BÀI THẢO LUẬN NHÓM 4
Đề tài:
NHỮNG THÀNH TỰU CỦA VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY CỔ
TRUNG ĐẠI
VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI NỀN VĂN HÓA THẾ GIỚI
I. Tổng quan về phương Tây cổ - trung đại.
1. Cơ sở hình thành nền văn minh phương Tây cổ đại
Thuật ngữ phương Tây đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử. Vào thời cổ đại, khi
con người còn chưa tìm ra những lục địa mới người Hy Lạp đã gọi khu vực mặt
trời lặn so với họ là phương Tây, các vùng đất còn lại (Châu Á, châu Phi) gọi là
phương Đông. Sự phân loại này mang tính chất tương đối và chỉ là sự quy ước của
con người mà thôi. Văn minh phương Tây cổ đại ngày nay được hiểu chính là hai
nền văn minh lớn : Hi Lạp và La Mã cổ đại.
1.1 Hi Lạp.
*Điều kiện tự nhiên:
Hi Lạp cổ đại nằm ở phái Nam bán đảo Balkans, giống như cái đinh ba của thần
biển từ đất liền vươn ra địa Trung Hải. Thế kỉ IX TCN, người Hi Lạp gọi tên nước
mình là Hellad hay Ellad dựa theo tên tộc người của họ. Qua phiên âm từ Trung
Quốc, ta gọi là Hi Lạp.
Đất đai Hi Lạp cổ đại bao gồm Hi Lạp ngày nay, các đảo trong biển Aegean
tới phía Tây Tiểu Á, và phía Bắc của Bắc Hải, nhưng vùng quan trọng nhất là vùng
lục địa Hi Lạp ở phía Nam Balkans. Lục địa Hi Lạp gồm 3 phần: miền Bắc là vùng
đồng bằng rộng lớn và quan trọng nhất Hi Lạp; miền Trung ngăn cách với phía bắc
bởi đèo Thermopil hiểm trở, nơi đây có 2 đồng bằng lớn là Attique và Beotie trù
1
phú với thành thị Athens nổi tiếng; miền Nam là bán đảo Peloponesus như hình
bàn tay bốn ngón xòe ra Địa Trung Hải – đây là nơi xuất hiện nhà nước thành bang
đầu tiên của Hi Lạp – nhà nước Sparta.
Mặc dù có nhiều đồng bằng rộng lớn nhưng nhìn chung đất đai Hi Lạp không
phì nhiêu lắm, chủ yếu trồng nho, ô liu và phát triển các nghề thủ công, còn lương
thực chính là lúa mì phần lớn được nhập từ Ai Cập.
Thời kì Vương chính (753 – 510 TCN)
Thời kì Cộng hòa (thế kỉ VI – I TCN)
Thời kì Đế chế (thế kỉ I – V)
Tóm lại: Văn minh phương Tây cổ đại mà nền tảng là 2 nền văn minh của Hi
Lạp và La Mã đã hình thành và phát triển trên cơ sở điều kiện tự nhiên của những
cư dân gốc du mục. Khác với các quốc gia cổ đại phương Đông, nền văn minh chủ
yếu được hình thành trên những khu vực gần các con sông lớn, thuận lợi cho sự
phát triển nông nghiệp, văn minh phương Tây cổ đại hình thành và phát triển trên
những khu vực điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt và phức tạp hơn. Điều
kiện tự nhiên đó tuy khó khăn cho sự phát triển của nông nghiệp, nhưng bù lại nền
văn minh phương Tây có được sự trợ giúp tuyệt vời của biển đảo. Những con
đường giao thương trên biển, hải cảng, tàu bè… không chỉ tạo điều kiện phát triển
trong mối quốc gia mà còn thúc đẩy sự giao lưu, buôn bán giữa các nước, mang
những thành tựu văn hóa, văn minh phương Tây truyền bá khắp nơi trên thế giới.
Sự phát triển về kinh tế, đặc biệt là kinh tế thương nghiệp hàng hải đã tạo ra một
nền kinh tế giàu mạnh cho các quốc gia phương Tây cổ đại, đặc biệt là sự phát
triển cực thịnh của chế độ chiếm nô. Phương thức sản xuất chiếm nô thời bấy giờ
đạt đến mức hoàn chỉnh và cao nhất của nó trong xã hội phương Tây cổ đại. Chính
3
sự phát triển của chế độ chiếm nô đã tạo điều kiện cho sự sáng tạo ra những giá trị
vật chất và tinh thần của nền văn minh phương Tây. Sự giàu mạnh về kinh tế cùng
với những con đường giao thông trên biển là những nguyên nhân quan trọng đã
thúc đẩy quá trình bành trướng của các quốc gia được mệnh danh là đế quốc cổ
đại: Hi Lạp và La Mã.
Như vậy, điều kiện tự nhiên của Hi Lạp và La Mã không chỉ là nền tảng, cơ sở
tạo ra nền văn minh phương Tây cổ đại với nhiều thành tựu rực rỡ mà điều kiện tự
nhiên cũng là một yếu tố cực kỳ quan trọng đã mang nền văn minh phương Tây cổ
đại truyền bá khắp thế giới dù bằng nhiều con đường khác nhau: hòa bình hoặc
chiến tranh.
2. Phương Tây thời kì trung đại (Tây Âu)
Từ thế kỉ XIV – XVI, những mầm mống của chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu xuất
hiện ở các quốc gia Tây Âu ngay trong lòng chế độ phong kiến. Đến thế kỉ XVI,
chủ nghĩa tư bản chính thức ra đời và phát triển ở châu Âu. Sự ra đời của nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa đã mang đến cho xã hội loài người nói chung và châu Âu nói
riêng một sự tiến bộ vượt bậc cả về kinh tế lẫn xã hội, thể hiện rõ tính chất của một
chế độ ưu việt hơn chế độ phong kiến với nhiều tác động tích cực làm thay đổi xã
hội. Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế các nước, quan
hệ sản xuất tư bản xâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực kinh tế. Về xã hội,
cùng với nền sản xuất mới đã làm xuất hiện hai giai cấp mới đối lập nhau về quyền
lợi kinh tế, chính trị là giai cấp tư sản và vô sản. Trong buổi đầu hình thành, giai
cấp tư sản là giai cấp tiến bộ, đại diện cho một phương thức sản xuất mới, làm thúc
đẩy sự phát triển của xã hội. Trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng, sự ra đời của chủ
nghĩa tư bản và giai cấp tư sản đã tạo ra những biến động lớn. Cùng với sự xuất
hiện của giai cấp tư sản là sự ra đời của một trào lưu tư tưởng mới tiến bộ hơn, đối
5
lập với hệ tư tưởng phong kiến. Cuộc đấu tranh giữa tư sản và phong kiến trong
buổi đầu chính là cuộc đấu tranh hết sức gay gắt và quyết liệt trên lĩnh vực văn
hóa-tư tưởng, tạo ra một phong trào quyết liệt và mạnh mẽ là “Phong trào văn hóa
Phục hưng”. Thực chất đó là trận chiến đầu tiên của hai giai cấp đối lập nhau, một
là giai cấp phong kiến với hệ tư tưởng lạc hậu, lỗi thời với một nền kinh tế yếu
kém với một giai cấp mới đang lên là giai cấp tư sản với sự tiến bộ và ưu việt về
nhiều mặt.
Như vậy, châu Âu thời hậu kì trung đại đã có những biến đổi về mọi mặt. Từ
trong lòng xã hội phong kiến, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tư bản đã ra đời với
những tiến bộ vượt bậc đã thúc đẩy nền kinh tế các nước nhanh chóng phát triển.
Giai cấp tư sản với thế lực kinh tế ngày càng mạnh đang gặp phải những trở lực từ
phong kiến và giáo hội mang nặng tính chất bảo thủ và kiên cố. Chính vì vậy, châu
Âu từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XVI sôi động và quyết liệt với cuộc đấu tranh toàn
diện của giai cấp tư sản chống lại chế độ phong kiến trên tất cả các lĩnh vực: kinh
tế, khoa học, văn hóa-nghệ thuật, tư tưởng và tôn giáo với những thành tựu rực rỡ.
chữ cái Cyrill (của các ngôn ngữ gốc Slav). Đó là các cơ sở chữ cái mà nhiều dân
tộc trên thế giới ngày nay đang sử dụng.
Tiếng Hy Lạp viết bằng bảng chữ cái Hy Lạp có từ thế kỷ thứ 8 trước Công
nguyên. Bảng chữ cái Hy Lạp bao gồm:
Chữ Hoa:
Α, Β, Γ, Δ, Ε, Ζ, Η, Θ, Ι, Κ, Λ, Μ, Ν, Ξ, Ο, Π, Ρ, Σ, Τ, Υ, Φ, Χ, Ψ, Ω.
Chữ Thường:
α, β, γ, δ, ε, ζ, η, θ, ι, κ, λ, μ, ν, ξ, ο, π, ρ, σ (ς), τ, υ, φ, χ, ψ, ω.
7
Tiếng Hy Lạp được dạy trong các trường và đại học ở nhiều nước từ thời Phục
hưng trở đi. Tiếng Hy Lạp hiện nay có khác nhiều so với tiếng Hy Lạp cổ đại
nhưng vẫn có thể nhận ra nhiều điểm giống nhau. Trên thế giới có khoảng 12
triệu người sử dụng tiếng Hy Lạp (ở Hy Lạp và những quốc gia có người Hy Lạp
sinh sống).
Ở La Mã, chữ viết của người Etrusque xuất hiện vào khoảng thế kỉ VIII – VII
TCN nhưng đến hiện giờ người ta vẫn chưa đọc được loại chữ này. Theo nhiều
nguồn tài liệu, người La Mã chính thức có chữ viết vào thế kỉ VI TCN có nguồn
gốc từ văn tự Hi Lạp. Trên cơ sở chữ viết Hy Lạp cổ, người La Mã đã bổ sung và
hoàn thiện, đặt ra một loại chữ riêng của mình mà ngày nay ta quen gọi là chữ
Latinh.
Với hệ thống chữ viết đơn giản và tiện lợi, tiếng Latinh đã ngày càng trở nên
phổ biến và được sử dụng rộng rãi ở các nước thuộc đế chế La Mã. Chữ Latinh
chính là nguồn gốc của nhiều ngôn ngữ châu Âu hiện đại (Ý, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Pháp…Người La Mã còn để lại hệ thống chữ số mà ngày nay người ta
vẫn thường dùng và quen gọi là chữ số La Mã.
Có thể nói, từ bảng chữ cái Latinh, chúng ta có những ngôn ngữ mà ngày nay
được sử dụng làm ngôn ngữ chung cho cả thế giới, trên tất cả các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, khoa học, nghệ thuật…mang mọi nền văn hóa của các
quốc gia dần xích lại gần nhau hơn.
2. Văn học
Lạp, La Mã cổ đại đưa nghệ thuật kịch lên tuyệt đỉnh.
Nghệ thuật kịch Hi Lạp đã cho ra đời một công trình kiến trúc khá hiện đại và quy
mô: nhà hát Athens.
9
Văn học La Mã về sau chủ yếu tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Hi
Lạp. Hai tập sử thi nổi tiếng của Hi Lạp là Iliat va Ôđixe đã trở thành nguồn cảm
hứng cho các nhà thơ, nhà soạn kịch La Mã tiêu biểu như nhà thơ Vieecsgilut với
trường ca Eneit có chủ đề, kết cấu, tình tiết ngôn từ được phỏng theo sử thi Iliat và
Ôđixe. Hay các nhân vật trong Iliat và Ôđixe như tráng sĩ Agamemnong trở thành
nhân vật trong vở Orextex của Etsin.
Thời kì Phục hưng, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của văn học Hi Lạp và
La Mã, văn học Tây Âu phát triển rực rỡ, để lại nhiều tác phẩm giá trị cho văn học
thế giới.
Về thơ ca, tiêu biểu là Đantê với “Thần khúc”, mở đầu cho thơ ca thời kì phục
hưng. Ngoài ra còn có Pêtêraca, Bôcaixô…đây đều là những tác giả say mê nghiên
cứu và chịu những ảnh hưởng nhất định từ nền văn học của Hi Lạp và La Mã. Về
tiểu thuyết, Rabơle được xem là học giả vĩ đại nhất của văn học Phục hưng Pháp
với tác phẩm “Cuộc đời đáng chán của người khổng lồ Gácgăngchuya và người
con Păngtagruyen”, trở thành cha đẻ của hai nhân vật khôi hài nhất trong lịch sử
văn chương. Đặc biệt trong nền văn học Phục hưng nổi lên một học giả lừng danh
là nhà văn Xecvantec với tác phẩm Đônkihôtê. Cuốn tiểu thuyết là một bắc tranh
chân thực, rõ ràng về xã hội Tây Ban Nha thế kỉ XVI, đồng thời cũng là tác phẩm
châm biếm toàn bộ xã hội phong kiến. Giá trị và ảnh hưởng của tác phẩm không
cần phải nói gì nhiều, chỉ nghe đến tên thì rất nhiều người biết rất rõ về tác giả và
tác phẩm, đủ cho thấy tầm ảnh hưởng của nó rộng rãi như thế nào.
Về kịch, đại văn hào William Shakespears đã trở thành nhà soạn kịch vĩ đại của
không chỉ của nước Anh mà của cả thế giới với các tác phẩm: Romeo và Juliet,
Hămlet, Macbeth, vua Lear…Những tác phẩm của ông vừa mang tính chất bi kịch
vừa mang tính chất hài kịch nhưng tràn đầy một sức sống huy hoàng, mạnh mẽ.
Tài năng và tầm ảnh hưởng của ảnh hưởng của ông đã được cả thế giới công nhận
minh Hi-La được xem là nền tảng, là cơ sở của văn minh Tây Âu – châu Âu cận
hiện đại, có thể nói nếu không có những thành tựu của văn minh Hi-La thì không
thể có văn minh Tây Âu trung đại và châu Âu ngày nay. Trên nền tảng của nghệ
thuật Hi-La, nghệ thuật Phục hưng đã kế thừa và phát triển một cách rực rỡ, để lại
những giá trị và thành tựu đặc sắc, đưa nghệ thuật Tây Âu mang tầm giá trị thời
đại.
3.1 Kiến trúc
Mặc dù kế thừa những thành tựu nghệ thuật của Ai Cập và Lưỡng Hà nhưng
ngwời Hi Lạp đã sáng tạo và phát triển một cách mạnh mẽ phong cách nghệ thuật
riêng biệt của mình, tạo ra những giá trị nghệ thuật đạt mức điêu luyện. Trong lĩnh
vực kiến trúc, người Hi Lạp đã tạo ra những công trình kiến trúc bất hủ với thời
gian.
Công trình kiến trúc đẹp nhất của Hi Lạp là đền Parthenon. Đây được xem là
kiệt tác về kiến trúc và là biểu tượng của kiến trúc Hi Lạp cổ. Người xây dựng nên
công trình này là là kiến trúc sư Ictinus dưới sự hướng dẫn của nhà điêu khắc thiên
tài Phidias.
Tọa lạc trên đỉnh đồi Acropolis, từ đây người ta có thể quan sát toàn bộ khu vực
Athens. Đền Parthernon dài 70 m, rộng 314 m, cao 14 m được xây dựng để thờ nữ
thần Athena, vị thần bảo hộ của Athens. Toàn bộ đền được xây bằng đá trắng, xung
quanh là dãy cột đã cẩm thạch hình tròn được chạm khắc tinh vi. Công trình thể
hiện tài năng của một bậc thầy xuất chúng về kiến trúc và điêu khắc. Kiệt tác này
được giữ nguyên vẹn suốt 2000 năm, đến 1697 mới bị chiến tranh tàn phá.
Trong nghệ thuật kiến trúc của Hi Lạp, người ta dễ dàng nhận thấy nổi bật lên
lối kiến trúc cột. Kiến trúc cột là cách người Hi Lạp tìm kiếm vẻ đẹp lý tưởng
trong nghệ thuật kiến trúc. Những thức cột Hy Lạp đã mang đến cho kiến trúc một
hình thức, một sức sống, chịu đựng được thử thách của thời gian, biểu trưng cho vẻ
đẹp trong sáng, khỏe mạnh và tinh tế của kiến trúc cổ điển. Có 3 loại thức cột cơ
12
bản trong kiến trúc Hy Lạp: cột Doric, cột Ionic và cột Corinth. Thức cột Hy
Lạp được xem như biểu tượng của kiến trúc cổ điển.
Đặc điểm nổi bật của kiến trúc La Mã chính là kĩ thuật vòm cuốn, có thể thấy
được qua những công trình kiến trúc tiêu biểu.
Đấu trường Colosseum của La Mã và đền Parthenon của Hi Lạp là 2 trong số 7 kì
quan của thế giới cổ đại.
Những thành tựu của kiến trúc Hi-La cổ đại đã được thế giới thừa nhận và ứng
dụng cho những công trình kiến trúc hiện đại.
Kiến trúc thời Phục hưng mang đậm nét tôn giáo, đặc biệt là đạo Thiên chúa, nổi
bật lên với 2 phong cách kiến trúc tiêu biểu là kiến trúc Gôtich và Roman. Cả hai
phong cách kiến trúc này đều là sự kế thừa và phát triển từ nghệ thuật kiến trúc của
Hi Lạp và La Mã cổ đại. Nghệ thuật kiến trúc thời Phục hưng thể hiện sự giàu có,
lộng lẫy cao sang quý phái.
Những thánh đường Kitô giáo có kiến trúc chủ yếu mang phong cách Roman, Gô
tích và Cổ điển Hy Lạp-La Mã. Khi đạo Kitô phát triển mạnh mẽ, những phong
cách kiến trúc này đã được mang đến khắp nơi trên thế giới.
Tóm lại, kiến trúc châu Âu ngày nay được phát triển trên nền tảng của kiến trúc
thời cổ trung đại của Hi-La và Tây Âu. Mức độ ảnh hưởng và phát triển không chỉ
ở trong phạm vi châu Âu mà đã lan rộng toàn thế giới. Chúng ta có thể dễ dàng
nhận ra phong cách kiến trúc châu Âu ở rất nhiều công trình kiến trúc lớn, nhỏ ở
rất hầu hết quốc gia trên thế giới hiện nay.
3.2 Hội họa và điêu khắc
Cùng với nghệ thuật kiến trúc với những công trình đã trở thành kiệt tác của
nhân loại, nghệ thuật điêu khắc Hi Lạp cũng được xem là những giá trị có một
14
không hai trong nền nghệ thuật thế giới. Hai nhà điêu khắc vĩ đại nhất của Hi Lạp
là Praxitele và Scopas ở thế kỉ IV TCN. Tượng thần Hermes và thần Aphrodite
(thần vệ nữ - Venus), được xem là những mẫu mực của nghệ thuật điêu khắc cổ
đại, thể hiện vẻ đẹp hoàn hảo của nam và nữ. Cho đến ngày nay, với một nền nghệ
thuật hiện đại, chưa có nơi nào mà nghệ thuật điêu khắc vượt qua trình độ nghệ
thuật của người Hi Lạp cổ đại. Bức tượng thần Zeus ở Olympia, một trong 7 kì
quan của thế giới cổ đại cũng được tạo ra bởi nhà điêu khắc của Hi Lạp là Phidias.
đang lên của một lớp người đại diện cho một thời đại mới, thời đại cần những con
người khổng lồ và đã sản sinh ra những con người khổng lồ. Ông là kiến trúc sư
đầu tiên thiết kế thánh đường Xanh Pie (nhà thờ thánh Peter ở La Mã), sau khi ông
mất nhiều chi tiết đã bị thay đổi nhưng nguyên mẫu vẫn là thiết kế của ông.
Về hội họa ông cũng đã để lại nhiều tác phẩm tiêu biểu: Sáng tạo thế giới,
Cuộc phán xét cuối cùng…Trong đó tác phẩm lớn nhất là bức họa Sáng tạo thế
giới với 343 nhân vật được ông vẽ trong 4 suốt 4 năm. Tác phẩm này được trang trí
trên trần nhà thờ Sistine ở Vatican.
Raphael Sanzio (1483-1520) cũng là một họa sĩ thiên tài người Ý. Tác phẩm
của ông thường thể hiện quang cảnh vui tươi, êm dịu, cuộc sống sung túc; hình ảnh
những người phụ nữ đẹp, hiền hậu; trẻ em ngây thơ… Tác phẩm nổi tiếng nhất của
ông là Người làm vườn xinh đẹp; ngoài ra còn có các bức tranh về Thánh mẫu…
Tóm lại, nghệ thuật Phục hưng chính là sự hồi sinh hay sự khôi phục lại những
giá trị của nghệ thuật Hi-La cổ đại. Phong trào văn hóa Phục hưng là một bước tiến
vĩ đại trong lịch sử văn minh Tây Âu. Phong trào đã cống hiến cho nền văn minh
nhân loại “những con người khổng lồ” với những tác phẩm bất hủ tồn tại cùng thời
gian, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa thế giới.
4. Giáo dục
16
Tại Hi Lạp, trong giai đoạn phát triển rực rỡ của nhà nước Athens và Spart,
giáo dục đã được chú trọng. Trong khi thành bang Spart chủ yếu chú trọng đến
giáo dục quân sự thì Athens xây dựng một nền giáo dục theo hướng tự do dân chủ.
Tại La Mã, dưới thời kì đế chế, giáo dục phát triển với những nội dung, đề tài
giáo dục liên quan nhiều đến chính trị, chiến tranh, chủ yếu để đào tạo những ra
những thủ lĩnh quân sự, những nhà lãnh đạo, quản lý chính quyền.
Trong thời kì cổ đại, giáo dục Hi Lạp và La Mã tuy còn sơ khai nhưng được
xem là cực kì tiến bộ. Họ đào tạo ra những con người họ cần cho đất nước theo
những phương pháp chủ động, tích cực. Những môn học được giảng dạy ở thời kì
này bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: chính trị, quân sự, văn hóa, lịch sử, xã hội,
ngữ pháp, hùng biện, logic…với phương pháp học đòi hỏi sự tư duy và lý luận sâu
Lạp cổ đại. Ra đời trên cơ sở tan rã của xã hội thị tộc, nhà nước dân chủ chủ nô
Athens dân chủ hóa và hoàn thiện qua những cải cách: cải cách Solon, cải cách
Cleisthenes. Tổ chức bộ máy nhà nước gồm các cơ quan như: Đại hội nhân dân,
Hội đồng nhân dân (hội đồng 500), Tòa án nhân dân, Hội đồng cấp chính (hội
đồng trưởng lão )…được sửa đổi và bổ sung qua từng thời kì khác nhau nhằm tăng
cường và hoàn thiện thể chế dân chủ. Đỉnh cao của thể chế nhà nước Athens là
dưới thời Pericles.
Nếu như trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật người La Mã được xem như
một học trò của người Hi Lạp thì về mặt luật pháp, người La Mã được xem là bậc
thầy. Cùng với những thành tựu khác, luật pháp của người La Mã cũng đã có
những đóng góp nhất định vào nền văn minh chung của nhân loại.
Khi nhà nước La Mã thành lập đã cho ban hành bộ luật thành văn đầu tiên Luật 12
bảng trên cơ sở kế thừa và tham khảo luật Solon của người Hi Lạp. Nội dung bộ
luật khá rộng rãi và tiến bộ, nó chống lại sự xét xử độc đoán của quý tộc, bảo vệ
18
quyền lợi và danh dự cho mọi công dân, đề ra những nguyên tắc về tố tụng, vấn đề
thừa kế tài sản… Mặc dù còn nhiều hạn chế khi xét về bản chất vẫn là bảo hệ
quyền lợi cho giai cấp quý tộc, tuy nhiên tại thời điểm đó, bộ luật là một sự tiến bộ
đối với xã hội đương thời.
Tóm lại, những hạn chế về thời đại là không tránh khỏi nhưng thiết chế nhà
nước dân chủ và những bộ luật được ban hành của Hi Lạp và La Mã là biểu hiện
của sự văn minh về mặt chính trị và xã hội. Sau này, trong thời kì trung đại, để
chống lại phong kiến, giai cấp tư sản không chỉ khôi phục lại những của nền văn
hóa Hi-La mà còn dựa trên những thành tựu về nhà nước và luật pháp của Hi-La cổ
đại để thiết lập nên thể chế chính trị và nền dân chủ của giai cấp tư sản. Các hình
thức nhà nước quân chủ và chế độ cộng hòa qua các giai đoạn lịch sử sau này
chính là sự kế thừa và phát triển từ thể chế chính trị của Hi Lạp và La Mã. Những
thuật ngữ chính trị quen dùng ngày nay như: chính trị, dân chủ, quân chủ, cộng
hòa…đều có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp.
6. Thể thao
Tôn giáo phương Tây thời kì cổ trung đại qua các thời kì phát triển đã tác động
nhiều mặt đến nền văn hóa-nghệ thuật thế giới: kiến trúc, hội họa, đieu khắc… và
đời sống của con người. Hiện nay mức độ ảnh hưởng của các tôn giáo đã mang tầm
thế giới. Sự ảnh hưởng của các tôn giáo hiện nay đối với thế giới là sự tác động đa
chiều, nhiều mặt và phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau.
III. Kết luận
Những thành tựu rực rỡ của văn minh Hi-La cổ đại được ghi vào lịch sử nhân
loại như những ánh hào quang rực rỡ nhất. Cùng với những giá trị của văn minh
20
thời kì trung đại mà điển hình là phong trào văn hóa Phục hưng, văn minh phương
Tây thời kì cổ trung đại đã đặt một nền tảng khá vững chắc cho văn minh châu Âu
nói riêng và mang đến cho nền văn hóa thế giới nói chung những thành tựu bất hủ
mọi thời đại. Giá trị và tầm ảnh hưởng của văn minh phương Tây cổ trung đại
được khẳng định và thừa nhận xét cho cùng chính là những giá trị có tầm ảnh
hưởng đến thời đại ngày nay.
Khẳng định những giá trị và đóng góp của văn minh Hi-La cổ đại, Engels viết:
“Dại dột là những ai không thấy hết giá trị của thời cổ đại Hi Lạp đối với chủ
nghĩa xã hội vừa chiến thắng trong sự nghiệp xây dựng lại đời sống nhân loại” và
“Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hi Lạp, không có nghệ thuật và
khoa học Hi Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia La Mã. Mà không
có cơ sở của văn minh Hy Lạp và Đế quốc La Mã thì cũng không có châu Âu hiện
đại”. Nói như vậy để thấy được giá trị và tầm ảnh hưởng của văn minh phương
Tây thời kì cổ trung đại đối với nền văn hóa thế giới lớn như thế nào.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Đức An (chủ biên) (2001), Lịch sử thế giới cổ đại, NXB Giáo Dục.
2. Đặng Đức An (chủ biên) (2002), Những mẫu chuyện lịch sử thế giới, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
3. Mortime Chambers (2004), Lịch sử văn minh phương Tây, NXB Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội.