Bài giảng Bệnh đái tháo đường
(Kỳ 4)
TS. Đỗ Thị Minh Thìn (Bệnh học nội khoa HVQY)
+ Viêm võng mạc:
- Viêm võng mạc không tăng sinh (viêm võng mạc tổn thương nền):
thường xuất hiện sớm, biểu hiện là các phình mạch, xuất huyết hình chấm,
xuất tiết và phù võng mạc. Tất cả các triệu chứng trên dẫn đến giảm thị lực và
có thể gây mù loà.
- Viêm võng mạc tăng sinh: phát triển các mạch máu tân tạo và tổ chức
xơ tại võng mạc, tắc các mạch máu nhỏ và dẫn đến giảm thị lực.
Đối với đái tháo đường týp 1 thì mù loà thường là hậu quả của viêm
võng mạc tăng sinh, xuất huyết trong thể kính hoặc bong võng mạc. Còn đái
tháo đường týp 2 mù loà là do phù nề và thiếu máu tại chỗ của hoàng điểm hoặc
đục thủy tinh thể.
+ Tiêu hoá:
- Viêm lợi, lung lay răng, và dễ rụng răng, nguyên nhân do đường máu
tăng là điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn ở miệng phát triển dẫn đến
nha chu viêm, cộng thêm
những rối loạn tuần hoàn thiếu máu chi phối đến 2 hàm răng làm cho
răng rất dễ lung lay và rụng sớm (có những bệnh nhân tổn thương cả 2 hàm răng
mặc dù còn rất trẻ).
- Đi lỏng là triệu chứng hay gặp, nhất là ở những bệnh nhân đái tháo
đường nặng có nhiều biến chứng đi kèm. Nguyên nhân có thể do thiếu các
men tiêu hoá của tụy, viêm ruột, viêm dạ dày (do tổn thương vi mạch tại ruột
dẫn đến thiếu máu chi phối), do rối loạn thần kinh thực vật (chủ yếu thần kinh
giao cảm ruột).
- Viêm dạ dày thiểu toan thiểu tiết:
Nguyên nhân có thể là do rối loạn vi mạch, dẫn đến thiếu máu nuôi
dưỡng vùng dạ dày. Hậu quả làm giảm tiết axit chlohydric và pepsin của dạ dày.
- Rối loạn chức năng gan:
phù to toàn thận, protein niệu rất cao; giảm albumin, protein, tăng cholesterol
và tăng anpha 2 globulin huyết thanh. Nếu không được
điều trị thì bệnh nặng dần, dẫn đến suy thận mạn (thiếu máu, urê và
creatinin máu tăng dần), huyết áp tăng và dẫn đến tử vong.
+ Triệu chứng thần kinh:
- Tổn thương thần kinh hay gặp trong đái tháo đường là tổn thương thần
kinh ngoại vi (viêm đa dây thần kinh ngoại vi): biểu hiện lâm sàng đầu tiên là
dị cảm ngoài da (cảm giác như kim châm hoặc kiến bò), ngứa, đau, rối loạn
cảm giác (giảm hoặc mất cảm giác đau, nóng, lạnh ), có những vết loét hoặc
hoại tử ở chi dưới.
- Tổn thương thần kinh sọ não:
. Tổn thương dây III gây sụp mi.
. Tổn thương dây IV dẫn đến lác ngoài.
. Tổn thương dây VI gây lác trong.
. Tổn thương dây VII gây liệt mặt.
. Tổn thương dây thần kinh VIII, điếc sớm cũng hay gặp ở bệnh nhân
đái tháo
đường không được điều trị tốt.
+ Tổn thương thần kinh thực vật:
ở giai đoạn muộn của đái tháo đường dễ gây tổn thương thần kinh thực vật.
- Buồn nôn, nôn, táo lỏng thất thường do mất trương lực dạ dày, hay
đi lỏng về đêm, phân tự chảy do rối loạn cơ thắt hậu môn.
- Thiểu năng sinh dục (liệt dương), xuất tinh sớm, đái không tự chủ.
- Nhịp tim nhanh khi nghỉ ngơi, giảm tiết mồ hôi, hạ huyết áp khi thay
đổi tư thế, mất sự co giãn đồng tử.
- Chức năng túi mật cũng bị tổn thương dễ tạo ra sỏi mật.
+ Nhiễm khuẩn bàn chân rất hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, tổn
thương mạch máu lớn do vữa xơ động mạch dẫn đến tắc mạch và hoại tử chi
phải cắt cụt.