Suy thận mạn (Kỳ 3) potx - Pdf 16

Suy thận mạn
(Kỳ 3)
TS. Hà Hoàng Kiệm (Bệnh học nội khoa HVQY)
4. Tổn thương giải phẫu bệnh.
Hình ảnh tổn thương giải phẫu bệnh của suy thận mạn tùy theo nguyên
nhân gây ra suy thận và giai đoạn suy thận.
4.1. Suy thận mạn do viêm cầu thận mạn:
- Hình ảnh đại thể:
80-90% trường hợp suy thận mạn thấy cả 2 thận teo nhỏ tương đối đều
cả hai bên, vỏ thận màu xám hoặc có những nốt trắng đỏ xen kẽ. ở những bệnh
nhân có tiền sử thận hư thì vỏ thận thường có các chấm màu vàng. Vỏ thận
dính chặt vào nhu mô thận làm khó bóc.
Đài thận và bể thận bình thường.
- Hình ảnh vi thể:
Các cầu thận bị xơ hoá thì teo nhỏ, các quai mao mạch dính với vỏ
nang Bowmann. Những cầu thận bị thoái hoá không hoàn toàn thì các quai mao
mạch bị dính ít hoặc nhiều với vỏ nang Bowmann; có chỗ quai mao mạch và
vỏ nang Bowmann vẫn tách nhau, còn khoang niệu.
ống thận teo và xơ hoá; bên cạnh đó có những ống thận không teo mà
quá sản, lòng ống rộng ra, tế bào biểu mô ống thận to.
Mô kẽ thận xơ hoá và rộng ra làm cho các ống thận cách xa nhau, đồng
thời thấy xâm nhập nhiều tế bào viêm mạn vào tổ chức kẽ thận.
Mạch máu thận có thành dày do tổn thương thứ phát của tăng huyết áp.
Khi suy thận giai đoạn cuối thì cầu thận, ống thận, mạch máu thận và
mô kẽ đều bị xơ hoá, có khi không phân biệt nổi nguồn gốc của bệnh.
4.2. Suy thận mạn do viêm thận-bể thận mạn:
- Hình ảnh đại thể:
Thận thường teo nhỏ một bên hoặc cả 2 bên nhưng không đều, vỏ thận lồi-
lõm không đều, những chỗ lõm tương ứng với sẹo trong nhu mô. Nếu có ứ nước
hoặc ứ mủ thì thận to hơn bình thường, nhu mô thận mỏng, đài-bể thận giãn.
- Hình ảnh vi thể:

nang ở vùng tuỷ thận.
5. Triệu chứng.
5.1. Lâm sàng:
+ Da: thường có màu xám nhợt do thiếu máu và ứ đọng các sản phẩm
chuyển hoá, có thể có ngứa do lắng đọng canxi gợi ý có cường chức năng tuyến
cận giáp thứ phát.
+ Phù: suy thận mạn do viêm cầu thận mạn thường có phù; ngược lại viêm
thận-bể thận mạn thường không có phù, ở giai đoạn cuối có thể có phù do suy
tim hay thiểu dưỡng.
+ Triệu chứng về máu:
- Thiếu máu: mức độ thiếu máu tương ứng với mức độ nặng của suy
thận; suy thận càng nặng thì thiếu máu càng nhiều. Thường thiếu máu đẳng
sắc, sắt huyết thanh bình thường, không thấy rõ phản ứng tăng sinh hồng cầu ở
tuỷ xương. Suy thận giai đoạn II, số lượng hồng cầu khoảng 3x1012/l; suy
thận giai đoạn III, số lượng hồng cầu khoảng 2- 2,5x1012/l; suy thận giai
đoạn IV, số lượng hồng cầu thường < 2x1012/l.
- Xuất huyết: chảy máu mũi, chảy máu chân răng, chảy máu dưới da,
chảy máu đường tiêu hoá. Nếu có xuất huyết đường tiêu hoá thì bệnh tiến triển
nặng lên nhanh chóng, urê máu tăng nhanh.
+ Tim mạch: biến chứng tim mạch gặp khoảng 50%-80% số bệnh nhân
bị suy thận mạn. Thường gặp các biến chứng như tăng huyết áp, suy tim ứ
huyết, vữa xơ động mạch, bệnh cơ tim và van tim, viêm màng trong tim, viêm
màng ngoài tim, các rối loạn nhịp tim.
- Tăng huyết áp: gặp khoảng 80% số bệnh nhân bị suy thận mạn có tăng
huyết áp.
- Suy tim là hậu quả của ứ đọng muối-nước và tăng huyết áp lâu ngày.
- Viêm màng ngoài tim khô hoặc có dịch xuất hiện ở giai đoạn cuối vì
urê máu cao. Khi có tiếng cọ màng ngoài tim là dấu hiệu báo tử vong trong 1-
14 ngày nếu không được lọc máu hoặc điều trị tích cực.
+ Triệu chứng tiêu hoá: giai đoạn đầu, bệnh nhân thường chán ăn, buồn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status