế: nếu giá trị của thuế thay đổi từ thời điểm 0 đến thời điểm 1 thì giá trị thuế mới
sẽ là (T
0
+ T) . Với các giá trị khác không đổi, giá trị sản lượng cân bằng tại thời điểm 1 sẽ là
Đây là số nhân đối với thuế không phụ thuộc và thu nhập. Số nhân này nhỏ hơn và ngược dấu

Nền kinh tế mở là một nền kinh tế có giao thương với các nước khác, mô hình tổng cầu bao gồm
chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình, chi tiêu đầu tư, chi tiêu mua hàng hoá và dịch vụ của chính phủ ,
xuất khẩu và nhập khẩu.
AD = C + I + G + X – M
Chi tiêu tiêu dùng C = C0 + MPC.Yd
Đầu tư: I = I0 Chi tiêu chính phủ: G = G0
Xuất khẩu ròng: NX = X – MPM.Y
Thuế: T = tY Chi chuyển nhượng TR = 0
Sản lượng cân bằng:
Y
0
= AD = C
0
+ MPC (Y – tY ) + I
0
+ G
0
+ X - MPM.Y
Số nhân: Theo phương trình sản lượng cân bằng trên, khi một trong các yếu tố C0, I0, G0, X0 thay đổi
một lượng ứng với C, I, G, X. Sản lượng cân bằng sẽ tăng một lượng ứng với số nhân chi tiêu:
Một lần nữa giá trị của số nhân chi tiêu tiếp tục giảm xuống khi tính đến thương mại quốc tế. Nguyên
nhân là một phần chi tiêu trong nước tăng lên được đáp ứng bằng hàng nhập khẩu.
3. CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ VỚI MÔ HÌNH TỔNG CẦU
Chính sách tài khoá sử dụng hai công cụ là chi tiêu chính phủ và thuế nhằm ổn định nền kinh tế
trong ngắn hạn.
Khi nền kinh tế phải đối phó với suy thoái do tổng cầu quá thấp (Y< Yp), công ăn việc làm ít
chính phủ có thể kích thích tổng cầu thông qua chính sách tài khoá mở rộng bằng cách giảm thuế hay
tăng chi tiêu của chính phủ hay vừa tăng chi tiêu vừa giảm thuế để gia tăng tổng cầu AD, từ đó làm sản
lượng tăng theo.
Hình 3.5: Chính sách tài khoá mở rộng

 Phát hành trái phiếu.
Mỗi biện pháp tài trợ đều có tác động phụ đến nền kinh tế. Do vậy mặc dù
ngân sách không nhất thiết phải cân bằng hàng năm, song ngân sách cũng không nên
thâm hụt quá lớn và kéo dài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status