96
dục.
VI. MÔI TRƯỜNG VĂN HOÁ GIÁO DỤC Ở KHU
VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM [IO]
Môi trường sống có ảnh hưởng. mạnh đến việc hình
thành nếp sống, thói quen của con 'người. Sinh viên các
trường đại học khu vực miền núi phía Bắc đã sống trong
điều kiện môi trường kinh tế - xã hội có tính ổn định trong
một thời gian dài. Mặt khác, sau khi ra trường phần lớn
trong số họ sẽ
làm việc trong môi trường họ đã sống và
đang có sự biến đổi lớn về kinh tế - xã hội. Do đó, việc
nghiên cứu về môi trường văn hoá - giáo đục của khu vực
có ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo dục và đào tạo.
Muốn thực hiện các biện pháp giáo dục có hiệu quả, việc
cần thiết là phải hiểu môi trường sống và hoạt động của đối
tượng. Trong hàng loạt yếu tố đó phải kể đến yếu tố môi
trường sống được đặc trưng bởi yếu tố xã hội, văn hoá.
Nghiên cứu đặc điểm xã hội trên một phạm vi không gian
rộng lớn, phức tạp về nhiều mặt, có nhiều biến đổi trong
tiến trình lịch sử là một vấn đề khó.
Theo quan điểm lịch sử,
đặc điểm xã hội miền núi phía
Bắc Việt Nam được nghiên cứu ở các giai đoạn sau:
Trước cách mạng tháng Tám: Đặc điểm xã hội Việt
Nam nói chung và miền núi phía Bắc Việt Nam nói riêng bị
chi phối bởi quan hệ thực dân - nửa phong kiến, đồng thời
chịu sự chi phối quan hệ nội tại của từng dân tộc. Điều kiện
kinh tế thời kì này cực kì khó khăn, b
ị hạn chế về nhiều
lớn cho miền Nam. Miền núi phía Bắc Việt Nam là cửa ngõ
giao tế với Liên Xô, Trung Quốc, là nơi hậu thuẫn cho các
cơ quan, nhà máy, trường học sơ tán trong suốt cuộc chiến
tranh phá hoại ở miền Bắc. Cho đến nay, về phương diện
tâm lí - xã hội, các dân tộc anh em đã kết tụ nhiều giá trị
quý báu. Có thể kể đến các phẩm chất: yêu nước nồng nàn;
đ
oàn kết yêu thương đùm bọc nhau; trung thực, dũng cảm;
có niềm tin sắt đá. Với những tên gọi đậm đà chất “ miền
núi” rất đỗi thân thương đã in đậm vào tâm trí nhiều thế hệ,
như Việt Bắc; Tây Bắc; Trung du; Chiến khu Nhiều hình
ảnh đã được khắc họa sâu đậm và trở thành hình tượng tiêu
98
biểu cho văn học nghệ thuật giai đoạn kháng chiến, phản
ánh những giá trị tinh thần quý báu của đồng bào các dân
tộc dành cho cách mạng. Những giá trị ấy còn tồn tại, phát
triển và ảnh hưởng tác động mạnh đến sự trưởng thành của
sinh viên khi họ sống trong môi trường xã hội tại địa
phương. Những giá trị này được biểu hiện trong lối sống
văn hoá, trong giao lưu, trong đời s
ống tinh thần của các
dân tộc và điều quan trọng là nó đã trở thành tự nhiên, như
sự vốn có, đã in đậm vào lối sống, đời sống tình cảm và
được xem như là cốt cách của các dân tộc miền núi, có thể
nói là giá trị vĩnh cửu của cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Mỗi dân tộc, mỗi vùng đều gắn với điều kiện tự nhiên và có
đặc trưng sả
n xuất riêng. Người Kinh cư trú chủ yếu ở đồng
bằng, vùng núi thấp, gắn với nền sản xuất lúa nước. Người
lịch sử phát triển văn hoá dân tộc cũng khác nhau. (Dẫn
theo Trần Quốc Vượng (chủ biên): Cơ sở văn hoá Việt
Nam, NXB Giáo dục, H., 1999).
Trong quá trình phát triển, bên cạnh các thuận lợi và kết
quả tết đẹp cũng xuất hiện những mâu thuẫn và những khó
khăn. Ví dụ, sự phát triển và ảnh hưởng mạnh của kinh tế
thị trường có tính chấ
t đòi hỏi nhanh, rõ ràng mâu thuẫn
với sự chậm chạp trong phát triển kinh tế xã hội ở miền núi.
Tác động mạnh và hết sức năng động của nền văn hoá đa
dạng (do kinh tế thị trường đem lại từ hội nhập, giao lưu
trong nước và ngoài nước) đã mâu thuẫn với sự ổn định có
tính chất tương đối về văn hoá - xã hội miền núi
đã tạo sự
thay đổi theo hướng tích cực, đồng thời cũng xuất hiện các
tệ nạn xã hội.
Sự di chuyển cơ học của con người cùng với lối sống ở
hai vùng: Từ vùng chậm phát triển đến vùng phát triển đã
làm tăng cơ hội giao lưu, song cũng xuất hiện những đan
xen phức tạp.
Việc mở cửa biên giới 20 năm qua
đã làm thay đổi tích
cực đời sống nhân dân, góp phần làm tăng trưởng kinh tế
địa phương, song cũng xuất hiện các tệ nạn như: buôn lậu,
ma tuý và kéo theo đó là hiện tượng thương trường hoá
đời sống văn hoá tinh thần trong khi phần lớn dân cư chưa
100
có sự chuẩn bị tiếp nhận. Đặc biệt là hiện tượng bùng nổ
các mỏ đào đãi vàng, đá quý, quặng hiếm với cách khai
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩ
a, kinh tế miền núi bên cạnh những
101
thuận lợi, còn phải chịu sự tác động tiêu cực của mặt trái do
kinh tế thị trường đem lại. Những tác động này làm thay
đổi các giá trị xã hội. Có thể kể đến các yếu tố sau đây
đang tồn tại trong xã hội: Lối sống thực dụng, quay lưng
với quá khứ, vọng ngoại; mưu cầu lợi ích riêng, chà đạp lên
chuẩn mực xã hội; sùng bái đồng tiền, tự ti mặ
c cảm, tiếp
thu thiếu chọn lọc; tính tự phát trong trở về cái cũ, khôi
phục tập tục xấu; tồn tại các loại hình phản văn hoá.
Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài, chiến lược này là tiền đề quyết định
cho phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá. Sau hơn nửa thế kỉ
phát triển giáo dục, giáo dục miền núi đã đạt được nhiề
u
thành tựu quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội
của địa phương và đất nước. Song, hiện nay giáo dục miền
núi còn rất nhiều khó khăn.
Chất lượng học tập của học sinh miền núi còn thấp, tỉ lệ
ra lớp thấp; điều kiện học tập của học sinh miền núi còn
khó khăn Giáo dục miền núi.còn nhiều vấn đề phải giả
i
quyết đòi hỏi các giải pháp phải được tiến hành đồng bộ.
Kinh tế miền núi chậm phát triển, sự phân hoá giàu
nghèo có xu hướng gia tăng. Chất lượng cuộc sống của
đồng bào các dân tộc còn thấp, nhiều dân tộc còn gặp khó
tộc. (Xem thêm - Phạm Hồng Quang: Giáo dục bản sắc văn
hoá dân tộc cho sinh viên sư phạm, NXB Đại học Quố
c gia
Hà Nội, H., 2003).
Một vấn đề cần quan tâm trong giáo dục sinh viên hiện
nay là theo định hướng giáo dục lối sống có văn hoá.
Chúng ta đều biết rằng, giáo dục là một hệ thống định
hướng theo mục tiêu, do đó nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn
hoá dân tộc cho sinh viên cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo hướng vào mục tiêu đào tạo toàn diện con
người.
Đảm b
ảo phát huy được vai trò chủ thể của nhân cách
sinh viên, đồng thời là đối tượng của giáo dục.
Đảm bảo tính nguyên tắc trong tổ chức các hoạt động
phải bám sát hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập -
nghiên cứu của sinh viên.
103
- Các biện pháp phải tác động đồng thời lên nhận thức,
thái độ, hành vi của sinh viên; trong đó, phải coi trọng việc
tổ chức các hoạt động cho sinh viên.
- Các biện pháp đề xuất trong điều kiện khả thi, có thể
kiểm soát được, có thể đánh giá được.
Như vậy, những yếu tố môi trường, hoàn cảnh sống
trước đó và trong tương lai của sinh viên các trường sư
phạm miề
n núi đã đặt ra cho các nhà giáo dục phải quán
triệt quan điểm hệ thống, quan điểm lịch sử, quan điểm
phát triển để tiếp cận nghiên cứu về giáo đục. Về phương
định hướng đúng đắn về phương pháp luận biện chứng,
nhận thức đầy đủ quy luật hình thành và phát triển nhân
cách với những yêu cầu về phẩm chất và năng lực nghề
nghi
ệp. Đồng thời, có tính đến tính chất lịch sử - xã hội cụ
thể của yếu tố môi trường trước khi sinh viên nhập học và
tác động của môi trường sư phạm trong quá trình giáo dục
nghề cũng như phạm vi môi trường hoàn cảnh sống và làm
việc của họ trong tương lai. Dù trong điều kiện nào, tính
chất chủ động và thích nghi của các giáo sinh sư phạm cần
được xác định là tiêu chí quan trọng của ph
ẩm chất nhân
cách người giáo viên tương lai. Trong đó, họ cần có năng
lực để dẫn dắt thế hệ đi sau chiếm lĩnh, xây dựng và cải tạo
môi trường theo nguyên lí chung của giáo dục học.
Tóm lại sự hình thành và phát triển nhân cách con người
được diễn ra trong môi trường xã hội nhất định. Sự phát
triển tất yếu của yếu tố môi trường kinh tế - xã hội, khoa
học công nghệ đặ
c biệt là sự phát triển của môi trường
giáo dục trong kinh tế thị trường đã có nhiều biến động làm
thay đổi tính chất các quan hệ, các giá trị. Nhân cách người
giáo viên và của giáo sinh sư phạm chịu tác động sâu sắc
của yếu tố môi trường xã hội, nhưng các yếu tố cơ bản của
năng lực và phẩm chất đã được hình thành về cơ bản vẫn
được giữ vữ
ng.
Nghiên cứu vấn đề môi trường đối với sự hình thành và
phát triển nhân cách đã xác định các yếu tố của môi trường
học tập góp phần tạo ra năng lực nền tảng cho các hoạt