Kế toán các khoản thanh toán & phân tích tình hình công nợ, khả năng thanh toán tại Công ty Cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây - Pdf 16

Lêi nãi ®Çu
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thường xuyên phát sinh các
nghiệp vụ thanh toán, phản ánh mối quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người
mua, người bán, với ngân sách…Vì vậy, nguời quản lý không chỉ quan tâm tới doanh
thu, chi phí lợi nhuận, cái mà họ phải thường xuyên nắm bắt chính là tình hình thanh
toán.Tình hình thanh toán cho biết khả năng tài chính của một doanh nghiệp, nó
quyết định rất lớn tới sự tồn tại, phát triển hay đi tới phá sản của doanh nghiêp đó.
Thông qua các nghiệp vụ thanh toán người quản lý có thể trả lời các câu hỏi như:
Tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa ra sao? khả năng thu hồi công nợ như thế nào?
doanh nghiệp có bị chiếm dụng vốn hay không? tình hình thanh toán đối với nhà
cung cấp có theo đúng hợp đồng không và việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước như
thế nào?...Đồng thời thông qua các số liệu để phân tích khả năng tài chính của doanh
nghiệp, tình hình thanh toán công nợ như vậy có đảm bảo vốn lưu động kinh doanh
hay không hoặc có đủ khả năng tài chính để kí kết các hợp đồng mới không, nếu
không thì cần có những biện pháp gì để huy động vốn…Nghiệp vụ thanh toán xảy ra
ở cả trong quá trình mua hàng và quá trình tiêu thụ, nó có liên quan mật thiết với các
nghiệp vụ quỹ và nghiệp vụ tạo vốn. Nếu như dòng tiền được ví như dòng máu lưu
thông trong cơ thể thì các nghiệp vụ thanh toán chính là những hoạt động co bóp của
trái tim để dòng máu đó có thể lưu thông. Như vậy có thể nói nghiệp vụ thanh toán có
một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, nó góp phần duy
trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Qua thời gian tìm hiểu tại Công ty cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây, nhận
thức được tầm quan trọng của công tác kế toán các khoản thanh toán nên em đã chọn
đề tài: “Kế toán các khoản thanh toán và phân tích tình hình công nợ, khả năng
thanh toán tại Công ty cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây” cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài do hạn chế về kinh nghiệm thực
tế nên luận văn của em sẽ không tránh những thiếu sót về nội dung khoa học cũng
như phạm vi, yêu cầu nghiên cứu.Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo
1
của các thầy cô giáo cũng như các cán bộ kế toán của công ty để luận văn của em

thuc vo yờu cu qun lý.
Phõn loi cỏc nghip v thanh toỏn l vic phõn chia, sp xp cỏc nghip v
thanh toỏn thnh tng loi, tng nhúm theo nhng tiờu thc nht nh phc v cho
yờu cu hch toỏn v qun lý ca DN.
-Cn c theo ngun gc phỏt sinh, cỏc khon thanh toỏn trong DN c chia
thnh cỏc khon phi thu v cỏc khon phi tr:
3
+ Các khoản phải thu: là các khoản mà DN phải thu của các đơn vị, tổ
chức, cá nhân còn nợ DN phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó
là một bộ phận thuộc tài sản của DN đang bị các đối tượng trên chiếm dụng mà DN
có trách nhiệm phải thu hồi. Các khoản phải thu trong DN bao gồm: Các khoản phải
thu của khách hàng; Các khoản thuế GTGT đầu vào được khấu trừ; Các khoản phải
thu nội bộ; Các khoản tạm ứng cho CNV; Các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ; Các
khoản phải thu khác.
+ Các khoản phải trả: là các khoản mà DN còn nợ chưa trả các đơn vị,
tổ chức, cá nhân phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó là một bộ phận
thuộc nguồn vốn của DN được tài trợ từ các đối tượng trên mà DN có trách nhiệm
phải trả. Các khoản phải trả trong DN bao gồm: Các khoản tiền vay của ngân hàng,
của các tổ chức kinh tế và các cá nhân để bổ sung cho nhu cầu nguồn vốn của DN;
Các khoản phải trả cho người bán vật tư, hàng hóa hay người cung cấp dịch vụ cho
DN; Các khoản phải nộp cho Nhà nước bao gồm các loại thuế, phí, lệ phí; Các khoản
phải trả cho CNV: tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp BHXH; Các khoản được phép
trích trước vào chi phí sản xuất kinh doanh nhưng thực tế chưa phát sinh; Các khoản
phải trả nội bộ trong DN; Các khoản phải trả, phải nộp khác; Các khoản phải trả do
nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn, dài hạn.
- Căn cứ vào thời hạn thanh toán thì các khoản thanh toán được chia ra thành
các khoản phải thu, phải trả, ngắn hạn và các khoản phải thu, phải trả dài hạn:
+ Các khoản phải thu, phải trả ngắn hạn: là các khoản thanh toán có
thời hạn phải thu, phải trả không quá một năm.
+ Các khoản phải thu, phải trả dài hạn: là các khoản thanh toán có thời

Là một bộ phận trong toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh của DN, hoạt động thanh toán diễn ra thường xuyên và liên tục
trong các khâu cung ứng và tiêu thụ. Hoạt động sản xuất kinh doanh không thể diễn
ra một cách bình thường nếu không có các nghiệp vụ thanh toán. Quá trình tái sản
xuất là quá trình thay đổi hình thái vật chất T –H –T, trong đó cơ sở của quá trình T-
H hay H-T chính là trao đổi mà trao đổi thì tất yếu phải phát sinh quan hệ thanh toán,
vì vậy có thể nói rằng hoạt động thanh toán là một trong các hoạt động rất quan
trọng, là cầu nối của quá trình sản xuất. Nền kinh tế ngày càng phát triển thi các
5
nghiệp vụ kinh tế ngày càng đa dạng, đồng thời với nó là sự đa dạng trong các nghiệp
vụ thanh toán của DN.
Chính vì tầm quan trọng của việc ổn định và an toàn của tình hình tài chính
nói chung và khả năng thanh toán nói riêng, thêm vào đó là sự đa dạng, phức tạp
cùng với số lượng các nghiệp vụ thanh toán ngày càng lớn dẫn đến yêu cầu quản lý
ngày càng chặt chẽ và khoa học hơn đối với các nghiệp vụ này. Công tác kế toán
thanh toán là một công cụ đắc lực cho các nhà quản trị điều hành DN.
1.1.3. Nhiệm vụ kế toán các khoản thanh toán
Kế toán các khoản thanh toán cũng phải thực hiện các nhiệm vụ chung của
hạch toán kế toán, song được cụ thể thành các nhiệm vụ sau:
-Theo dõi ghi chép, phản ánh một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác các
khoản nợ phải thu, phải trả và tình tình thanh toán các khoản nợ đó, trên cơ sở đó mà
kiểm tra kiểm soát tình hình quản lý và sử dụng tài sản của DN trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh, phát hiện và ngăn chặn tình trạng chiếm dụng vốn hoặc bị
chiếm dụng vốn, tình hình vi phạm kỷ luật thanh toán.
-Tổ chức kế toán chi tiết về các khoản thanh toán theo từng đối tượng có quan
hệ thanh toán, từng khoản nợ theo các chỉ tiêu: tổng số nợ phải thu, phải trả; số đã
thu, đã trả; số còn phải thu, phải trả; thời hạn phải thu, phải trả.
-Cung cấp kịp thời những thông tin về tình hình công nợ phải thu, phải trả và
tình hình thanh toán công nợ cho chủ DN và các cán bộ quản lý DN làm cơ sở, căn
cứ cho việc đề ra những quyết định hợp lý trong việc chỉ đạo quá trình sản xuất kinh

mua trong trường hợp bán chịu hoặc nhận tiền trả trước của người mua, từ đó hình
thành các khoản nợ phải thu, phải trả với khách hàng.
- Quan hệ thanh toán giữa DN với các đơn vị cho vay vốn
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, khi nguồn vốn chủ sở hữu
không đủ bù đắp nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh bắt buộc DN
phải đi vay vốn từ ngân hàng, các tổ chức tài chính-tín dụng hoặc từ các đơn vị khác,
từ đó làm phát sinh quan hệ giữa DN với các đơn vị cho vay vốn
- Quan hệ thanh toán giữa DN với các đơn vị cho vay vốn của DN
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, giữa DN với các đơn vị kinh tế khác
cũng thường xuyên phát sinh các quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau, khi các đơn vị
kinh tế khác vay vốn của DN phục vụ cho hoạt động của mình thì sẽ phát sinh mối
quan hệ này.
7
- Quan hệ thanh toán giữa DN với các đối tác liên doanh
Đây là quan hệ thanh toán phát sinh khi DN tham gia liên doanh với các DN
hoặc DN đứng ra tổ chức hoạt động liên doanh. Thuộc loại quan hệ này bao gồm các
quan hệ có liên quan đến việc góp vốn (hay nhận góp vốn), thu hồi vốn (hay trả vốn),
quan hệ phân chia kết quả...
- Quan hệ thanh toán giữa DN với các đơn vị trong nội bộ DN
Thuộc loại quan hệ nay bao gồm các khoản thanh toán giữa doanh nghiệp với
các đơn vị cấp trên hoặc các đơn vị cấp dưới, hoặc giữa các đơn vị phụ thuộc với
nhau về khoản đã chi hộ, trả hộ, ...
- Các quan hệ thanh toán khác
Ngoài các mối quan hệ thanh toán trên, trong quá trình hoạt động kinh doanh
của DN còn phát sinh các mối quan hệ thanh toán khác như quan hệ thanh toán giữa
DN với CNV trong DN, giữa DN với các đơn vị nhận ký cược, ký quỹ...
Do khuôn khổ có hạn luận văn này không thể trình bày một cách chi tiết về tất
cả các nghiệp vụ thanh toán mà chỉ đi sâu nghiên cứu một số nghiệp vụ thanh toán
chủ yếu phản ánh các mối quan hệ thanh toán ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính
của DN, đó là:

- Thanh toán bù trừ
- Thanh toán điện tử
 Các hình thức thanh toán quốc tế trong ngoại thương:
- Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)
- Thanh toán bằng ủy thác thu
- Hình thức thanh toán chuyển tiền
1.2. Tæ chøc c«ng t¸c kÕ to¸n c¸c kho¶n thanh to¸n trong
doanh nghiÖp
Tổ chức công tác kế toán các nghiệp vụ thanh toán là tổ chức thực hiện toàn
bộ các công việc kế toán cần phải làm từ khi các nghiệp vụ thanh toán bắt đầu phát
sinh.
1.2.1. Tổ chức vận dụng chứng từ trong kế toán các nghiệp vụ thanh toán
- Trong quan hệ thanh toán giữa DN với NSNN:
9
Bao gồm: giấy thông báo thuế, biên lai thuế, báo cáo thu nộp Ngân sách, biên
bản kê khai nộp thuế.
-Trong quan hệ thanh toán giữa DN với nhà cung cấp:
Bao gồm: Các chứng từ mua hàng như: Hợp đồng mua bán, Hóa đơn bán hàng
(hoặc Hóa đơn GTGT) liên 2; chứng từ lập khi giao nhận hàng: Tiền ứng trước đặt
cọc, Hóa đơn vận chuyển, cung cấp dịch vụ...; các chứng từ thanh toán tiền mua hàng
khi đến hạn trả hoặc trực tiếp hoặc thông qua ngân hàng bao gồm: Phiếu chi, giấy báo
Nợ Ngân hàng, có thể có biên bản thanh toán bù trừ công nợ.
-Trong quan hệ thanh toán giữa DN với khách hàng:
Bao gồm: Các chứng từ bán hàng như: Hợp đồng mua bán, Hóa đơn bán
hàng(Hóa đơn GTGT) liên 1, chứng từ lập khi giao nhận hàng: Hóa đơn vận chuyển,
cung cấp dịch vụ …, Các chứng từ thanh toán như: Phiếu thu, giấy báo Có ngân
hàng, Biên bản thanh toán bù trừ công nợ…
-Trong quan hệ thanh toán khác:
Bao gồm: Chứng từ ban đầu như: Bảng chấm công, Phiếu nghỉ hưởng
BHXH, Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, Hợp đồng giao khoán,

- TK3334: Thuế thu nhập DN
- TK3335: Thu trên vốn
- TK3336: Thuế tài nguyên
- TK3337: Thuế nhà đất
- TK3338: Các lọai thuế khác
- TK3339: Phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác
 Phương pháp hạch toán (Sơ đồ 3)
1.2.2.4. Đối với quan hệ thanh toán khác
Quan hệ thanh toán khác trong DN bao gồm các khoản phải thu khác và các
khoản phải trả khác.
* Kế toán các khoản phải thu khác
Các khoản phải thu khác là các khoản phải thu ngoài các khoản phải thu của
khách hàng, phải thu nội bộ bao gồm:
-Các khoản phải bồi thường vật chất do các cá nhân, tập thể trong hoặc ngoài
đơn vị gây ra.
-Các khoản phải thu do đơn vị cho vay, mượn vật tư, tiền vốn tạm thời.
11
-Giá trị các tài sản thừa đã phát hiện nhưng chưa xác định được nguyên nhân
còn chờ xử lý.
-Các khoản phải thu ở công nhân viên về tiền nhà, điện nước, bảo hiểm y tế
mà người lao động phải đóng góp, phải thu hộ người lao động cho tòa án và các án
dân sự, thu khác như chi phí, lệ phí.
-Các khoản chi phí đã chi vào hoạt động sự nghiệp, chi đầu tư xây dựng cơ
bản cho sản xuất kinh doanh nhưng chưa được các cơ quan thẩm quyền phê duyệt
phải thu hồi, chờ xử lý.
• Tài khoản sử dụng:
-Để phản ánh số hiện có và tình hình biến động các khoản phải thu khác, kế
toán sử dụng TK 138- Phải thu khác.
TK 138 được chi tiết thành hai tiểu khoản:
- TK 1381: Tài sản thiếu chờ xử lý

ghi chép, phản ánh váo hệ thống sổ kế toán tổng hợp tương ứng. Có 4 hình thức kế
toán mà DN Công ty thể áp dụng:
- Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
- Hình thức kế toán Nhật ký chung
- Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ
Mỗi hình thức kế toán trên đều có những ưu nhược điểm và điều kiện áp dụng
cũng như có hệ thống sổ kế toán tổng hợp và trình tự ghi sổ riêng tùy thuộc vào quy
mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của
các cán bộ kế toán, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật tính toán... mà mỗi DN lựa chọn
hình thức kế toán cho phù hợp với đặc thù của DN mình. Để thuận tiện cho việc
nghiên cứu được sâu hơn luận văn xin được trình bày một trong các hình thức kế toán
nói trên:
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán “ Chứng từ ghi sổ” là các nghiệp vụ
thanh toán phát sinh đều được phản ánh vào chứng từ gốc, sau đó các chứng từ gốc
được phân loại, tổng hợp và lập Chứng từ ghi sổ. Chứng từ ghi sổ là căn cứ để ghi
vào các sổ kế toán tổng hợp. Theo hình thức này sổ kế toán tổng hợp bao gồm:
13
- S ng ký Chng t ghi s (Ghi theo trỡnh t thi gian)
- S cỏi cỏc ti khon (Ghi theo ni dung kinh t)
- Hỡnh thc k toỏn Chng t ghi s thng c ỏp dng nhng
n v cú quy mụ va, quy mụ ln, cú nhiu cỏn b nhõn viờn k toỏn.
Cỏc bỏo cỏo v tỡnh hỡnh thanh toỏn trong DN
Ngoi cỏc bỏo cỏo mang tớnh cht bt buc do B Ti chớnh quy nh nh
Bng cõn i k toỏn, Bỏo cỏo kt qu kinh doanh, Bỏo cỏo lu chuyn tin t, thuyt
minh bỏo cỏo ti chớnh. DN cú th lp cỏc bỏo cỏo khụng bt buc nhm theo dừi v
qun lý vn thanh toỏn ca Cụng ty phc v cho ni b DN.
1.3. Những vấn đề chung về phân tích tình hình công nợ và khả
năng thanh toán của doanh nghiệp

trong những điều kiện tiên quyết đó là quan tâm đặc biệt đến tình hình tài chính của
DN. Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp các nhà quản lý DN và
các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng của hoạt động tài chính, xác định
đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến
tình hình tài chính. Từ đó có những giải pháp hữu hiệu, những quyết định cần thiết để
nâng cao chất lượng của công tác quản lý kinh tế, nâng qua hiệu quả sản xuất kinh
doanh của DN. Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của DN là một
nội dung quan trọng trong các nội dung phân tích tình hình tài chính của DN.
Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của DN phản ánh chất lượng công
tác tài chính. Khi nguồn bù đắp cho tài sản dự trữ thiếu, DN đi chiếm dụng vốn và
ngược lại khi nguồn bù đắp cho tài sản thừa, DN bị chiếm dụng vốn.
Thông thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tại một thời điểm sẽ có
nhiều khoản phải thu và phải trả, để thực hiện được việc thu, trả thì cần phải có một
khoảng thời gian nhất định, cho nên việc nợ nần nhau giữa các DN trong một thời
gian giới hạn nào đó là chuyện bình thường. Nhưng nếu để tình trạng công nợ dây
dưa, chiếm dụng vốn lẫn nhau với lượng vốn quá lớn và thời gian nợ đọng kéo dài,
tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả xấu. Nếu một DN phá sản thì kéo theo một loạt các DN
khác lao đao, thậm chí còn đứng bên bờ vực phá sản. Đây là tình trạng có thể xảy ra,
nếu các DN không vững vàng trong kinh doanh thì khó có thể tránh khỏi việc vi
phạm kỷ luật tài chính và pháp luật Nhà nước.
Hiện nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường khi các thành phần kinh tế đều
phát triển và có quyền bình đẳng, trong điều kiện giá cả có nhiều biến động thì vấn đề
15
thanh toán càng được đặt ra một cách nghiêm ngặt. Bởi vậy khi phân tích tình hình
công nợ và khả năng thanh toán của DN, phải làm rõ mức độ và nguyên nhân của
việc dây dưa các khoản công nợ nhằm đảm bảo cho sự tự chủ về tài chính, đó là điều
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của DN.
1.3.3. Nội dung phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán
trong DN:
1.3.3.1. Nội dung phân tích tình hình công nợ trong DN

nguyên nhân tăng giảm đối với từng đối tượng cụ thể của chỉ tiêu phân tích, để từ đó
có những biện pháp thích hợp cho kỳ tới trong việc thu hồi công nợ, nhất là đối với
những khoản nợ dây dưa, ứ đọng.
Khi các khoản phải thu cuối kỳ giảm so với đầu năm cho thấy DN đã có cố
gắng trong việc đôn đốc thu hồi các khoản nợ. Ngược lại, khi các khoản nợ phải thu
cuối kỳ tăng so với đầu năm chứng tỏ vốn của DN đã bị các đơn vị khác chiếm dụng
thêm, khi đó DN phải nhanh chóng có những biện pháp thu hồi nợ tạo điều kiện cho
việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn
 Đối với các khoản nợ phải trả:
Tương tự như trường hợp phân tích công nợ phải thu, để phân tích công nợ
phải trả ta tiến hành như sau:
- Xác định đối tượng của chỉ tiêu phân tích: Để phân tích tình hình công
nợ phải trả trong DN, trước hết phải căn cứ vào số liệu của bảng CĐKT ta lập
bảng phân tích tình hình công nợ phải trả như sau:
Bảng 2: Bảng phân tích tình hình công nợ phải trả
Công nợ phải trả Số đầu năm Số cuối kỳ Chênh lệch
Số tiền %
1.Vay ngắn hạn
2.Nợ dài hạn đến hạn
17
trả
3. Thuế và các khoản
nộp Nhà nước
4. .Phải trả cho người
bán
5.Trả tiền trước của
người mua
6. Phải trả công nhân
viên
7. Phải trả nội bộ

tiếp tục cho DN vay vốn hay không, đối với nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, họ xem
xét khả năng thanh toán của DN để quyết định xem sắp tới có nên cho phép DN mua
chịu hàng hóa hay không.
Bản thân DN cũng cần xem xét khả năng thanh toán của mình để thấy được
tình trạng tài chính nói chung và tình hình về khả năng thanh toán của DN nói riêng,
từ đó xác định nguyên nhân và đưa ra giải pháp cho kỳ tới.
Để phân tích khả năng thanh toán của DN, người ta thường tiến hành như sau:
- Xác định đối tượng của chỉ tiêu phân tích:
Để phân tích khả năng thanh toán của DN trước hết cần căn cứ vào số
liệu của bảng CĐKT, ta lập bảng phân tích khả năng thanh toán của DN như
sau:

Bảng 3: Phân tích khả năng thanh toán của DN
Tiền, tương đương
tiền có thể dùng để
thanh toán
Số
đầu
năm
Số
cuối
kỳ
Chênh
lệch
Nợ ngắn hạn cần
thanh toán
Số
đầu
năm
Số

chỉ tiêu này có thể được xác định như sau:
[Trong đó một phần IV A bao gồm: hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán.]
Hệ số khả năng thanh
toán tổng quát
Tổng số nợ ngắn hạn cần phải
thanh toán (IA+IIIA) NV
Tổng số tiền và tương đương tiền có thể
dùng để thanh toán
(IA+IIA+IIIA+1 phần IVA+VA) TS
Hệ số khả năng thanh
toán nhanh
Tổng số nợ ngắn hạn đã đến hạn và
quá hạn
Tổng số tiền và tương đương tiền có thể
dùng để thanh toán nhanh
(IA+IIA+1 phần IVA) TS
20
- Phương pháp phân tích: Để phân tích khả năng thanh toán của DN ta
sử dụng phương pháp so sánh. Bằng cách tiến hành so sánh giữa số cuối kỳ và số
đầu năm để xác định số chênh lệch tăng giảm cả về số tuyệt đối và số tương đối.
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát cuối kỳ so với đầu năm càng lớn, và có
xu hướng ngày càng tăng, chứng tỏ khả năng thanh toán của DN ngày càng tăng và
ngược lại. Tuy nhiên cần phải xem xét cụ thể nguyên nhân tăng giảm thì mới có thể
kết luận được chính xác, không phải lúc nào hệ số này tăng cũng có thể kết luận là
DN có khả năng thanh toán, cũng như không thể vội vàng kết luận khả năng thanh
toán của DN giảm nếu thấy hệ số này giảm.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh cho biết mức độ chuyển đổi thành tiền của
các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và một phần hàng tồn kho để thanh toán nhanh
các khoản nợ ngắn hạn cần thanh toán hoặc các khoản nợ quá hạn, đến hạn cần thanh
toán. Cũng như hệ số khả năng thanh toán tổng quát hệ số này càng lớn (lớn hơn 1)

- Phõn xng sn xut m si, cụng sut 6000 tn/nm, mỏy múc, thit b do
Liờn Xụ giỳp .
- Phõn xng sn xut bỏnh quy, cụng sut 2000 tn/nm, mỏy múc, thit b
do Rumani giỳp .
Nhim v ch yu ca nh mỏy l ch bin lng thc v sn xut bỏnh m,
bỏnh quy vi ngun nguyờn liu nhp ngoi l chớnh.
Quỏ trỡnh phỏt trin:
22
- Trong những năm đầu thành lập, được sự giúp đỡ trực tiếp của các
chuyên gia Ba Lan và Lien Xô, hoạt động của nhà máy được xem là đứng đầu
toàn tỉnh.
- Năm 1974 được sự cho phép của ủy ban hành chính tỉnh cùng sự chỉ
đạo của Sở công nghiệp, nhà máy tiếp nhận thêm công xưởng sản xuất bánh kẹo
của Công ty ăn uống thuộc Ty thương nghiệp Hà Sơn Bình (Công suất khoảng
200 tấn/năm). Công ty đổi tên thành “nhà máy liên hợp thực phẩm Hà Sơn Bình”
- Năm 1980, trước sự khan hiếm nguồn nguyên liệu nhập ngoại cho sản
xuất bánh mỳ và mỳ sợi, nhà máy dần thu hẹp và ngừng hẳn sản xuất 2 mặt hàng
này để chuyển sang sản xuất mặt hàng mới là bánh phồng tôm với nguyên liệu
chính là tinh bột sắn.
Sản phẩm này của nhà máy có thể xuất sang thị trường các nước Đông Âu
như Liên Xô, Ba Lan, …Quá trình xuất khẩu đã khiến nhà máy phát triển sản xuất
thêm 1 số sản phẩm khác như lạc bọc đường và bánh phở khô. Cho tới cuối
những năm 80 (từ năm 1986-1989) những sản phẩm này đã được xuất sang BA
Lan, Mông Cổ, Đức. Hàng năm có thể xuất tới mấy trăm tấn sản phẩm.
- Năm 1989, sự tan rã của thị trường các nước Đông Âu làm cho việc
xuất khẩu sản phẩm phở khô, bánh phồng tôm thu hẹp dần và ngừng hẳn vào giữa
năm 1989.
Để vượt qua khó khăn này, ổn định sản xuất, đảm bảo đời sống cho người
lao động, ban lãnh đạo nhà máy đã chuyển hướng sản xuất và đầu tư lắp ráp hoàn
chỉnh dây chuyền sản xuất bia hơi và nước giảỉ khát, tận dụng 2 phân xưởng

qua Công ty cổ phần liên hợp thực phẩm Hà Tây đạt tốc độ tăng trưởng khá. Ngoài
việc đầu tư, nâng cấp dây chuyền công nghệ, nhà xưởng Công ty còn chú trọng đầu
tư cải tiến mẫu mã, bao bì, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, cố gắng giảm đến
mức thấp nhất chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Nhờ vậy, trong những năm qua Công
ty đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường, được số đông người tiêu dùng biết
đến và quen dùng sản phẩm của Công ty. Từ những kết quả đó Công ty đã được đánh
giá là lá cờ đầu của ngành công nghiệp địa phương. Hai lần được nhà nước tặng
thưởng huy chương lao động hạng III và hạng II vào các năm 1992, 1995.
Tuy trong những năm gần đây Công ty gặp nhiều khó khăn do tình hình
chung, sản phẩm của Công ty phải đối đầu với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các sản
phẩm mới, đa dạng, phong phú về kiểu dáng, màu sắc. Đứng trước những đòi hỏi
24
khách quan từ phía thị trường Công ty vẫn đang nỗ lực phấn đấu ổn định sản xuất
kinh doanh, thực hiện đủ nghĩa vụ với nhà nước, đảm bảo đời sống cho công nhân
viên toàn Công ty.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần liên
hợp thực phẩm Hà Tây:
Trước kia Công ty tổ chức sản xuất theo 3 phân xưởng là: phân xưởng bia,
nước giải khát, phân xưởng bánh mứt kẹo và phân xưởng cơ điện. Tuy nhiên hiện
nay phân xưởng bia, nước giải khát và phân xưởng bánh mứt kẹo đã được nhập làm
một. Như vậy Công ty được tổ chức sản xuất theo 2 phân xưởng là:
-Phân xưởng sản xuất: Chuyên sản xuất giải khát, bánh quy, bánh trung thu,
kẹo mềm, kẹo cứng, kẹo lạc bọc đường, mứt tết, lương khô, kem xốp
Phân xưởng cơ điện: Duy trì, bảo quản toàn bộ thiết bị, máy móc của Công ty
-Các phân xưởng là các đơn vị trực tiếp sản xuất, không có chức năng tuyển
dụng công nhân, mua sắm, tiêu thụ vật tư, sản phẩm, tổ chức đời sống tập thể..chịu
sự điều hành trực tiếp của quản đốc phân xưởng cùng sự phối hợp của các phòng
chức năng liên quan.
Ở phân xưởng, thủ trưởng cao nhất là quản đốc, chịu trách nhiệm trước Giám
đốc Công ty.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status