BỆNH AMÍP (Kỳ 2) - Pdf 16

BỆNH AMÍP
(Kỳ 2)
Di chứng, biến chứng:
Bệnh amíp ruột thường là rối loạn chức năng đại tràng, viêm đại tràng, trĩ,
sa trực tràng, polype đại tràng, rối loạn hấp thu, rối loạn thần kinh thực vật, đôi khi
biến chứng xuất huyết tiêu hóa, hẹp trực tràng, tắc ruột, lồng ruột, ung thư hóa các
tổn thương ruột …
Bệnh amíp gan: (còn gọi là abcès gan amíp) hay gặp ở bệnh nhân có tiền
sử bệnh lỵ amíp, thường xuất hiện sau nhiều tháng, nhân lúc mệt mỏi quá sức, ăn
uống quá mức. Xảy ra ở nam nhiều hơn nữ, độ tuổi 20 - 50, hiếm gặp ở trẻ dưới 2
tuổi.
Soi phân tươi tìm amíp hút hồng cầu hoặc bào nang, có khi chỉ thấy được
dưới 10% dương tính.
1. Thể cấp: (60 - 70%)
- Sốt: bắt đầu sốt đột ngột hoặc từ từ, sốt trong 3 - 4 ngày từ 39 đến 40
o
C,
rét run, nhức đầu, mệt mỏi, đau dữ dội rồi đau âm ỉ hạ sườn phải, lan tỏa, có khi
tới mỏm xương bả vai phải, buồn nôn, nôn, đầy bụng. Thời kỳ này kéo dài 5 - 6
ngày đến vài tuần lễ.
- Tiếp theo là giai đoạn toàn phát với tam chứng Fontan: gan to, đau và sốt.
- Gan tự nhiên đau tức, tăng lên khi rung gan, đau nhói khi ấn kẽ liên sườn
đối xứng. Gan to, sa dưới bờ sườn 1 - 2 khoát tay hoặc hơn.
- Sốt cao > 38,5
o
C (70%) mang tính liên tục hoặc dao động, ảnh hưởng đến
toàn thân, cơ thể gầy sút.
- Các biểu hiện khác: BC tăng cao từ 15.000 - 20.000 chủ yếu là BCĐNTT,
VS tăng, trung bình 50 mm giờ đầu. Bệnh có thể diễn biến nặng khi abcès gan
thông lên màng phổi, lên phổi hoặc vỡ trong ổ bụng.
2. Thể bán cấp: (15 - 20%)

- Bệnh amíp não: gây abcès não với biểu hiện lâm sàng theo tính chất cấp,
bán cấp, ẩn và theo khu trú (não, tiểu não …) ít gặp.
Chẩn đoán lâm sàng phân biệt với lỵ amíp:
- Ở giai đoạn đầu mang tính cấp, cần phân biệt với:
+ Lỵ trực khuẩn, giống nhau về phân lỵ nhưng khác về triệu chứng: bắt đầu
đột ngột, có sốt, ảnh hưởng toàn thân. Sau khi điều trị ít tái phát.
+ Lỵ do Balantidium mang tính mạn, khó phân biệt với lỵ amíp, nếu cấp
tính có thể gây tử vong trong vài tuần lễ, chỉ khi tìm được Ký sinh trùng mới cho
phép chẩn đoán phân biệt.
+ Viêm đại tràng loét hoặc loét xuất huyết thì phân có máu và mủ (nhiều
BCĐNTT), không thấy ở lỵ amíp.
- Về sau, khi bệnh chuyển thành mãn tính, cần phân biệt với:
+ Viêm ruột đại tràng không đặc hiệu, rối loạn thần kinh ruột, viêm ruột đại
tràng do độc tố, bệnh tạng nhiễm khuẩn hay nhiễm ký sinh trùng Trichomonas
chilomastix, Lamblia, giun đũa, giun lươn …
+ Soi trực tràng cũng góp phần thêm yếu tố hướng về chẩn đoán lỵ amíp
hoặc phân biệt với viêm trực tràng có nguyên nhân khác.
- Chẩn đoán ký sinh trùng: soi phân tươi qua soi trực tràng (là tốt nhất) để
phân biệt amíp lỵ với các amíp khác không gây bệnh như E.Coli, Entamoeba
hartmanni, Pseudomonas buttschilii, Endolimax nana, Dientamoeba fragilis.
Chẩn đoán bệnh amíp gan:
- Chẩn đoán lâm sàng, cận lâm sàng:
+ Đau tức gan, có thể xuyên lên bả vai phải, gan to toàn bộ hay 1 thùy
(phải, trái), sốt cao, dao động kéo dài.
+ BC tăng, VS tăng.
+ Ngoài ra có thể thấy qua X quang phổi: vòm hoành phải cao, vận động cơ
hoành phải hạn chế, đầy xoang màng phổi phải.
+ Siêu âm, chụp lấp lánh phát hiện vị trí khoang lỏng của abcès gan.
+ Xét nghiệm thấy amíp trong phân, trong mủ, chọc hút ít khi (+) (5 -
10%).


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status