thương mại quyền sở hữu trí tuệ - Pdf 16

I - Quyền sở hữu trí tuệ, khái niệm và những vấn đề cơ bản:
Trước khi tim hiểu về vấn đề bảo hộ quyền tác giả, chúng ta nên tìm hiểu về
khái niệm và một số vấn đề cơ bản về quyền sở hữu trí tuệ. Một câu hỏi đặt ra là:
Tại sao phải có quyền sở hữu trí tuệ?
Trước thập niên 90, khái niệm “tài sản” được nhiều người biết đến chỉ bao gồm
tiền tệ và vật chất. Trong nền kinh tế hiện đại, nhiều quốc gia nhất là các quốc gia
phát triển đang hướng tới một nền kinh tế dựa trên tri thức (thông tin và công
nghệ), do đó khái niệm này được thay đổi, “tài sản” không chỉ là tiền, vàng, nhà
xưởng, xe cộ mà nó bao gồm cả tài sản vô hình, trong đó có tài sản trí tuệ.
Tài sản trí tuệ là sản phẩm của óc con người, tri thức của nhân loại, do đó cần
phải được bảo hộ. Để bảo hộ những tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ đã ra đời
với tư cách là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với các tài sản trí tuệ mà tổ chức,
cá nhân đó phát minh, chế tạo ra và được thực thi bằng các điều luật, công ước.
Đó là dưới góc độ pháp luật. Tuy nhiên, quyền sở hữu trí tuệ không phải chỉ là
một thứ luật pháp mà còn có những căn bản về kinh tế.
Dưới góc độ kinh tế thì bất cứ khi nào một sản phẩm mới vào thị trường và thu
hút khách hàng thành công, không sớm thì muộn sẽ bị đối thủ cạnh tranh sản xuất
các sản phẩm giống hoặc tương tự. Trong một số trường hợp, đối thủ cạnh tranh sẽ
hưởng lợi từ việc tiết kiệm về quy mô sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường lớn
hơn, có quan hệ tốt hơn với các nhà phân phối chính hoặc tiếp cận với các nguồn
nhiên liệu thô và rẻ hơn và do đó, có thể sản xuất một số sản phẩm tương tự hoặc
giống hệt với giá thành rẻ hơn, tạo áp lực nặng nền lên nhà sáng tạo ra sản phẩm
hoặc dịch vụ nguyên gốc. Đôi khi điều này sẽ đẩy nhà sáng tạo gốc ra khỏi thị
trường, đặc biệt khi mà họ đã đầu tư đáng kể vào việc phát triển sản phẩm mới thì
đối thủ cạnh tranh lại hưởng lợi từ kết quả đầu tư đó và chẳng mất một xu nào cho
thành quả sáng tạo và sáng chế của nhà sáng tạo gốc. Đây là nguyên nhân quan
trọng cẩn phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vì mục đích kinh tế.
Theo điều 4.1 của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam: quyền sở hữu trí tuệ là quyền
của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên
quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây
trồng.

giúp đỡ nhằm đảm bảo rằng quyền của người phát minh và chủ sở hữu tài sản trí
tuệ được bảo hộ trên toàn thế giới và rằng các nhà phát minh và tác giả được công
nhận và hưởng thành quả từ tài năng của họ. Tiền thân của WIPO là BIRPI được
thành lập vào năm 1893 để quản lý việc thực thi Công ước Berne về bảo hộ các tác
phẩm văn học và nghệ thuật và Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp. Từ
ngày 26 tháng 4 năm 1970, Công ước về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
(WIPO) chính thức có hiệu lực.
Hiệp định về các Khía cạnh Liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí
tuệ TRIPS (do Tổ chức Thương mại Thế giới quản lý thực hiên). Hiệp định về các
Khía cạnh Liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí Tuệ được ký kết vào
cuối những năm 1994 như là một phần của Hiệp định Thương mại Đa phương của
vòng Đàm phán Uruguay. Nó giúp cho việc xây dựng nền tảng các tiêu chuẩn của
việc bảo hộ tất cả các quyền sở hữu trí tuệ và việc thực hiên các tiêu chuẩn đó cả ở
trong nước và nước ngoài thông qua các hoạt động hành chính và tư pháp.
Ngoài ra, còn có các Hiệp định trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp như: Công
ước Pari (1883) về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Hiệp định Madrid về đăng ký quốc
tế đối với nhãn hiêu (1981); Hiệp đinh Hague về đăng ký quốc tế về kiểu dáng
công nghiệp (1825); Hiệp đinh Lisbon về bảo hộ đối với tên gọi xuất sứ và đăng ký
quốc tế về xuất xứ (1958); Hiệp đinh Washington về sở hữu trí tuệ liên quan đến vi
mạch (1989)…
Về các Hiệp định trong lĩnh vực bản quyền và quyền liên quan: Công ước
Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (1886); Công ước Rome về
bảo hộ diễn viên, người sản xuất chương trình ghi âm, và các tổ chức truyền thông
(1961); Công ước Geneva về bảo hộ các nhà sản xuất chương trình thu thanh
chống lại việc sao chép bất hợp pháp các chương trình của họ (1971); Công ước
Brussels liên quan đến việc truyền các tín hiệu qua vệ tinh (1974); …
II, Bào hộ Quyền tác giả (Bản quyền):
Quyền tác giả hay còn gọi là bản quyền, là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
tác phẩm do mình sáng tác ra hoặc sở hữu. Các tác phẩm là sản phẩm sáng tạo
trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện

- Tác phẩm điện ảnh;
- Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
- Tác phẩm nhiếp ảnh;
- Tác phẩm kiến trúc;
- Bản hoạ đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
Liên quan đến tác phẩm phái sinh, tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy
định nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm
tác phẩm phái sinh.
Chủ sở hữu quyền tác giả là:
- Tác giả;
- Đồng tác giả;
- Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả;
- Người thừa kế;
- Người được chuyển giao quyền;
- Nhà nước;
- Công chúng.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả:
Quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật Sở hữu trí
tuệ được bảo hộ vô thời hạn.
Quyền nhân thân quy định tại khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại
Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ có thời hạn bảo hộ như sau:
- Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có
thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu
tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố
trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn
bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm
khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính
theo quy định tại điểm b khoản này;

quan thuộc sở hữu chung.
Sau khi đăng ký, cá nhân và chủ thể sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền tác
giả. Về việc quản lý giấy chứng nhận quyền tác giả thì:
Cơ quan quản lý nhà nước mà cụ thể là Cục Bản quyền tác giả có quyền cấp
cũng như có quyền cấp lại, đổi, hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.
Việc cấp, đổi, hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có thể được
thực hiện trong các trường hợp sau:
- Trong trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả bị mất, hư hỏng
hoặc thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thì cơ
quan có thẩm quyền tiến hành cấp lại hoặc đổi Giấy chứng nhận đăng ký
quyền tác giả.
- Trong trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả
không phải là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không thuộc đối tượng bảo
hộ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền huỷ bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận
đăng ký quyền tác giả.
- Tổ chức, cá nhân phát hiện việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trái với quy định của pháp luật thì
có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, huỷ bỏ hiệu
lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.
Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là trong thời hạn mười
lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về
quyền tác giả có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho
người nộp đơn.
Việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả rất quan trọng và có lợi. Dù đăng ký
quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả. Việc
đăng ký bảo hộ không phải là cơ sở xác lập quyền tác giả; tác phẩm dù có đăng ký
hay không đăng ký quyền tác giả đều được hưởng sự bảo hộ như nhau. Việc bảo hộ
quyền tác giả là tự động và không phụ thuộc vào việc đăng ký. Tuy nhiên, việc
đăng ký quyền tác giả lại cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền tác
giả, đặc biệt trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra.

quyền tác giả nói riêng, nhiều công ước quốc tế về quyền tác giả đã ra đời. Tuy
nhiên, không phải mọi công ước quốc tế về quyền tác giả, các quốc gia thành viên
đều đề cập đến vấn đề thực thi này. Vấn đề thực thi quyền tác giả được quy định
chủ yếu trong công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được
ký kết tại Berne, Thụy Sĩ năm 1886 và Hiệp đinh về các khía cạnh thương mại
quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) được ký ngày 15/4/1994.
Công ước Berne là công ước đầu tiên và là công ước nền tảng về quyền tác giả.
Trong công ước Berne, vấn đề thực thi quyền tác giả được quy định tại các điều 13,
15, 16 và 17. Theo quy định tại điều 15, tác giả của tác phẩm văn học nghệ thuật
“được khởi kiện những người vi phạm tác phẩm của mình trước Tòa án ở các nước
thành viên Liên hiệp”. Đề được Tòa án bảo vệ, tác giả “chỉ cần có tên mình ghi
trên tác phẩm theo như thông lệ”. Đối với những tác phẩm chưa xuất bản mà chưa
biết ai là tác giả, nhưng có đủ cơ sở đề cho rằng tác giả là công dân một nước thành
viên Liên hiệp, thì luật pháp quốc gia thành viên Liên hiệp có khả năng chỉ định
một cơ quan có thẩm quyền đại diện cho tác giả và có thẩm quyền bảo hộ và thực
thi các quyền của tác giả trong các nước thành viên Liên hiệp. Điều 16, 17 quy
định các biện pháp cụ thể có thể được áp dụng trong quá trình thực thi quyền tác
giả. Cụ thể là: mọi tác phẩm phi pháp có thể bị tịch thu ở những quốc gia là thành
viên Liên hiệp, nơi tác phẩm nguyên tác được hưởng sự bảo hộ của luật pháp. Việc
tịch thu cũng được xử lý theo luật pháp của mỗi quốc gia. Công ước Berne cũng
cho phép các thành viên được áp dụng các biện pháp kiểm soát, biện pháp cấm
khác để xử lý hành vi vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật.
Như vậy trong công ước Berne, vấn đề thực thi mới chỉ dừng lại ở mức độ thừa
nhận quyền tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật được bảo vệ khi có hành vi vi
phạm. Vấn đề thực thi quyền tác giả chưa được quy định trong một phần riêng,
chưa cụ thể và chi tiết, các biện pháp còn sơ sài.
Hiệp đinh TRIPS là văn bản “xương sống” của Tổ chức thương mại thế giới
WTO. Hiệp định TRIPS bao gồm những nguyên tắc toàn diện thống nhất về thực
thi quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thể giới. So với công ước Berne, hiệp
định TRIPS thể hiện bước phát triển rất rõ ràng. Hiệp đinh dành phần III với 21

+ Chính phủ;
+ Bộ văn hóa – thông tin;
+ Cục bản quyền tác giả - văn học nghệ thuật;
+ Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
+ Sở văn hóa – thông tin;
+ Thanh tra chuyên ngành văn hóa thông tin;
+ Cơ quan hải quan;
+ Cơ quan quản lý thị trường;
+ Cảnh sát kinh tế;
+ Bộ đội biên phòng;
Đối với phương thức hành chính, các biện pháp bảo vệ quyền của chủ thể bị
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ rất phong phú. Cụ thể bao gồm: phạt tiền,
tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh; tịch thu tang vật, phương tiện
xâm phạm hành chính; buộc loại bỏ các yếu tố xâm phạm trên sản phẩm
hàng hóa , phương tiện kinh doanh; buộc bồi thường do thiệt hại xâm phạm
hành chính gây ra… Trong đó, hình thức xử phạt chính là phạt tiền.
- Phương thức hình sự: Khi hành vi xâm phạm quyền tác giả của cá nhân, tổ
chức là hành vi nguy hiểm cho xã hội thì cá nhân, tổ chức đó có thể bị truy
cứu trách nhiệm hình sự. Thông thường, hành vi xâm phạm quyền tác giả bị
xử lý hình sự nếu trước đó đã bị xử lý hành chính. Bộ luật hình sự năm
1985, sau đó là Bộ luật hình sự năm 1999 đều quy định các tội danh và hình
phạt tương ứng nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Khi bị xử lý hình sự, các
cá nhân, tổ chức xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị phạt tiền, cảnh
cáo, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định hoặc bị cấm hành nghề nhất định
trong một thời gian và hình phạt cao nhất có thể phải gánh chịu là phạt tù.
Thực trạng và đánh giá pháp luật hiện hành của Viêt Nam về thực thi quyền
tác giả:
- Những kết quả đạt được: Trước hết phải khẳng đinh rằng các quy định pháp
luật hiện hành của nước ta đã bắt đầu tạo được cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo
thực thi quyển tác giả ở Việt Nam. Pháp luật quyền tác giả bao gồm những nội

quyền. Có những hành vi xâm phạm quyền tác giả một cách rõ ràng, nhưng có
những hành vi phải phân tích, xem xét kỹ lưỡng rồi mới kết luận được có phải
hành vi vi phạm hay không. Điều đó dẫn đến hai hệ quả là: bỏ sót người vi phạm
hoặc xử lý nhầm người không vi phạm.
Thứ tư. Về biện pháp khẩn cấp tạm thời. Biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy
định trong hiệp định TRIPS với ý nghĩa là một biện pháp chế tài dân sự và hành
chính. Tuy nhiên, mãi đến năm 2004, khi bộ luật tố tụng dân sự được ban hành,
biện pháp này mới được thừa nhận ở Việt Nam. Như vậy, cho đến nay biện pháp
này còn rất mới mẻ ở Việt Nam và hầu như chưa được áp dụng trong thực tế. Đây
cũng chính là một khó khăn cho những người làm công tác xét xử.
Như vậy, những phân tích trên cho thấy các quy định pháp luật Việt Nam về
thực thi quyền tác giả chưa ở mức độ hoàn thiện, vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Sau
đây, xin đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả.
Một số giải pháp kiến nghị để nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả:
Thứ nhất. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quyền tác giả nói chung, những quy định
về thực thi quyền tác giả nói riêng. Đối với phương thức dân sự, cần phải quy định
cụ thể hơn về các vấn đề: những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ thuộc thẩm
quyền của Tòa án; những tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện tranh chấp về quyền
sở hữu trí tuệ trước Tòa án; cơ quan có thẩm quyền giám định và trình tự, thủ tục
giám định… Đối với phương thức hành chính, cần phải quy định rạch ròi thẩm
quyền của các cơ quan có chức năng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quyền tác giả. Đối với phương thức hình sự, cần quy định những tôi phạm mới cho
phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin.
Thứ hai. Nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của sở hữu tri tuệ, quyền
sở hữu trí tuệ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ ba. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng của các cán bộ
chuyên trách.
Thứ tư. Tăng cường hợp tác quốc tế. Ngay từ thế kỷ 19, bảo hộ và thực thi sở
hữu trí tuệ không còn là vẫn đề của mỗi quốc gia mà là vấn đề toàn cầu. Bởi vậy,
để đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cần phải tăng cường sự hợp tác giữa các

không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
-Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
-Cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền
tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
-Cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong
tác phẩm.
-Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho
thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện
pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả
đối với tác phẩm của mình.
-Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
-Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của
chủ sở hữu quyền tác giả.
* Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp:
Thực trạng: Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, việc bảo hộ quyển sở hữu trí
tuệ, đặc biệt là bản quyền của Việt Nam đã có tiến bộ đáng kể. Mấy năm qua, Việt
Nam đã ghi nhiều triệu USD cho việc mua bản quyền. Tuy đã đạt được một số kết
quả tích cực trong việc bảo hộ quyền tác giả song kết quả thực thi vẫn chưa đạt
mục tiêu, tình trạng xâm phạm quyền tác giả vẫn tiếp tục diễn ra ở hầu hết các lĩnh
vực, trong đó có những vụ việc gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư,
hợp tác kinh tế quốc tế.
Trong lĩnh vực xuất bản: Tình trạng in lậu sách diễn ra thường xuyên. Theo
thống kê, chỉ trong nửa đầu tháng 3 năm 2005, đã có hai nhà xuất bản vi phạm bản
quyền. Đó là nhà xuất bản Trẻ và nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
Mười đầu sách của nhà xuất bản Trẻ đã bị “luộc” và in lậu với số lượng lớn. Sách
bị in lậu là hiện tượng gây đau đầu cho các nhà xuất bản, họ cho rằng “sách lậu là
căn bệnh trầm kha của ngành xuất bản” và kêu cứu “không hề có câu trả lời cho
việc cho việc bao giờ những hiện tượng như vậy mới chấm dứt, bao giờ những đơn
vị xuất bản làm ăn đúng đắn được yên ổn để phát triển hoạt động của mình”. Hơn
lúc nào hết, họ luôn mong có được những giải pháp hữu hiệu từ phía cơ quan quản

lao thỏa đáng cho tác giả. Loại vi phạm này diễn ra nhiều nhất ở hoạt động biểu
diễn âm nhạc. Gần đây nhất là sự việc ca sĩ Uyên Linh vi phạm bản quyền bài hát
“Đường cong”. Sau khi Vietnam idol kết thúc, ca sĩ Uyên Linh đã tiếp tục mang
bài hát “Đường cong” đi biểu diễn khắp nơi mà không xin phép tác giả - nhạc sĩ
Nguyễn Hải Phong… Tuy nhiên, cũng có dấu hiệu đáng mừng rằng, sau khi Việt
Nam là thành viên của Công ước Berne, các tổ chức, cá nhân liên quan đến quyền
tác giả đều thận trọng hơn khi sử dụng tác phẩm. Nhiều ca sĩ, nhà sản xuất băng,
đĩa hình, băng đĩa nhạc đã phải bỏ đi các bài hát nước ngoài, các bài hát nhạc Hoa,
nhạc Thái lời Việt trong chương trình. Nhà xuất bản Văn học, nơi sách dịch chiếm
1/3 tổng số sách phát hành hàng năm cũng đã tạm dừng tất cả các sách dịch vì chưa
tìm ra cách thức nào để liên hệ với tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.
Như vậy, Việt Nam đang phải đối mặt với nạn vi phạm bản quyền nghiêm
trọng. Theo thống kê mới đây, vi phạm trong lĩnh vực nghe nhìn băng đĩa tới 95%,
ngôn ngữ bị vi phạm dưới hình thức sao chép tới 90%. Có hai vấn đề khiến nạn sao
chép lậu trở nên nghiêm trọng và đe dọa hệ thống QTG ngành xuất bản hiện nay,
đó là do các tiến bộ của các phương tiện lưu ghi và thiết bị sao chép các tác phẩm,
khiến những kẻ sao chép lậu có thể dễ dàng sản xuất các phiên bản bất hợp pháp từ
tác phẩm gốc mà không phải trả chi phí nào cho việc sáng tạo ban đầu.
Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn bán
hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5 năm (2002-2007),
lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát hiện 1092
vụ sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngoài ra mỗi năm, các cơ quan chức năng đã phát
hiện hàng ngàn vụ sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Trong năm 2006, thanh tra chuyên ngành văn hoá – thông tin tiến hành kiểm tra
20.414 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 5.647 cơ sở vi phạm; đã cảnh
cáo 519 cơ sở; đình chỉ hoạt động của 289 cơ sở; tạm giữ giấy phép kinh doanh của
160 cơ sở; chuyển xử lý hình sự 09 trường hợp; xử phạt hành chính
10.891.780.000 đồng. Thanh tra Bộ Văn hoá – Thông tin tiến hành kiểm tra và
phát hiện nhiều cơ sở kinh doanh máy tính lắp đặt, xây dựng các trang Web, cung
cấp cho khách hàng các phần mềm Windows, Micrrosoft office, Vietkey… vi

chuyện làm thế nào để ngăn chặn nạn “chảy máu thông tin”, Phó cục trưởng Cục
Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Vũ Ngọc Hoan cho rằng: “Đây là vấn đề đau
đầu của nhà quản lý nhiều quốc gia chứ không chỉ Việt Nam”.
Nhạc sỹ Phó Đức Phương nhận định, giải quyết vấn đề vi phạm bản quyền
tại Việt Nam là việc khó khăn và gian truân. “Đây là vấn đề xảy ra hàng ngày,
hàng giờ. Có đến hàng tỷ trường hợp mà chúng tôi chưa đấu tranh được, rất bức
xúc”.
Điều ngạc nhiên là, cứ khi nào gặp khó khăn về vấn đề bảo hộ bản quyền, là
khi đó các cơ quan chức năng lại đá quả bóng trách nhiệm cho nhau.
Ví dụ: vụ vi phạm xuyên tạc, đạo lời của FPT mới đây, Hội Nhạc sỹ Việt Nam đẩy
trách nhiệm cho Cục Bản quyền và Trung tâm Bản quyền âm nhạc Việt Nam. Còn
Trung tâm và Cục lại chọn cách đẩy trách nhiệm cho cơ quan xử lý hành chính là
Thanh tra Bộ và Cục Nghệ thuật biểu diễn. Sau khi tham gia Công ước Berne, Cục
trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn Lê Ngọc Cường vẫn không ngần ngại khi nói
rằng, Việt Nam đang “vạch áo cho người xem lưng”. Theo ông Cường, vi phạm
bản quyền là một vấn đề bức xúc ở khá nhiều nước trên thế giới, nhưng đó chỉ là
bước đệm trong tiến trình phát triển. “Còn tại Việt Nam, luật pháp do chính bản
thân con người tạo ra, vậy mà khi xử lý thì ai cũng chọn cách tránh né, sợ hãi nếu
phải giải quyết khiếu kiện”.
Vạch ra những quyền lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Berne, ông Vũ
Ngọc Hoan cho rằng, động thái này chứng tỏ Việt Nam đồng ý cam kết với quốc tế
về việc bảo hộ quyền các tác giả nước ngoài ở Việt Nam, và ngược lại quyền tác
giả của các tác giả Việt Nam cũng được tôn trọng ở nước ngoài. Chưa kể, việc gia
nhập vào các sân chơi thế giới cũng là một điều kiện để Việt Nam tiếp tục được
mời gọi vào những công việc toàn cầu của WTO. Trước nghi ngờ, phải chăng Việt
Nam “bó tay” với nạn vi phạm bản quyền, ông Hoan cho rằng, có nhiều yếu tố
khách quan khiến hiện tượng này vẫn chưa thể giải quyết rốt ráo. Những cơ sở
pháp lý bảo vệ quyền tác giả chưa hoàn thiện, chưa kể các biện pháp kỹ thuật
không đáp ứng nổi yêu cầu. “Sự phát triển quá nhanh của internet vượt quá khả
năng lường trước của những người làm luật”.

đang diễn ra nghiêm trọng. Một thực tế nữa là, nhiều trung tâm bản quyền tác giả
đã tỏ ra mệt mỏi, thậm chí là chán nản vì xử lý được nơi này thì nơi kia lại vi
phạm. Trông thấy vi phạm nhưng để áp dụng các chế tài xử phạt thì lại chưa được
hiệu quả. Đây là khúc mắc lớn nhất của các trung tâm bản quyền trên mọi lĩnh vực
khi họ yêu cầu các chế tài xử phạt việc vi phạm bản quyền và đòi bản quyền tác
giả.
-Thứ ba, các quy định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ còn
chưa tập trung, mà rải rác trong quá nhiều văn bản, như: Hiến pháp năm 1992, Bộ
luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1997 (sửa đổi bổ sung năm
2002, 2008), Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Luật Khoa
học và Công nghệ năm 2000, Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004, Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2003, Luật Tố tụng dân sự năm 2005, Luật Hải quan năm
2002… và trong nhiều văn bản hướng dẫn, thi hành các luật, pháp lệnh nêu trên.
Trong khi đó, những quy định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ
lại chưa thật đầy đủ, chưa đồng bộ, đặc biệt là những quy định về các biện pháp và
chế tài xử lý mới chủ yếu dừng ở các hình thức xử lý hành chính, chưa phù hợp với
tình hình thực tế, chưa đủ sức răn đe đối tượng vi phạm. Chế tài về hình sự chỉ
được áp dụng với cá nhân, trong khi nhóm tội về sở hữu trí tuệ chủ yếu là do tổ
chức thực hiện, vì vậy, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự với pháp nhân
được. Các quy định về yếu tố cấu thành của tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp, tội xâm phạm quyền tác giả, tội sản xuất, buôn bán hàng giả chưa cập nhật
được những nội dung mới trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, chưa phù hợp với
yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, như Hiệp
định thương mại Việt-Mỹ và các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO)
-Thứ tư, trên thực tế, tổ chức và hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm đấu
tranh với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn thiếu đồng bộ và chồng
chéo, nhiều tầng nấc xử lý khiến hiệu lực thực thi bị phân tán, phức tạp. Hiện có tới
6 loại cơ quan (UBND các cấp, thanh tra khoa học và công nghệ, thanh tra văn hóa,
cảnh sát kinh tế, quản lý thị trường, hải quan) cùng có thẩm quyền xử phạt vi

hộ và trông chờ sự bảo hộ của luật pháp, để hạn chế ở mức thấp nhất tài sản trí tuệ
bị xâm phạm, nên có một hệ thống nhân sự và kỹ thuật chuyên bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ. Những doanh nghiệp có uy tín trên thế giới đều rất coi trọng vấn đề
thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, hàng hóa để bảo vệ quyền lợi của chính mình và
quyền lợi của cộng đồng. Ngay tại Việt Nam, việc Công ty Unilever đã thành lập
“đội ACF” với chức năng là chuyên bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ các nhãn hàng của
Công ty trên cơ sở chủ động hợp tác với các cơ quan chức năng, là một kinh
nghiệm tốt.
-Thứ tư, tiếp tục tăng cường vai trò quản lý và điều hành của nhà nước, sửa đổi cơ
chế, chính sách nhằm khuyến khích sản xuất hàng hoá trong nước đủ sức cạnh
tranh đối với hàng hóa ngoại, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng; hạn chế lạm
phát và giảm tỉ lệ thất nghiệp.
-Thứ năm, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia xây dựng lực lượng cảnh sát chuyên
trách chống tội phạm đặt trụ sở tại một số quốc gia trong khu vực nhằm phát hiện
kịp thời những hành vi vi phạm, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống
tội phạm về xâm phạm sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả.
* Xử lý vi phạm:
Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền
tác giả nói riêng của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm
phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. Trong
trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan
đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy
định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Xử lý bằng biện pháp dân sự: Tòa án áp dụng những biện pháp dân sự sau đây
để xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;

6. Hành vi xâm phạm quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng
cuộc biểu diễn chưa được định hình bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 70 triệu đồng;
7. Hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích thương mại đã công bố bị
phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng;
8. Hành vi trích ghép chương trình phát sóng bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50
triệu đồng.
Các hình thức phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với các hành vi xâm phạm nói
trên bao gồm
Thứ nhất: Tịch thu hàng hóa vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan, nguyên
liệu, vật liệu, phương tiện và thiết bị được sử dụng để sản xuất, kinh doanh hàng
hóa vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan;
Thứ 2: Đình chỉ có thời hạn từ 90 ngày đến 180 ngày hoạt động kinh doanh.
Tùy từng trường hợp, các biện pháp buộc khắc phục hậu quả như buộc đưa ra khỏi
lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất đối với hàng hóa quá cảnh, nhập khẩu vi
phạm; buộc dỡ bỏ bản gốc, bản sao tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình,
chương trình phát sóng đã truyền đạt trái phép trên mạng kỹ thuật số; buộc dỡ bỏ
bản sao tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng sao
chép trái phép dưới hình thức điện tử, v.v cũng có thể được áp dụng.
Xử lý vi phạm bằng biện pháp hình sự: Các cá nhân thực hiện hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.
Xử lý vi phạm bằng các biện pháp khác:
- Biện pháp khẩn cấp tạm thời.
- Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ
*thời hiệu sử phạt
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm hành
chính được thực hiện hoặc ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vi phạm trong trường
hợp cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
tố tụng hình sự nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án

chung đến thị trường thì lại khó tiên đoán, bởi lẽ nó có hai hiệu ứng tương
phản. Một mặt, QSHTT càng chặc thì thế lực thị trường của công ty ngọai càng
mạnh, song mặt khác nó cũng làm thị trường nhỏ lại vì sự rút lui của các công ty
bé. Ảnh hưởng tối hậu sẽ tuỳ vào hiệu ứng nào là mạnh hơn.
2, Ảnh hưởng của quyền sở hữu trí tuệ đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI):
Nói chung, QSHTT càng chặc chẽ thì càng giảm mô phỏng và càng khuyến
khích FDI. Tuy nhiên ảnh hường này tùy vào lọai công nghệ: cũ hoặc mới, có dễ
bắt chước hay không.
Đối với các công nghệ "cũ" (đã chuẩn hóa) thì FDI tuỳ thuộc phần lớn vào giá
phí đầu vào, tầm cở thị trường, cước chuyên chở, và những lợi thế vị trí khác, do
đó thắt chặc QSHTT sẽ không có ảnh hưởng đáng kể đến FDI những công nghệ
ấy. Đối với các công nghệ tân tiến thì thắt chặc QSHTT sẽ thu hút FDI, khuyến
khích chuyển giao công nghệ, nhất là loại dễ bắt chuớc. Lý do là bằng phát minh,
bản quyền và thương hiệu sẽ làm tăng giá trị của “tài sản tri thức”, và cách khai
thác loại tài sản đó hữu hiệu nhất là trong nội bộ xí nghiệp (thay vì qua cơ chế thị
trường). Trong phương diện này, cũng nên xem đến yếu tố khác (loại công nghệ,
trình độ bắt chước, mức độ cạnh tranh) trong nước. Ngoài ra, một chế độ QSHTT
rộng rãi và thực thi cũng khuyến khích các công ty nước ngòai tìm kiếm công
nghệ thích hợp với địa phương.
3, Sở hữu trí tuệ với phát triển kinh tế:
Dùng QSHTT như một “công cụ” để phát triển quốc gia không phải là một ý
mới. Chính các nước hiện nay đã phát triển cũng đã tích cực sử dụng công cụ này
trong quá khứ. Chẳng hạn như từ năm 1790 đền 1836 thì Mỹ (lúc ấy là nhập khẩu
công nghê) chỉ cấp bằng phát minh cho cư dân Mỹ. Đến 1836 thì chính sách này
mới được nới lỏng, và chỉ sau 1861 Mỹ mới cấp QSHTT cho công dân nước khác.
Tương tự, một phần chiến lược "bắt kịp" nổi tiếng của Nhật cũng là dựa vào du
nhập công nghệ nước ngòai, qua một chế độ QSHTT cố ý nâng đỡ phổ biến tri thức
hơn là sáng tác. Gần đây hơn (từ 1960 đến 1980) Đài Loan và Hàn Quốc đã khá
lỏng lẻo trong vấn đề bảo vệ QSHTT, phần chính cũng là để các nhà sản xuất của

thêm sự chênh lệch nghèo giàu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status