đề tài tập đọc lớp 4 - Pdf 16


MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
MỞ ĐẦU
2
lý do chọn đề tài
2
phạm vi đề tài 3
Chương 1 4
Chương 1 6
Kết quả 17
KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT 24
KẾT LUẬN 24
Ý kiến đề xuất 25

MỞ ĐẦU
1-lý do chọn đề tài
Dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học.Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với
những người đi học.Đầu tiên các em phải học đọc,sau đó phái đọc để học.Đọc giúp các em chiếm

môn Tập đọc.
3.Mục tiêu, đặc trưng bộ môn:
Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc ngày càng thành thạo. Rèn tốt cả hai hình thức đọc:
Đọc thành tiếng và đọc thầm. Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng
sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống. Giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, tâm hồn cho
học sinh. Đáp ứng với mục tiêu đào tạo của bậc tiểu học:
“Giáo dục con người phát triển toàn diện”.
NỘI DUNG
Chương 1
Đánh giá hiện trạng trong năm học
Để có biện pháp, phương pháp dạy đọc tốt, chúng ta hãy nhìn lại và đánh giá hiện trạng
trong năm học.
1.1.Thuận lợi:
Các bài tập đọc được đưa vào phân môn tập đọc và được trình bày ở đầu sách Tiếng Việt
mỗi tập. Mỗi tuần có hai bài tập đọc cũng là 2 tiết.
Về nội dung, các bài tập đọc lớp 4- 5 xoay quanh ba chủ đề: “ Măng non” ( 10 bài ở lớp 4,
14 bài ở lớp 5), “ Đất nước” ( 28 bài ở lớp 4, 52 bài ở lớp 5 ), “ Nhân dân” ( 28 bài ở lớp 4 ).
Bài tập đọc ở sách học sinh lớp 4 - 5 gồm các phần:

hình để giảng từ và ý chưa được sử dụng thường xuyên.
Chương 2
Trong một giờ tập đọc chúng tôi luôn chú ý : Rèn cho học sinh kỹ năng đọc ngày càng thành
thạo. Đây là yêu cầu có tính đặc trưng của phân môn tập đọc. Dạy tập đọc cho học sinh chính là
quá trình làm việc của thầy và trò để thực hiện hai hình thức: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Đây
chính là: “ Hai biện pháp dạy đọc”. Hai hình thức đọc này gắn bó chặt chẽ với nhau, cộng tác
cùng thực hiện để đạt một mục đích cuối cùng của đọc: Thông hiểu nội dung văn bản.
Chất lượng đọc thành tiếng bao gồm 4 phẩm chất: Đọc đúng, đọc nhanh ( lưu loát ), đọc có ý
thức ( thông hiểu nội dung văn bản ) và đọc diễn cảm.
Chất lượng của đọc thầm chỉ gồm 3 phẩm chất đầu, đọc diễn cảm không được bàn đến khi
nói về đọc thầm.
2.1. Chuẩn bị cho việc đọc
Chúng tôi luôn chú ý đến tư thế đọc của học sinh. Khi ngồi đọc cần ngay ngắn, khoảng cách
từ mắt đến sách khoảng 30 - 35 cm, cổ và đầu thẳng. Khi cô giáo gọi đọc phải bình tĩnh, tự tin,
không hấp tấp đọc ngay. Tư thế đứng đọc phải đàng hoàng, thoải mái, sách phải được mở rộng và
cầm bằng hai tay.
Chúng tôi luôn cho học sinh hiểu khi đọc thành tiếng: Các em đọc không phải chỉ cho mình
cô giáo mà để cho tất cả các bạn trong lớp cùng nghe, nên cần đọc đủ cho tất cả nghe rõ. Nhưng
không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên. Đối với học sinh đọc quá nhỏ “ lý nhí”, chúng tôi kiên
nhẫn luyện và động viên các em đọc to dần.
2.2. Luyện đọc đúng.

Đường ra tiền tuyến / nở vàng hoa mai”
Với thể thơ 5 chữ, nhịp 3/ 2, 2 /3 trong bài “ Rừng mơ”:
“ Rừng mơ / ôm lấy núi
Mây trắng / đọng thành hoa
Gió chiều đông / gờn gợn
Hương bay gần / bay xa”.
Đối với một bài thơ, đoạn văn, câu văn học sinh đọc cá nhân thành tiếng chưa ngắt nghỉ hơi
đúng, tôi cho một học sinh khác đứng tại chỗ hoặc lên bảng đấnh dấu lại chỗ ngắt, nghỉ hơi và
cho cả lớp đọc đồng thanh.
Ví dụ dạy bài: “ Những chú gà xóm tôi”.
Chúng tôi cho học sinh lên bảng: Đánh dấu chỗ ngắt và gạch dưới những từ ngữ cần nhấn
giọng ( Vì học sinh đọc cá nhân chưa biết cách ngắt nghỉ).
“ Đột ngột,/ nó quay lại/ nện cho chó Vện một đá vào đầu / rồi nhảy phốc lên cổng chuồng trâu
/ đứng nhìn xuống tỏ vẻ phớt lờ./”
Sau đó cho cả lớp đọc đồng thanh. Việc đọc đồng thanh trong giờ tập đọc làm cho không khí
lớp học vui tươi, phù hợp với lứa tuổi tiểu học. Tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều tham gia
vào đọc thành tiếng. Tuỳ theo từng bài, tuỳ vào mức độ đọc của học sinh mà giáo viên cho học
sinh đọc đồng thanh cả bài hay đọc 1 đến 2 câu văn, đoạn văn khó.
Với bài thơ” Hành quân giữa rừng xuân”, tôi cho học sinh đọc đồng thanh cả bài. Bài “
Phong cảnh Pác Bó”, tôi cho học sinh đọc đồng thanh 2 lần: Lần 1 đọc đoạn văn khó “ Vùng
này đầu núi” . Lần 2 đọc câu văn dài “ Sau bao năm người Nùng”.
.2.3. Luyện đọc lưu loát:
.3.1. Khái niệm:
Đọc lưu loát là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, đọc không ê a, ngắc ngứ. Tốc độ đọc
nhanh chỉ thực hiện được khi đã đọc đúng. Khi đọc phải chú ý xác định tốc độ để cho người nghe
hiểu kịp được.
Nhưng đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi
đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói. ( Tốc độ đọc thành tiếng lớp 4: 120 tiếng/ phút; lớp
5: 150 tiếng/ phút ). Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều.
3.2. Biện pháp:

quân. Hỏi cách đọc đoạn 2, học sinh trả lời: Nhấn giọng ở các từ ngữ gợi cảm, gợi tả: Biết mấy
dặm dài nhớ thương, dõi, thánh thót,
xanh biếc, bề bộn Lưu ý cách ngắt nhịp các câu thơ. Đọc rõ ràng, dứt khoát câu:
“ Đêm mưa ngày nắng sá gì
Quân thù còn đó, ta đi chưa về”
Thể hiện ý chí quyết tâm đánh giặc của người chiến sĩ. Chúng tôi thấy cách này rất hay, học
sinh dễ nói được cách đọc từ việc hiểu nội dung, nghệ thuật và có cách đọc đúng, diễn cảm. Cách
dạy này được chúng tôi thực hiện trong tất cả các tiết dạy tập đọc.
Một giờ tập đọc chúng tôi cho học sinh đọc thầm nhiều lần. Đồng thời chúng tôi giao nhiệm
vụ cho học sinh trong khi đọc thầm để kiểm tra kỹ năng đọc hiểu.
Ví dụ dạy bài : “ Phong cảnh Pác Bó”.
Đọc thầm lần 1: Sau khi giới thiệu bài xong, 1 học sinh khá đọc toàn bài, đồng thời cả lớp
đọc thầm theo bạn để nắm được nội dung của bài.
Đọc thầm lần 2: Trước khi tìm hiểu nội dung đoạn 1, cho 1 học sinh đọc đoạn 1. Cả lớp đọc
thầm theo. Giáo viên giao nhiệm vụ: Tìm từ ngữ chỉ cảm xúc của tác giả khi trở về Tổ quốc.
Đọc thầm lần 3: Trước khi tìm hiểu nội dung đoạn 2,1 học sinh đọc đoạn 2. Đồng thời cả lớp
đọc thầm. Giáo viên giao nhiệm vụ: Tìm nét đẹp của phong cảnh Pác Bó.
Đọc thầm lần 4: Trước khi tìm hiểu nội dung đoạn 3, gọi 1 học sinh đọc đoạn 3. Đồng thời cả
lớp đọc thầm. Giáo viên giao nhiệm vụ: Tìm xem cuộc sống của Bác Hồ ở đây như thế nào?
Như vậy là tôi đã cho học sinh đọc thầm trước khi phân tích nội dung bài, đồng thời với đọc
cá nhân thành tiếng để học sinh nắm được nội dung văn bản và từ đó có cách đọc đúng. Như vậy
đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa đọc thành tiếng và đọc thầm.
Để giúp học sinh đọc hiểu tốt, chúng tôi đã chuẩn bị hệ thống câu hỏi để học sinh nêu nội
dung, nghệ thuật, cách đọc bài. Chúng tôi chú ý các câu hỏi để học sinh tìm hiểu nghĩa của từ, đặt
câu để làm rõ nghĩa từ; tìm các từ gần nghĩa, cùng nghĩa, trái nghĩa
Ví dụ: Tìm hiểu đoạn 1 bài “ Phong cảnh Pác Bó”, chúng tôi đặt các câu hỏi sau:
+ Tìm những từ ngữ bộc lộ cảm xúc của tác giả khi đặt chân lên dải đất quê hương? ( Bồi hồi,
ấm áp, như đã ở gần nhà).
+ Con hiểu nghĩa của từ “ bồi hồi” như thế nào? ( cảm xúc vừa hồi hộp vừa vui sướng ).
+ Đặt câu với từ “ bồi hồi”? ( Em bồi hồi nhớ người bạn cũ ).

các tác phẩm có nhiều lời hội thoại ).
Vì vậy, trong giờ tập đọc lớp chúng tôi các em rất thích tham gia đọc diễn cảm.
Đọc diễn cảm chỉ có được trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc diễn cảm yêu cầu đọc đúng
giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm phù hợp với từng ý cơ bản của bài đọc, phù hợp với
kiểu câu, thể loại, đọc có cảm xúc cao, biết nhấn giọng ở từ ngữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt lời
nhân vật, lời tác giả.
Để đọc diễn cảm, người đọc phải làm chủ được chỗ ngắt giọng ( kỹ thuật ngắt giọng biểu
cảm ), làm chủ được tốc độ đọc ( độ nhanh, chậm, chỗ ngân hay dãn nhịp đọc ), làm chủ cường
độ giọng ( đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay không ) và làm chủ ngữ điệu ( độ cao của giọng đọc,
lên giọng hay hạ giọng ).
Ở tiểu học, khi nói đến đọc diễn cảm, người ta thường nói về một số kỹ thuật như ngắt giọng
biểu cảm, sử dụng tốc độ và ngữ điệu.
Ngắt giọng biểu cảm là phương tiện tác động đến người nghe, thiên về cảm xúc. Ngắt giọng
biểu cảm là những chỗ lắng, sự im lặng có tác dụng truyền cảm, góp phần tạo nên hiệu quả nghệ
thuật cao. Đó là sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật.
Ví dụ với bài “ Tiếng hát mùa gặt”, tôi hướng dẫn học sinh câu: “ Mành sân ” có 2 cách
ngắt:
+ Nếu ngắt “ Mảnh sân trăng / lúa chất đầy” thì chỉ có lúa đầy sân.
+ Nếu ngắt “ Mảnh sân / trăng lúa chất đầy” thì hay hơn vì cả lúa, cả ánh trăng chất đầy sân.
Câu thơ giàu hình ảnh, thật nên thơ
Câu cuối của bài thơ “ Nói với em”: Nhắm mắt rồi lại mở ra ngay ( Khi nhắm mắt nghĩ về
cha mẹ ) nếu ngắt giọng sau “ Nhắm mắt rồi” thì sẽ có hiệu quả nghệ thuật cao hơn so với ngắt
giọng bình thường vì ngắt giọng như vậy sẽ tăng âm lượng của bài thơ cho bốn tiếng cuối “ Lại
mở ra ngay”, gây sự tập trung chú ý và thôi thúc phải trả lời tại sao nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ
thì lập tức phải mở ra ngay.
Dạy bài “ Tình quê hương” - Tập đọc lớp 5, tôi hướng dẫn cách đọc ở cuối câu: “ Thôi / tôi
nhớ ra rồi ngắt giọng ở từ “ thôi” để người nghe thêm chú ý, hiểu cảm xúc sâu sắc của anh
bộ đội đối với xóm làng là mùi vị quê hương, một thứ mùi vị rất khó tả nhưng lại rất quen thuộc
như đã ngấm vào máu thịt từ khi còn nhỏ, thu hút và quyến rũ đối với mỗi người.
Tốc độ đọc ảnh hưởng đến sự diễn cảm, đặc biệt là chỗ có thay đổi tốc độ gây sự chú ý, có

Như vậy là lên giọng, xuống giọng khi đọc một bài tập đọc tạo ra một hiệu quả nghệ thuật
cao. Trong từng bài tập đọc, các em cũng cần có giọng đọc thích hợp.
Đọc bài “ Những chú gà xóm tôi”. Học sinh đọc giọng dí dỏm, hài hước để thấy rõ sự ngộ
nghĩnh đáng yêu của ba chú gà này, mỗi chú một tính cách, một hình dáng khác nhau.
Đọc bài “ Trung thu độc lập” giọng tha thiết, thể hiện rõ giọng người anh nói chuyện thân
mật với các em thiếu nhi yêu quí.
Đoạn 1: Nhấn mạnh các từ tả vẻ trong sáng, đẹp đẽ của trung thu độc lập qua các từ: Bao la,
vằng vặc.
Đoạn 2 : Nhấn mạnh các từ ngữ nói lên lòng tin tưởng của anh chiến sĩ ở tương lai của đất
nước như: Các em có quyền, các em sẽ thấy, cũng dưới ánh trăng này
Như vậy, ngữ điệu là sự hoà đồng của chỗ ngừng, tốc độ, chỗ nhấn giọng, cao độ tạo
nên âm hưởng của bài đọc. Đọc diễn cảm không phải là đọc sao cho “ điệu”, thiếu tự nhiên, dựa
vào ý thích chủ quan của người đọc.
Đọc diễn cảm là sự sử dụng ngữ điệu để diễn tả cảm xúc của bài đọc. Hoà nhập được với bài
văn, bài thơ, có cảm xúc sẽ tìm thấy ngữ điệu thích hợp. Chính văn bản qui định ngữ điệu cho
người đọc chứ không phải người đọc tự đặt ra ngữ điệu.
Để đọc diễn cảm hay, chúng tôi luôn đàm thoại cho học sinh hiểu ý đồ tác giả, thảo luận vì
sao đọc như vậy. Sử dụng hình thức đọc phân vai. Hay khi học sinh đọc cá nhân, giáo viên đọc
mẫu, tôi thường đặt câu hỏi: Vì sao đọc như thế? Chỗ nào trong cách đọc của cô làm con thích?
Những học sinh đọc còn kém, chúng tôi kiên trì luyện tập thêm, không bỏ qua mà cũng
không đòi hỏi ráo riết. chúng tôi còn tổ chức theo nhóm để các em khá, giỏi kèm cặp các em kém.
3.6. Chú ý đọc mẫu của giáo viên và ghi bảng:
3.6.1. Đọc mẫu của giáo viên:
Giáo viên đọc mẫu tốt cũng đã dạy học sinh đọc rất nhiều. Bởi vậy, trước giờ tập đọc, chúng tôi
phải nghiên cứu nội dung, cách đọc và tập đọc nhiều lần.
Có nhiều cách đọc mẫu:
+ Đọc mẫu toàn bài: để giới thiệu, gây hứng thú cho học sinh.
+ Đọc câu , đoạn: Giúp học sinh nhận xét, giải thích, tìm ra cách đọc.
Vậy là, tuỳ theo từng bài mà giáo viên đọc cả bài hoặc một đoạn . Đọc vào đầu tiết hay cuối
tiết

Kết quả

1. Với thầy cô giáo
chúng tôi tự thấy đã tìm được hướng đúng, cách làm đúng cho việc dạy tập đọc: Dạy đúng
đặc trưng bộ môn. Tôi thấy rất say sưa, hứng thú khi rèn đọc cho học sinh.
Các tiết dạy tập đọc của tôi không bị biến thành giờ giảng văn, cô giảng là chính, trò chỉ
ngồi nghe nặng nề, khô khan nữa.
Hàng năm, chúng tôi thường dạy hội giảng môn tập đọc được đánh giá cao ( Tiết tốt với 19
điểm ), được đồng nghiệp khen ngợi và học tập. chúng tôi đã nhiều lần được phân công dạy
chuyên đề “ Đổi mới phương pháp dạy tập đọc lớp 4,5” cho cả trường dự, đạt kết quả tốt. Năm
học 1999 -2000, tôi cũng vinh dự được Phòng giáo dục cử dạy chuyên đề tập đọc lớp 4 cho cả
Quận học tập.
chúng tôi đã được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp Quận môn Tiếng việt nhiều năm liền,
liên tục từ năm học 1988 đến nay.
2. Với học sinh:
Học sinh lớp chúng tôi không còn ngại ngùng, e dè khi đọc diễn cảm trước cả lớp ( hay lúc
có đông người dự), hoặc không còn đọc qua loa, nhanh nhanh cho xong bài.
Kết quả được thể hiện ở cuối năm học 1999 -2000 như sau:
Lớp 4E. Sĩ số: 55
Kết quả Đọc : Giỏi 15 em ( 27,3% ); Khá 24 em ( 43,6% ); Trung bình 16 em ( 29,1% ). Yếu:
0
Số học sinh đọc kém, lý nhí không còn nữa. Số học sinh đọc đúng, diễn cảm đã tăng
lên nhiều.
Giáo án chuyên đề tập đọc lớp 4

Pác Bó là một địa danh nổi tiếng ở nước ta. Đây là nơi Bác ở và làm việc sau khi từ nước
ngoài về trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Phong cảnh và cuộc sống của Bác ở Pác Bó
thế nào? Qua bài tập đọc “ Phong cảnh Pác Bó” chúng ta sẽ rõ.
Bài văn viết theo thể hồi ký. Trích trong “ Từ Pác Bó đến Tân Trào” do nhà văn Hữu Mai ghi lại
theo lời kể của đại tướng Võ Nguyên Giáp.
+ 1 học sinh khá đọc toàn bài. Cả lớp đọc thầm theo.
+ 1 học sinh đọc chú giải.
+ giáo viên sử dụng bản đồ giảng: Pác Bó là tên một hang núi ở huyện Hà Quảng, tỉnh Cao
Bằng, sát biên giới Việt Trung. Pác Bó tiếng Nùng có nghĩa là nguồn suối.
3.3.2. Hướng dẫn tìm hiểu bài và luyện đọc:
Dẫn ý 1: Trước cách mạng tháng 8, nhiều cán bộ phải ở nước ngoài hoạt động cách mạng để
cứu nước. Khi trở về Tổ quốc, đặt chân đến biên giới mọi người đều có những tình cảm thắm
thiết với quê hương.
+ 1 học sinh đọc đoạn 1. Cả lớp đọc thầm theo. Tìm từ ngữ chỉ cảm xúc của tác giả khi trở về
Tổ quốc.
+ Tìm những từ ngữ bộc lộ cảm xúc của tác giả khi đặt chân lên dải đất quê hương? ( Bồi hồi,
ấm áp, như đã ở gần nhà ).
+ Con hiểu nghĩa của từ “ Bồi hồi” như thế nào? ( Cảm xúc vừa hồi hộp vừa sung sướng,
thường là nghĩ đến việc đã qua ).
+ Đặt câu với từ “ Bồi hồi”? (
Ví dụ: Em bồi hồi nhớ người bạn cũ.
Hoặc: Được bố mẹ cho về quê thăm bà ngoại, lòng em thấy bồi hồi.
+ Tại sao khi đặt chân lên mảnh đất quê hương, tác giả thấy bồi hồi, ấm áp?
( Nhớ quê hương vì sau nhiều ngày xa cách - Sắp gặp lại người thân - Đến biên giới mọi người
đều xúc động vì như về tới nhà mình, gia đình mình ).
Kể: Phút đầu tiên đặt chân lên mảnh đất quê hương, Bác đã vốc một nắm đất lên tay trong niềm
xúc động dạt dào.
- ý đoạn 1: Cảm xúc bồi hồi của tác giả khi trở về Tổ quốc.
- Để thể hiện cảm xúc bồi hồi ta cần đọc với tình cảm như thế nào?
( Đọc thong thả, giọng nhẹ nhàng. Nhấn giọng ở những từ ngữ thể hiện tình cảm của tác giả: Bồi

Tìm những chi tiết tả cuộc sống của Bác Hồ ở Pác Bó?
( Mặc bộ quần áo Chàm giản dị,rất tự nhiên trong vai một ông già người Nùng, chỗ ngồi gần
những nhũ đá nhấp nhô, hình thù kỳ dị ở hang ẩm lạnh, không có đồ đạc gì, ngoài chiếc sàn
nằm làm bằng những cành cây nhỏ gác ngang, gác dọc).
áo chàm màu gì? ( Màu xanh thẫm - Bác mặc áo người dân tộc Nùng . Bác bình dị như mọi
người.
Con có nhận xét gì về cuộc sống của Bác Hồ ở Pác Bó ngày ấy?
( Đơn sơ, giản dị, còn nhiều thiếu thốn về vật chất và khó khăngian khổ nhưng Bác vẫn lạc quan,
yêu đời).
Tinh thần lạc quan yêu đời thể hiện ở ý nào trong đoạn?
( Đặt tên là núi Các Mác, suối Lê Nin là biểu lộ niềm tin và hy vọng ở cách mạng sẽ thắng lợi).
Đoạn này nêu ý gì? ( Cuộc sống giản dị của Bác Hồ ở Pác Bó )
Hỏi: Cách đọc đoạn này? ( Tình cảm. Đọc đúng ngắt nghỉ ở những câu dài. Nhấn giọng ở những
từ ngữ gợi tả: Góc rừng hoang vắng, quần áo chàm giản dị )
Học sinh đọc đồng thanh câu: “ Sau người Nùng”.
Gọi 3 học sinh đọc, gọi 1 em nhận xét, giáo viên sửa chỗ học sinh ngắt nghỉ sai và cho điểm.
Giáo viên đọc mẫu câu:
“ Bác trỏ dòng nước rồi nói: Đây là suối Lê Nin.
3.3.3. Thi đọc diễn cảm:
Hãy chọn đoạn văn mình thích để đọc?
Gọi 3 học sinh đọc 3 đoạn ( Cầm sách lên bảng đọc).
Học sinh nhận xét - Giáo viên sửa lỗi và cho điểm.
4. Củng cố - Tổng kết:
Gọi 1 học sinh đọc diễn cảm toàn bài ( Cầm sách lên bảng đọc).Giáo viên nhận xét và cho
điểm.
Nội dung chính của bài? ( Cảnh đẹp ở Pác Bó và cuộc sống giản dị, lạc quan của Bác).
Tổng kết:
Với lời văn nhẹ nhàng, thắm đượm tình yêu quê hương, đất nước. Tác giả cho chúng ta thâý
vẻ đẹp của Pác Bó, cuộc sống giản dị, đơn sơ, gian khổ, thiếu thốn về vật chất của Bác nhưng Bác
vẫn lạc quan:

KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT
1. KẾT LUẬN
Trong thời đại ngày nay – thời đại của tri thức và trí tuệ, của khoa học công nghệ và thông tin.
Biết đọc càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin, để đáp ứng yêu cầu
phát triển của xã hội. Dạy đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học là một vấn đề hết sức cần thiết nó
có ý nghĩa rất lớn để kích thích sáng tạo của học sinh, mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm, nhân cách cho học sinh. Qua các bài Tập đọc, học sinh còn được cung cấp vốn từ ngữ,
năng lực diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học. Từ đó nâng cao trình độ văn hoá nói
chung và trình độ Tiếng Việt nói riêng.
Vậy để nâng cao hiệu quả dạy đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4, 5. Đòi hỏi mỗi giáo viên chúng
ta phải nỗ lực hết mình, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư suy nghĩ sáng tạo làm cho
các em say mê, hứng thú hoạt động học tập…Chúng tôi đó nghiên cứu, tìm tòi và đưa ra 5 biện
pháp để nâng cao hiệu quả dạy đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh trường
Tiểu học Nguyễn Thị Minh KHai nói riêng:
Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng một cách linh hoạt, khéo léo.
Biện pháp 2: Khai thác giọng đọc của học sinh thông qua việc tìm hiểu nội dung bài đọc.
Biện pháp 3: Giáo viên đọc mẫu diễn cảm.
Biện pháp 4: Luyện tập thực hành đọc diễn cảm văn bản.
Biện pháp 5: Xây dựng không khí hào hứng, say mê học tập cho học sinh bằng cách tổ chức trò
chơi học tập trong giờ Tập đọc.
Các biện pháp trên qua thực tế thực nghiệm ở trường Tiểu học Phạm Ngũ Lão đó thu được
kết quả khả quan - Vì vậy có thể mở rộng hơn. Do thời gian thực nghiệm đề tài và trình độ có hạn
nên đề tài của chúng tôi mới chỉ dừng lại ở phạm vi nhỏ, sự thực nghiệm còn chưa nhiều. Song
tôi tin chắc rằng với những giải pháp này, bằng sự sáng tạo của mình các giáo viên sẽ vận dụng
có hiệu quả trong quá trình dạy học đọc diễn cảm ở các lớp 4, 5 – Chúng tôi rất mong sự đóng
góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp.
2. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
Trên thực tế dạy học ở trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai – Huyện Long Điền – Bà Rịa
Vũng Tàu . Chúng tôi có một số đề xuất sau:
- Để giúp giáo viên thực hiện soạn giảng đạt kết quả cao thì các cấp cần cung ứng các tài liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status