tác giả nguyễn du - Pdf 16

Chủ đề & bố cục
Văn tế thập loại chúng sinh là một bài văn khấn tế, đề cập đến xã hội hồn ma
một cách thảm thương nhất. Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song
khác biệt cơ bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn. Chúng sinh ai
cũng như ai cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót
thương tất cả
[5]
Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ
chữ Nôm. Theo Đặng Thị Hảo, có thể chia bài văn thành bốn phần.
[6]
Phần một (20 câu): tả cảnh một chiều thu tháng Bảy mưa dầm buồn bã,
khiến nhà thơ chạnh lòng thương đến các chúng sinh đang lạnh lẽo, bơ vơ
nơi cõi âm mà lập đàn cầu siêu
Phần hai (116 câu): nêu rõ tên và nguyên nhân thiệt mạng của mười loại cô
hồn.
Phần ba (20 câu): miêu tả cảnh sống thê lương thảm thiết của các cô hồn.
Phần cuối (28 câu): lời thỉnh cầu phép Phật nhiệm mầu giúp cho họ được
giải thoát. Cuối cùng là lời mời các cô hồn tới nhận phần lễ cúng để lên đàng
thăng thiên
Tiết tháng bảy mưa dầm
sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt
xương khô
Não ngườI thay buổi chiều
thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá
ngô rụng vàng
Đường bạch dương bóng
chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa
sa

Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha
nỗi lòng.
Kìa những kẻ chìm sông
lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa
cây
Có người leo giếng đứt
dây
Người trôi nước lũ kẻ lây
Có khôn thiêng phảng
phất u minh
Thương thay thập loại
chúng sing
Hồn đơn phách chiếc lênh
đênh quê người
Hương lửa đã không nơi
nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy
niên
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hèn ai
ngu!
Tiết đầu thu lập đàn giải
thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt
dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về
tây phương.

tìm vào đâu?
Cũng có kẻ rắp cầu chữ
qúy
Dẫn mình vào thành thị
lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu
mà trí thân.
Dọc hàng qúan gặp tuần
mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng
khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn
lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh
thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà
voi
Có người hay đẻ không
nuôi
Có người sa sẩy có người
khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ
bước
Cầu Nại Hà kẻ trước
người sau
Mỗi người một nghiệp
khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết
đâu bây giờ?

Mảnh thân chiếc lá biết là
về đâu?
Trên lầu cao dưới dòng
nườc chảy
Phận đã đành trâm gãy
bìng rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không
người nhặt xương.
Đau đớn nhẽ không hương
không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối
rừng sim.
Thương thay chân yếu tay
mềm
nghiêng
Anh em thiên hạ láng
giềng người dưng
Bóng phần tử xa chừng
hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người
ngang
Cô hồn nhờ gửi tha
phương
Gió trăng hiu hắt lửa
huơng lạnh lùng.
Cũng có kẻ vào sông ra
bể,
Cánh buồm mây chạy xế
gió đông

nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh
tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ
độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán
thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông
quảng đại
Chuyển pháp luân tam
giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại
vương
Linh kỳ một lá dẫn đường
chúng sinh.
Nhờ phép Phật uy linh
Càngnăm càng héo một
đêm một dài.
Kìa những kẻ mũ cao áo
rộng,
Ngọn bút son thác sống ở
tay
Kinh luân găm một túi đầy
Đã đêm Quản Cát lại ngày
Y Chu.
Thịnh mãn lắm, oán thù
càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm
chung quanh

kiếp
Liều tuổi xanh buôn
nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy
ai?
Sống đã chịu một đời
phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá
đạ
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại
đâu?
Cũng có kẻ nằm cầu gối
đất
Dõi tháng ngày hành khất
ngược xuôi
Thương thay cũng một
kiếp người
Sống nhờ hàng xứ chết
dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh
chiêm bao
Mười loài là những loài
nào?
Gái trai già trẻ đều vào
nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình
như ảnh
Có chữ rằng:"Vạn cảnh

Độ cho nhất thiết siêu
thăng thượng đài
[13
Nguyễn Hữu Bổng
dịch thơ:
Một mẹ cùng ba
con,
Lê la bên đường nọ,
Đứa bé ôm trong
lòng,
Đứa lớn tay mang
giỏ.
Trong giỏ đựng
những gì?
Mớ rau lẫn tấm cám,
Nửa ngày bụng vẫn
không,
Áo quần vẻ co dúm.
Gặp người chẳng
dám nhìn,
Lệ sa vạt áo ướt,
Mấy con vãn cười
đùa,
Biết đâu lòng mẹ
xót.
Lòng mẹ xót vì sao?
Đói kém phải phiêu
bạt.
Nơi đây mùa khá
hơn,

hươu,
Lợn dê mâm đầy
ngút,
Quan lớn không
gắp qua,
Các thầy chỉ nếm
chút.
Thức ăn thừa đổ đi
Quanh xóm no đàn
chó,
Biết đâu bên
đường quan,
Có mẹ con cực
khổ!
Ai vẽ bức tranh
này
Dâng lên nhà vua
rõ!
[3
Trích thi tập
U cư (Ở nơi u tịch, bài 2)
Dịch nghĩa:
Mười năm trong gió bụi, bỏ
quê hương đi xa,
My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù)
Dịch nghĩa:
Chung tử
[8]

Trang Tích


Ta có một tâm sự không biết tỏ cùng
ai,
Dưới chân núi Hồng, sông Quế giang
sâu thẳm.
Mạn hứng (Cảm hứng lan man)
Dịch nghĩa:
Bên bãi Long vĩ có nhiều
chim âu trắng,
Trong ngôi nhà bên sông
Lam có nhà nho nghèo.
Một đời chuyên về từ phú,
biết là vô ích,
Sách đàn đầy giá, chỉ mình
làm ngu mình.
Cuộc đời trăm năm buồn
thay chỉ là chốc lát,
Tuổi già mua vui, tiếc quá
ngắng ngủi.
Biết rồi đây, khi nằm
xuống dưới gò phía tây,
Tiết trùng dương đến,
liệu có uống được một giọt
rượu nào không?
Độc Tiểu Thanh ký (Đọc tập Tiểu
Thanh
[12]
ký)
Dịch nghĩa:
Vườn hoa bên Tây hồ đã thành bãi

bài khác nữa, ông vẫn cứ trở đi trở lại với cái tâm sự u uất, bế tắc của
mình (Tạp ngâm, Thu chí, Giản Công bộ Thiêm sự Trần, Thu nhật ký
hứng, Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên )
Nói khác hơn, với nhà Nguyễn, ông được trọng vọng, mà trong thơ ông có
cái gì như chán chường nhà Nguyễn. Và cũng giống như Thanh Hiên thi
tập, trong Nam Trung tạp ngâm, chưa bao giờ Nguyễn Du nói rõ cái tâm
sự thật của mình; rải rác đây đó, trong thơ chỉ thấy ông than thở cuộc đời
là đáng buồn, đáng chán, là vô nghĩa, là bãi bể nương dâu
[3]

[sửa] Trích thi tập
Thu chí (Thu đến)
Dịch nghĩa:
Sông Hương một mảnh nguyệt
Xưa nay gợi không biết bao nhiêu mối
sầu.
Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh,
Thu mới tới trên đầu tóc bạc.
Có hình nên phải chịu vất vả,
Không bệnh mà lưng vẫn khom khom.
Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam,
Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng.
Quách Tấn dịch thơ:
Sông Hương một mảnh
nguyệt,
Lai láng sầu cổ câm.
Chuyện xưa mồ cỏ biếc,
Thu mới tóc hoa râm.
Có hình thân phải khổ,
Không bệnh lưng vẫn khom.

cõi Bắc,
Một thân nằm bệnh cõi thành
Đông.
Người quen trách tớ hay sầu
mộng
Thiên hạ còn ai tỉnh táo
không?
Điệu khuyển (Điếu con chó chết)
Dịch nghĩa:
Thiên hạ có ngựa hay không chết già,
Quách Tấn dịch thơ:
Tuấn mã không chết già,
Liệt nữ không chết yên.
Người trinh liệt không chết yên lành.
Phàm người sinh ra có khí phách khác
thường,
Trời đất không có chỗ dung túng.
Nghĩ thương mày thuộc giống gia súc,
Lông xương cũng đồng với loài người
Ham tiến không biết dừng,
Bỏ mình trong núi lạnh.
Bỏ mình chớ than tức,
Bao lần thử sức không thành công.
Phàm khí phách khác
thường,
Trời đất hay ghen tương.
Thương mày giống gia
súc,
Cùng người đồng thịt
xương.

Tiếng trong như hạc gọi xa xăm
Mạnh như Tiến Phúc sét gầm,
Buồn như tiếng Việt, Trang nằm
đau rên.
Ai nấy nghe nhường quên mệt
mỏi,
Rõ tiếng đàn đại nội Trung Hoà.
Tây sơn quan khách la đà,
Mải vui quên cả tiếng gà tan
canh.
Tố Hữu dịch theo thể lục bát
Có người đẹp ở Long thành,
Họ tên không rõ nổi danh nguyệt
cầm.
Cô Cầm tên gọi tri âm,
Khúc đàn Cung phụng thâm trầm
triều xưa.
Ngón tay nàng vuốt tiếng tơ,
Nhạc hay những tưởng trời đưa
xuống trần.
Nhớ thời trai, đã một lần,
Tiệc vui hồ Giám, giai nhân bên
mình.
Tuổi chừng hai mốt xuân xanh,
Áo hồng mờ trước mặt xinh hoa
đào.
Hơi men đỏ má, yêu sao!
Năm cung réo rắt, thấp cao đổi
dòng.
Tiếng khoan gió thoảng rừng

Tóc hoa râm mặt võ mình gầy.
Bơ phờ chẳng sửa đôi mày,
Tài hoa ai biết đất này không hai!
Thoáng mấy tiếng, thầm rơi giọt
lệ,
Lọt tai mà như xé tấc son!
Giật mình hai chục năm tròn,
Tiệc bên hồ Giám người còn chưa
quên.
Cuộc thương hải tang điền thấm
thoắt,
Cõi nhân gian thành quách đổi
đời,
Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi,
Mà làng ca vũ một người còn trơ!
Ngàn trăm năm thì giờ chớp mắt,
Lệ thương tâm ướt vạt áo là
Nam về đầu bạc ngẫm ta,
Trách gì hương phấn bông hoa
chẳng tàn!
Trừng trừng đôi mắt mơ màng,
Quen mà hoá lạ nghĩ càng thêm
thương.
[17]

Đua nhau tả hữu đổi bên,
Xem như bùn đất, vung tiền
thưởng ca.
Vương hầu cũng kém hào hoa,
Ngũ Lăng niên thiếu vào ra bao

Biết bao chìm nổi biển dâu,
Đổi dời thành quách, khác mau
việc đời.
Tây Sơn cơ nghiệp tan rồi,
Chỉ còn sót lại một người múa ca.
Trăm năm chớp mắt ngày qua,
Đau lòng việc cũ, xót xa lệ sầu.
Nam ra, ta đã bạc đầu,
Trách gì người đẹp sắc màu tàn
phai.
Nhớ xưa, mở mắt nhìn ai,
Thương thay giáp mặt, cả hai ngỡ
ngàng.
[18]


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status