BỆNH CẦU THẬN MẠN
(Kỳ 2) V. CHẨN ĐOÁN
1. Chẩn đoán xác định: Dựa vào:
- Phù: tiền sử phù, tái phát nhiều lần.
- Đái ít.
- Cao huyết áp.
- Thiếu máu.
- Protein niệu.
- Hồng cầu niệu, trụ hạt, trụ hồng cầu.
- Suy thận: urê, creatinin máu, acid uric máu tăng, mức lọc cầu thận giảm.
- Siêu âm, X quang thận: hai thận teo nhỏ đều (rõ ở giai đoạn đã có suy
thận).
- Sinh thiết thận: sinh thiết thận để khẳng định viêm cầu thận mạn tiềm tàng
(chưa có triệu chứng lâm sàng) và để chẩn đoán loại tổn thương mô bệnh học.
2. Chẩn đoán giai đoạn:
2.1. Giai đoạn viêm cầu thận mạn tiềm tàng: Chưa có triệu chứng lâm sàng,
chỉ có protein niệu, hồng cầu niệu đơn độc.
2.2. Giai đoạn viêm cầu thận mạn có triệu chứng: Các triệu chứng như:
phù, cao huyết áp xuất hiện nhưng chưa có suy thận.
2.3. Giai đoạn viêm cầu thận mạn có hội chứng thận hư: Viêm cầu thận
kèm hội chứng thận hư tái phát nhiều đợt.
2.4. Giai đoạn viêm cầu thận mạn suy thận: Suy thận mạn là hậu quả cuối
cùng của viêm cầu thận mạn, khi đã xuất hiện thì ngày càng nặng dần từ giai đoạn
I đến giai đoạn IV.
3. Chẩn đoán phân biệt:
3.1. Xơ mạch thận lành tính (cao huyết áp): cao huyết áp xuất hiện trước
các triệu chứng khác. Protein niệu thường < 1 g/24giờ.
3.2. Xơ mạch thận ác tính (cao huyết áp ác tính): Huyết áp cao nặng, khó
Logimax 5/50 x 1-2 viên/24giờ.
Coversyl 4 mg x 1-2 viên/24giờ.
Nếu bệnh nhân đáp ứng tốt với nhóm ức chế men chuyển (Renitec,
Coversyl) có thể giúp bảo vệ nhu mô thận lâu dài.
Điều trị cần thường xuyên, theo dõi định kỳ về lâm sàng và chức năng
thận.
Nếu bệnh nhân viêm cầu thận có hội chứng thận hư, bên cạnh việc điều
trị triệu chứng, cần điều trị thuốc có giảm miễn dịch theo phác đồ điều trị hội
chứng thận hư (Corticoid, Cyclophosphamid, …).
Nếu có nhiễm khuẩn họng cần điều trị kháng sinh không độc thận kết hợp
một đợt từ 7-10 ngày.
Điều trị bệnh chính nếu có: đái tháo đường, Lupus …
2. Giai đoạn viêm cầu thận mạn, suy thận mạn:
Ở giai đoạn có suy thận mạn, ngoài việc điều trị triệu chứng cần điều trị
suy thận mạn tùy thuộc vào giai đoạn suy thận. Điều trị bảo tồn với suy thận từ
giai đoạn I đến giai đoạn II, hoặc điều trị thay thế thận suy ở giai đoạn suy thận
giai đoạn cuối.
(Bệnh thận Nội khoa. Nhà xuất bản Y học 2004)