Xác định năng khiếu của trẻ
Chỉ khoảng 1% trẻ em thuộc diện thiên tài, trong khi tỷ lệ được xếp là có năng
khiếu chừng 15-20%. Năng khiếu đó có thể là tư duy thần đồng trong một môn
học, nhưng "gà mờ" ở các môn khác, hoặc giỏi toàn diện, hoặc thậm chí là những
biểu hiện bất thường, khó bảo Việc xác định đúng kiểu năng khiếu sẽ quyết định
lớn đến cơ hội thành công của trẻ trong tương lai.
Các nhà tâm lý hiện đánh giá năng khiếu như một khái niệm mang tính điều kiện
và tạm thời. Tính điều kiện thể hiện ở chỗ có rất nhiều điểm (nếu như không nói là
tất cả) phụ thuộc vào việc đứa trẻ có năng khiếu sẽ phát triển khả năng của mình
như thế nào, liệu gia đình có sẵn sàng ủng hộ những say mê của trẻ hay không. Ví
dụ, một đứa trẻ được nuôi dạy và lớn lên trong một gia đình nhạc sĩ sẽ có nhiều
khả năng trở thành một nhạc sĩ sau này hơn rất nhiều so với một đứa trẻ mà cha
mẹ không liên quan gì đến âm nhạc. Tính tạm thời của khái niệm này là ở chỗ,
năng khiếu có thể được bộc lộ ở những thời điểm khác nhau của cuộc sống, có thể
từ lúc nhỏ, hay cũng có thể vào lúc đã trưởng thành. Như Albert Einstein, lúc nhỏ
nếu được các chuyên gia tâm lý hiện đại kiểm tra, có lẽ được xếp vào loại kém,
do cậu biết nói khá muộn, thành tích học tập không tốt và thậm chí từng bị đuổi vì
học kém. Trong khi nhiều thiên tài khác như nhà vật lý - lý thuyết Liên Xô Lev
Landao, người sáng lập ra ngành điều khiển học Norder Viner…lại có năng khiếu
được bộc lộ từ khi còn nhỏ.
Trí tuệ phân biệt và trí tuệ bao quát
Theo phó giám đốc Viện Tâm lý học Nga Serguey Maly, hiện có tới hơn 100 định
nghĩa khác nhau về năng khiếu, cho dù tất cả chúng đều không có được tính khái
quát đầy đủ và cũng không thể làm hài lòng tất cả các chuyên gia tâm lý, sư phạm.
Tiêu chí chính của tài năng là nhu cầu kiên trì của đứa bé trong một công việc trí
tuệ phức tạp nào đó. Đó có thể là mong muốn giải được những bài toán khó, làm
thơ hay soạn thảo ra một chương trình máy tính mới…
Ở độ tuổi học phổ thông, năng khiếu đôi khi không liên quan trực tiếp đến thành
tích học tập tốt. Nói đơn giản hơn, đây là một kiểu năng khiếu trí tuệ riêng biệt.
Trẻ thuộc loại này thường có khuynh hướng thích tự mình nghiên cứu sâu và mở
rộng kiến thức trong lĩnh vực mình quan tâm, có khả năng tư duy một cách triết lý
của hành động. Họ biết cách đưa ra những quyết định đúng, xác định mục tiêu và
nhiệm vụ dành cho những người khác. Ở những học sinh có năng khiếu chỉ đạo,
mối quan tâm với học hành thường không được cao. Do có tính cách mạnh mẽ và
độc lập, chúng có thể dễ dàng công khai bỏ học hay được coi là con người hay gây
gổ.
Dạng năng khiếu cuối cùng trong danh sách là năng khiếu động cơ tâm lý (thể
thao). Theo một điều tra mới đây về các vận động viên nổi tiếng, nhận định về khả
năng trí tuệ thấp của họ thường là không đúng. Ngược lại, đa số vận động viên đều
có mức độ trí tuệ cao. Các nhà khoa học từ lâu đã chứng minh được mối quan hệ
trực tiếp giữa sự phát triển của động cơ, tâm lý và trí tuệ. Không phải tình cờ mà
trong số những vận động viên nổi tiếng còn có những nhà văn được thừa nhận,
những thương gia thành đạt hay những nhà sư phạm tài năng. Những đứa trẻ có
năng khiếu thể thao có thể thường xuyên học không tốt không phải do chúng
không thể tiếp thu, mà đơn giản chỉ bởi chúng không có đủ thời gian cho việc học
hành.
Phương pháp phổ biến nhất để xác định năng khiếu của trẻ chính là thử nghiệm,
cho dù đa số chuyên gia cho rằng đây chưa phải là phương pháp hoàn thiện, do
còn lệ thuộc nhiều vào việc xác định chỉ số thông minh (IQ) - loại thử nghiệm cho
phép xác định tài năng qua việc so sánh độ tuổi của đứa trẻ với các khả năng trí
tuệ của nó.
Khi một đứa trẻ hoàn thành được tất cả các bài tập dành cho lứa tuổi của nó, IQ
của trẻ sẽ bằng 100. Nhưng nếu một cậu bé 10 tuổi giải được hết bài tập của lứa
tuổi 14, hệ số IQ của cậu ta sẽ là 140 (14:10 x100). Do chỉ số này vượt hơn nhiều
so với tiêu chuẩn, đứa trẻ hoàn toàn có thể được đánh giá thuộc loại có tài năng.
Theo các kết quả thống kê, IQ thường cao hơn ở những trẻ được sinh ra và giáo
dục trong những gia đình cha mẹ có học thức cao và làm nghề lao động trí óc.
Những bậc cha mẹ quan tâm đến con cái cũng có thể tự xác định kiểu năng khiếu
của chúng. Điều này rất có ích cho họ trong việc đáp ứng được những động cơ
trong hành vi của trẻ, giúp chúng có thái độ nghiêm túc đối với việc học tập ở hiện
tại và tương lai. Tuy nhiên, nếu đứa trẻ có một năng khiếu rõ ràng, không có gì là
giữa A và C là như thế nào?
Phương pháp thử nghiệm trên cơ sở bài trắc nghiệm hiện có rất nhiều, và kết luận
của chúng thường dựa trên những thang điểm đã được định trước. Chính vì vậy,
sai số và tính quy ước của những “phép đo trí tuệ” này tương đối lớn. Tuy nhiên,
các bậc cha mẹ không nên bỏ qua dù là một phương pháp dự đoán được coi là kém
hoàn thiện nhất: việc áp dụng một loạt các phương pháp khác nhau (theo logic hay
độ tập trung) ở mức độ này hay khác đều có thể cho ta một khái niệm tương đối
chính xác về năng khiếu của trẻ. Điều đó chắc chắn sẽ rất quan trọng đối với tương
lai con em chúng ta.