bài 3 pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh - Pdf 16


Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

39
BÀI 3: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH

Nội dung
• Khái niệm hợp đồng
• Các yếu tố cấu thành hợp đồng
• Hiệu lực của hợp đồng
• Nội dung của hợp đồng
• Chế tài do vi phạm hợp đồng trong
kinh doanh Mục tiêu Hướng dẫn học
• Trang bị cho học viên kiến thức về các yếu
tố cấu thành hợp đồng và các điều kiện để
hợp đồng có hiệu lực
• Giúp học viên hiểu được những vấn đề pháp
lý liên quan đến hợp đồng.
• Giúp học viên vận dụng kiến thức pháp luật
về hợp đồng để thực hiện giao kết hợp đồng
và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng
trong thực tế. Thời lượng
• 15 tiết
bán với giá tăng ít hơn nhiều so với các chợ truyền thống.
Chính vì lý do này nên số lượng người dân vào siêu thị để
mua rau tăng đột biến. Khách hàng X muốn mua 10kg rau ngót được niêm yết giá bán l
à
10.000đ/kg. Tuy nhiên, siêu thị chỉ còn 7kg rau ngót nên không thể đáp ứng đề nghị của khác
h
hàng này. Khách hàng X lập luận rằng việc siêu thị niêm yết giá bán hàng hóa chính là lời đ

nghị giao kết hợp đồng. Hơn nữa, siêu thị không nói rõ số lượng hàng sẽ bán là bao nhiêu nê
n
việc khách hàng đồng ý mua với một số lượng nhất định thì được coi là khách hàng đã chấ
p
nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Do đó giữa siêu thị và khách hàng đã hình thành một hợp đồn
g
mua bán rau, vì vậy, siêu thị có nghĩa vụ cung cấp đủ hàng cho khách theo đúng hợp đồng đ
ã
thỏa thuận. Tuy nhiên, phía siêu thị cho rằng, việc niêm yết giá bán hàng hóa không phải là đề
nghị giao kết hợp đồng nên siêu thị không có nghĩa vụ phải cung cấp đủ lượng hàng theo yê
u
cầu của khách.

Câu hỏi gợi mở
Ý kiến của anh (chị) về vấn đề này như thế nào? Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

41
3.1. Khái niệm hợp đồng
3.1.1. Định nghĩa hợp đồng

có thể trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng hoặc
thông qua người đại diện. Có hai trường hợp đại
diện là đại diện theo pháp luật và đại diện theo
ủy quyền.
Trong giao kết hợp đồng kinh doanh, đại diện theo pháp luật thường xảy ra khi chủ
thể hợp đồng là các doanh nghiệp. Khi đó giám đốc doanh nghiệp hoặc người mà
theo quy định của Điều lệ doanh nghiệp là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp đó
sẽ giao kết hợp đồng.
Đại diện theo ủy quyền xảy ra khi chủ thể hợp đồng hoặc người đại diện theo pháp
luật ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện giao kết hợp đồng. Người được

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

42
ủy quyền chỉ được ủy quyền lại nếu được người ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật
có quy định cho phép ủy quyền lại.
Những phân tích trên cho thấy chủ thể của hợp đồng chưa chắc đã là chủ thể giao
kết hợp đồng trên thực tế. Do đó không thể đồng nhất hai loại chủ thể này trong
quan hệ hợp đồng. Quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ phát sinh với chủ thể hợp
đồng mà không phát sinh với chủ thể giao kết hợp đồng.
Thực tế có thể xảy ra trường hợp một bên giao
kết hợp đồng nhưng không phải đại diện theo ủy
quyền hoặc vượt quá phạm vi ủy quyền. Trong
trường hợp này, bên đã thực hiện giao dịch với
người đó có quyền lựa chọn các phương thức
giải quyết hợp đồng đã giao kết như sau:
o Thông báo cho người được đại diện biết và
nếu người được đại diện đồng ý thì hợp đồng
có hiệu lực giữa người được đại diện và bên
đã giao dịch với người đại diện.


Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

43
o Nếu bên có mục đích lợi nhuận là thương nhân thì việc xác định hợp đồng dựa
vào ý chí của bên không có mục đích lợi nhuận, cụ thể là:
 Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ luật Dân
sự 2005 thì đó là hợp đồng dân sự.
 Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Luật Thương
mại 2005 thì đó là hợp đồng kinh doanh.
3.1.3. Phân loại hợp đồng
Hợp đồng được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau, cụ thể như sau:
• Dựa vào hình thức, có hai loại là hợp đồng bằng
văn bản và hợp đồng không bằng văn bản.
• Hợp đồng bằng văn bản bao gồm hợp đồng dưới
dạng tài liệu giao dịch hoặc thông điệp dữ liệu
điện tử. Hợp đồng không bằng văn bản là hợp
đồng được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng hành
vi cụ thể của các bên.
• Dựa vào sự đối ứng về cam kết giữa các bên, có hai loại hợp đồng là hợp đồng có
đền bù và hợp đồng không có đền bù.
o Hợp đồng có đền bù (còn gọi là hợp đồng có đối ứng) là hợp đồng mà các bên
đều đưa ra những cam kết thực hiện lợi ích cho nhau. Ví dụ, hợp đồng mua bán
hàng hóa là hợp đồng có đền bù bởi vì bên bán cam kết chuyển giao quyền sở
hữu hàng hóa cho bên mua còn bên mua cam kết trả tiền theo thỏa thuận cho
bên bán.
o Hợp đồng không có đền bù (còn gọi là hợp đồng không có đối ứng) là hợp
đồng mà chỉ một bên đưa ra cam kết thực hiện lợi ích cho bên kia nhưng không
nhận được cam kết lợi ích đối ứng nào. Chẳng hạn như trong hợp đồng tặng,

sản vay đã được chuyển giao cho bên vay.
Kể từ thời điểm có hiệu lực, chỉ bên vay tài sản có nghĩa vụ hoàn trả cho bên vay
cả gốc và lãi đúng thời hạn như đã thỏa thuận, trong khi đó bên cho vay không
phải thực hiện nghĩa vụ gì đối với bên vay.
o Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.
Trong thực tế, các hợp đồng chủ yếu tồn tại dưới dạng hợp đồng song vụ, chẳng
hạn như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng tín dụng…
Hợp đồng song vụ và đơn vụ không hoàn toàn đồng nhất với hợp đồng có đền bù
và không có đền bù. Thông thường, hợp đồng có đền bù tồn tại dưới dạng hợp
đồng song vụ. Tuy nhiên, có trường hợp hợp đồng song vụ nhưng không có đền bù
như hợp đồng cho mượn tài sản. Trong hợp đồng này, bên cho mượn không nhận
được lợi ích nào từ bên mượn. Tuy nhiên, bên cho mượn có nghĩa vụ bảo đảm cho
bên mượn được sử dụng tài sản theo đúng công dụng và thời gian như đã thỏa
thuận. Bên cho mượn không được đòi lại tài sản trước hạn trừ trường hợp có nhu
cầu đột xuất và cấp bách nhưng phải báo cho bên mượn biết với thời gian hợp lý.
• Dựa vào mối quan hệ hiệu lực giữa các hợp
đồng, có hai loại hợp đồng là hợp đồng chính và
hợp đồng phụ.
o Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực
không phụ thuộc vào hợp đồng phụ.
o Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực của
nó phụ thuộc vào hợp đồng chính.
Trong thực tế, hợp đồng chính – phụ thường
xuất hiện liên quan đến các giao dịch bảo đảm.
Chẳng hạn hợp đồng tín dụng có sử dụng các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế
chấp. Trong trường hợp này, hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính và hợp đồ
ng
cầm cố, thế chấp là hợp đồng phụ.
3.2. Các yếu tố cấu thành hợp đồng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, một hợp đồng sẽ được hình thành nếu giữa


Tuy nhiên, một số nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ lại thừa nhận khả năng đề
nghị giao kết hợp đồng có thể được đưa ra cho những người chưa xác định. Nếu có
chủ thể thực hiện đúng yêu cầu của bên đưa ra đề nghị thì sẽ hình thành một hợp
đồng và các bên có nghĩa vụ tuân thủ hợp đồng đó.
Mặc dù có sự khác nhau về việc xác định có hay không tồn tại một hợp đồng trong
trường hợp này, tuy nhiên, cả hai trường phái pháp luật có sự tương đồng ở chỗ
đều xác định nghĩa vụ phát sinh đối với chủ thể đã có hành vi pháp lý đơn phương
hoặc có đề nghị giao kết hợp đồng.
Ví dụ
Một cơ sở luyện thi đại học thông báo tuyển sinh và cam kết nếu học sinh nào đi học
đầy đủ và làm tất cả các bài tập về nhà được giáo viên giao cho liên tục trong 3 tháng
mà không đỗ đại học thì sẽ được hoàn trả tiền học và bồi thường số tiền tương ứng với
học phí đã đóng. Học sinh A đã thực hiện đúng những yêu cầu trên nhưng thi trượt đạ
i
học. A yêu cầu cơ sở luyện thi thực hiện nghĩa vụ như đã hứa. Trong trường hợp này
không có hợp đồng giữa A và cơ sở luyện thi bởi vì thông báo của cơ sở đó chỉ có tính
chất quảng cáo tới tất cả học sinh có nhu cầu ôn thi đại học mà không xác định học sinh
cụ thể nào. Chính vì vậy, thông báo đó là hành vi pháp lý đơn phương của cơ sở luyện
thi chứ
không phải là đề nghị giao kết hợp đồng. Trong trường hợp này, cơ sở luyện thi
đã công khai thông báo bồi thường nên có nghĩa vụ phải bồi thường cho học sinh A.
Đây là nghĩa vụ phát sinh do hành vi pháp lý đơn phương mà không phải do hợp đồng
giữa A và cơ sở luyện thi.

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

46

• Thể hiện mong muốn giao kết hợp đồng và chấp nhận chịu ràng buộc bởi những

xem hàng. Chủ cửa hàng chưa thể hiện ý
định mong muốn giao kết hợp đồng mà
mới chỉ dừng ở việc đề nghị khách hàng tham khảo hàng hóa về mặt chất
lượng, giá cả và sau đó đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa. Chính vì vậy, việc khách hàng đồng ý mua và đề nghị thanh toán mới
Ví dụ
X tìm giấy tờ bị thất lạc bằng cách dán thông báo ở các địa điểm công cộng. Y nhặt
được giấy tờ và trả lại cho X. Trong trường hợp này, thông báo hứa thưởng của X được
pháp luật Việt Nam xác định là hành vi pháp lý đơn phương mà không phải đề nghị giao
kết hợp đồng do thông báo đó được đưa ra cho tất cả mọi người chứ không hướng đến
một đối tượng c
ụ thể. Vì vậy, nghĩa vụ trả thưởng của X đối với Y không phải là nghĩa
vụ theo hợp đồng mà là nghĩa vụ phát sinh do hành vi pháp lý đơn phương của X. Tuy
nhiên, nếu theo pháp luật Anh – Mỹ thì thông báo hứa thưởng của X là đề nghị giao kết
hợp đồng. Do đó, giữa X và Y hình thành một hợp đồng hứa thưởng. X có nghĩa vụ trả
thưởng cho Y theo hợp đồng này.

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

47
được coi là đề nghị giao kết hợp đồng. Cửa hàng chấp nhận thanh toán
được coi là chấp nhận giao kết và khi đó hợp đồng mua bán hàng hóa giữa
các bên được hình thành.
o Đề nghị giao kết hợp đồng cũng khác biệt
với thông tin báo giá. Trong hoạt động kinh
doanh, các doanh nghiệp thường thực hiện
hoạt động báo giá theo yêu cầu của bạn hàng
nhằm cung cấp danh mục hàng hóa sẵn có và
giá cả tương ứng cho từng sản phẩm.
Tuy nhiên, báo giá không phải là đề nghị

nhận đề nghị giao kết. Về thực chất, chính bản fax của A mới là đề nghị giao kết
hợp đồng và bị công ty B từ chối. Do vậy, giữa hai công ty này không có quan hệ
hợp đồng nên công ty A đã thất bại trong vụ kiện này.

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

48

Nguyên tắc nêu trên có một số ngoại lệ nhất định. Trong trường hợp bên đề nghị xác
định rõ trong đề nghị giao kết hợp đồng những điều kiện có thể rút lại, thay đổi hoặc
hủy bỏ đề nghị giao kết và nếu những yếu tố đó xảy ra thì việc rút lại, thay đổi hoặc
hủy bỏ đề nghị giao kết được chấp nhận. Xét đến cùng đây cũng là biểu hiện của việc
chịu sự ràng buộc bởi đề nghị giao kết vì việc rút lại, thay đổi hoặc hủy bỏ đề nghị
giao kết chỉ được thực hiện nếu đề nghị đã có quy định về các trường hợp này.
Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau:
• Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận đề nghị;
• Hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị không trả lời chấp nhận đề nghị giao kết.
• Bên đề nghị rút lại, thay đổi hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng theo đúng quy
định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận giữa các bên trong khi chờ bên được đề
nghị trả lời.
3.2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên
đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có hiệu lực nếu thỏa mãn các điều kiện sau:
• Được đưa ra trong thời hạn theo quy định của đề nghị giao kết hợp đồng;
• Chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng.
Nếu đề nghị giao kết hợp đồng được đưa ra khi đã
hết thời hạn do người đề nghị giao kết ấn định hoặc
không chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị thì

nếu đề ngh
ị giao kết hợp đồng không quy định về hình thức trả lời chấp nhận đề nghị
giao kết thì bên được đề nghị có bắt buộc phải sử dụng hình thức giống như đề nghị
giao kết hay không. Chính vì chưa có quy định nên có thể suy luận rằng bên được đề
nghị có thể sử dụng bất cứ hình thức nào theo ý riêng của mình mà không bắt buộc
phải sử dụng hình thứ
c giống như hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng.
Nếu bên đề nghị đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết thì bên được đề nghị không
được rút lại chấp nhận đề nghị giao kết. Việc này chỉ được thực hiện nếu chấp nhận đề
nghị giao kết hợp đồng đã được đưa ra nhưng người đề nghị chưa nhận được hoặc
nhận được cùng thời điểm với thông báo rút lại chấp nhận đề nghị giao kết.

3.2.3. Hệ quả của việc xác định các yếu tố cấu thành hợp đồng
Khi quy định về các yếu tố cấu thành hợp đồng, pháp luật của Việt Nam có nhiều nét
tương đồng với pháp luật của các nước theo truyền thống luật thành văn như Pháp,
Đức và nhiều nước thuộc châu Âu lục địa. Theo đó, một hợp đồng được coi là hình
thành nếu có đủ hai yếu tố: đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết. Tuy
nhiên, theo pháp luật của các nước thuộc trường phái luật Anh – Mỹ thì bản thân
sự thỏa thuận giữa các bên chưa đủ để khẳng định đã có một hợp đồng được hình
thành mà còn phải xác định giữa các bên tồn tại một cam kết đối ứng, hay còn gọi là
giá trị đền bù.
Chính vì vậy, nếu trong thỏa thuận giữa các bên chỉ có sự cam kết từ một phía mà
không có cam kết đối ứng của phía bên kia thì thỏa thuận đó chưa được coi là hợp
đồng ràng buộc các bên. Bên đưa ra cam kết không có nghĩa vụ bắt buộc phải thực
hiện lời cam kết của mình. Chẳng hạn như A có thỏa thuận hứa tặng cho B một tài sản
và có lập văn bản ghi nhớ về việc tặng cho này. Văn bản tặng cho không thể được coi
là hợp đồng giữa A và B mà chỉ là một thỏa thuận đơn thuần vì B không cam kết thực
hiện một nghĩa vụ đối ứng nào cho A. Như vậy, những thỏa thuận không có đền bù thì
không hình thành nên hợp đồng.
Ví dụ

pháp luật của các nước không yêu cầu xác định yếu
tố đối ứng trong cấu thành hợp đồng thì Z có quyền
trực tiếp yêu cầu X thực hiện nghĩa vụ đối với
mình. Hơn nữa, hợp đồng đã được giao kết và
người thứ ba đồng ý hưởng lợi ích thì các bên
không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng. Điều đó
cho thấy, bên thứ ba có quyền khởi kiện để bảo vệ
lợi ích của mình theo hợp đồng nếu hợp đồng không đòi hỏi phải có yếu tố đối ứng
trong cấu thành hợp đồng.
3.3. Hiệu lực của hợp đồng
3.3.1. Hợp đồng có hiệu lực và hợp đồng vô hiệu
• Hợp đồng có hiệu lực
Hợp đồng có hiệu lực là hợp đồng được pháp luật thừa nhận có giá trị ràng buộc
các bên trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận.
Một hợp đồng chỉ được coi là có hiệu lực nếu đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu sau:
o Các bên phải hoàn toàn tự nguyện khi giao kết hợp đồng;
o Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và
không trái đạo đức xã hội;
o Chủ thể hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự;
o Hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật nếu pháp luật
có yêu cầu hợp đồng phải được xác lập bằng một hình thức nhất định.
Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng sẽ được phân tích kỹ ở phần 3.3.2.

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

51
• Hợp đồng vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có hiệu
lực trên thực tế, các bên không phải chịu ràng
buộc về quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

tế và mất đi tính ràng buộc đối với các bên.
Theo quy định của B
ộ luật Dân sự 2005, hợp đồng vô hiệu tương đối tồn tại
trong các trường hợp sau:
 Hợp đồng được giao kết bởi người chưa thành niên; người bị hạn chế hoặc
bị mất năng lực hành vi dân sự nếu pháp luật có yêu cầu hợp đồng này phải
do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.
 Hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn;
 Hợp đồng được giao kết do bị lừa dối, đe doạ ;
 Chủ thể giao kết hợp đồng không nhận thức được hành vi của mình.

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

52
Những phân tích ở trên cho thấy, hợp đồng không đồng thời thỏa mãn các điều
kiện có hiệu lực như sự đồng thuận của các bên, năng lực hành vi dân sự của chủ
thể, tính hợp pháp của hợp đồng và hình thức của hợp đồng thì bị vô hiệu (trong
trường hợp vô hiệu tuyệt đối) hoặc có thể bị vô hiệu (trong trường hợp vô hiệu
tương đối).
Điều cần lưu ý là đối với trường hợp vô hiệu tương đối, nếu không có yêu cầu của
các bên và không có tuyên bố của tòa án thì hợp đồng vẫn có hiệu lực trên thực tế
ngay cả khi bản thân nó chứa đựng các yếu tố của một hợp đồng vô hiệu. Khi đó,
các bên vẫn phải thực hiện hợp đồng cho đến khi tòa án tuyên hợp đồng đó vô
hiệu. Bởi lẽ, nếu hợp đồng không bị tòa tuyên vô hiệu thì khi đó bên tự ý không
thực hiện hợp đồng sẽ bị coi là vi phạm hợp đồng. Ngược lại, đối với hợp đồng vô
hiệu tuyệt đối, các bên có quyền không tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu phát hiện
ra tính vô hiệu của nó.
• Hậu quả của hợp đồng vô hiệu
Khi hợp đồng được các bên xác định hoặc được
tòa án tuyên là vô hiệu thì hợp đồng đó không

53
Bộ luật Dân sự của Việt Nam khi quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
không yêu cầu về “sự đồng thuận” mà chỉ đòi hỏi “sự tự nguyện” của các bên khi giao
kết hợp đồng (Điểm c, Khoản 1, Điều 122).
Quy định như vậy có lẽ chưa đầy đủ bởi nếu chỉ đòi hỏi có sự tự nguyện, tức là tự do
bày tỏ ý chí khi giao kết hợp đồng, thì sẽ không thể bao quát hết được các trường hợp
hợp đồng vô hiệu do một bên bị lừa dối hoặc bị người khác lợi dụng vị trí cá nhân để
gây ảnh hưởng.
Tuy nhiên, mặc dù trong quy định chung về hợp đồng vô hiệu, Bộ luật Dân sự của
nước ta chỉ đòi hỏi yếu tố tự nguyện nhưng khi quy định các trường hợp vô hiệu cụ
thể, sự lừa dối cũng được thừa nhận là yếu tố làm cho hợp đồng vô hiệu (Điều 132 Bộ
luật Dân sự 2005). Điều đó có nghĩa là pháp luật
thừa nhận cả những trường hợp vô hiệu do vi phạm
yếu tố đồng thuận. Đây có thể xem là hạn chế trong
kỹ thuật lập pháp của pháp luật hợp đồng Việt Nam
và cần được sửa đổi cho hoàn thiện hơn.
Nếu tổng hợp tất cả các quy định của pháp luật về
hợp đồng vô hiệu thì có thể thấy, Bộ luật Dân sự
Việt Nam vẫn đòi hỏi yếu tố đồng thuận giữa các
bên trong hợp đồng chứ không chỉ dừng lại ở sự tự
nguyện. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều
trực tiếp quy định đồng thuận là yêu cầu bắt buộc
để hợp đồng có hiệu lực.
Bất cứ yếu tố nào vi phạm sự tự nguyện, bình đẳng
và trung thực khi giao kết hợp đồng đều bị coi là
yếu tố “phản đồng thuận” và sẽ dẫn đến khả năng
hợp đồng bị vô hiệu.
Trong thực tế, các yếu tố “phản đồng thuận” thường tồn tại dưới dạng trình bày sai sự
thật, cưỡng ép, gây ảnh hưởng không chính đáng và nhầm lẫn:
• Trình bày sai sự thật

tượng hợp đồng nhằm trục lợi.
Ví dụ như trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán biết rõ hàng hóa có khuyết
tật nhưng không thông báo cho bên mua biết. Sự im lặng của bên bán không rơi
vào trường hợp trình bày sai sự thật nhưng có thể làm cho bên kia bị nhầm lẫn. Do
vậy, nếu bên bị nhầm lẫn có yêu cầu thì tòa án sẽ tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
• Cưỡng ép, đe dọa
Cưỡng ép, đe dọa là việc một bên hoặc người
thứ ba sử dụng áp lực buộc bên kia phải giao
kết hợp đồng. Bên bị cưỡng ép không có sự
tự do lựa chọn và tự do bày tỏ ý chí của mình do
đó yếu tố đồng thuận trong giao kết hợp
đồng không được đảm bảo. Nếu bên bị cưỡng
ép có yêu cầu, tòa án có thể tuyên bố hợp đồng
vô hiệu.
Liên quan đến cưỡng ép, đe dọa khi giao kết hợp
đồng, Điều 132 Bộ luật Dân sự 2005 thừa nhận
đây là trường hợp vô hiệu tương đối và hành vi
cưỡng ép, đe dọa có thể xảy ra đối với tính mạng, sức khỏe của con người hoặc
nhằm vào tài sả
n. Hơn nữa, việc cưỡng ép, đe dọa được pháp luật thừa nhận không
chỉ xảy ra đối với bản thân người giao kết hợp đồng mà còn có thể xảy ra với cha,
mẹ, vợ, chồng, con của người đó.
Ví dụ
A muốn bán xe ô tô cho B và đã nói rằng tất cả phụ tùng của xe đều là nguyên gốc,
chưa bị thay thế bằng phụ tùng mới. Tin điều này, B đã đồng ý ký hợp đồng mua xe ô
tô của A. Sau khi sử dụng, B phát hiện ra, rất nhiều phụ tùng đã bị thay thế khiến cho
chất lượng của xe giảm sút rất nhiều. B khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng
vô hiệu.
Trong trường h
ợp này B sẽ thắng kiện bởi vì A đã biểu đạt sai sự thật về tình trạng

Tuy nhiên, hợp đồng giao kết trong trường hợp này không mặc nhiên vô hiệu
mà chỉ vô hiệu nếu có yêu cầu của một bên. Điều đó có nghĩa là nếu các bên đã
phát hiện ra sự nhầm lẫn nhưng không yêu cầu tuyên bố hợ
p đồng vô hiệu thì
hợp đồng vẫn có giá trị ràng buộc thi hành.
BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 QUY ĐỊNH:
Các bên có thể nhầm lẫn một cách vô ý về sự tồn tại của đối tượng hợp đồng. Trong
thực tế, đối tượng hợp đồng không tồn tại khi hợp đồng được giao kết nhưng các
bên đều không nhận thức được điều này. Khi đó, hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu
“Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện
được vì lý do khách quan thì hợp đồng này vô hiệu”. (Khoản 1 Điều 411).
Ngoài ra, sự nhầm lẫn chung giữa các bên cũng có thể do các bên cố ý tạo ra.
Chẳng hạn như các bên ký một hợp đồng giả tạo để che dấu một hợp đồng khác.
Trường hợp này thường xảy ra với các hợp đồng mua bán nhà ở hoặc hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Giá trị mua bán của hợp đồng có khi rất cao
nhưng để trốn thuế các bên ghi giá trị hợp đồng khi công chứng với mức thấp hơn
rất nhiều. Như vậy, giữa các bên tồn tại hai hợp đồng, một hợp đồng ghi giá trị thực
Ví dụ
A ký hợp đồng mua chiếc đồng hồ do B đang sở hữu. Cả A và B đều cho rằng chiếc
đồng hồ này được sản xuất ở Thụy Sĩ vào thế kỷ 18. Sau khi giao dịch mua bán đã
được thực hiện, A phát hiện ra rằng chiếc đồng hồ này được sản xuất vào giữa thế
kỷ 19. Trong trường hợp này, cả A và B đều có chung nhầm lẫn về niên đại của
chiế
c đồng hồ.

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

56
theo thỏa thuận và một hợp đồng ghi giá trị nhầm lẫn (nhầm lẫn cố ý theo thỏa
thuận của các bên). Nếu trường hợp này xảy ra thì hợp đồng giả tạo sẽ mặc nhiên vô

đồng vô hiệu rất quan trọng. Đây được xem là một quy định có tính chất thụt
lùi của Bộ luật Dân sự sau khi được sửa đổi.
Ví dụ
Doanh nghiệp A ký hợp đồng thuê doanh nghiệp B thiết kế và lắp đặt gian hàng
tham gia hội trợ triển lãm. Trong thực tế, A tham gia triển lãm đồng thời ở hai địa
điểm là triển lãm Giảng Võ và triển lãm Vân Hồ. Tại triển lãm Giảng Võ, Ban tổ
chức cung cấp dịch vụ lắp đặt gian hàng cho tất cả các doanh nghiệp. Vì vậy, công
ty A chỉ có ý định thuê công ty B thực hiện công việc tại triển lãm Vân Hồ và cho
rằ
ng công ty B biết điều này. Tuy nhiên, công ty B lại cho rằng công việc sẽ được
thực hiện tại triền lãm Giảng Võ. Đây là sự nhầm lẫn của cả hai phía về công việc
phải thực hiện theo hợp đồng. Về nguyên tắc, hợp đồng này được giao kết không
có sự đồng thuận thực sự của hai bên nên sẽ bị coi là vô hiệu.

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

57
3.3.2.2. Năng lực hành vi dân sự của chủ thể hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng dân sự nói chung và hợp
đồng kinh doanh nói riêng là mọi cá nhân, tổ chức
có năng lực hành vi dân sự. Theo quy định của Bộ
luật Dân sự 2005, năng lực hành vi dân sự của cá
nhân phát sinh từ khi cá nhân đủ 6 tuổi. Tuy nhiên,
cá nhân chỉ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu
đủ 18 tuổi và có khả năng nhận thức bình thường.
Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ có năng lực
hành vi dân sự một phần (không đầy đủ). Ngoài ra, người đủ 18 tuổi trở lên có thể bị
mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Như vậy, về mặt nguyên tắc những người từ đủ 6 tuổi trở lên đều có thể trở thành chủ
thể của hợp đồng. Tuy nhiên, đối với hợp đồng kinh doanh, chủ thể của hợp đồng chủ


n phải
điều trị liên tục từ năm 2000. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên b

ông Đỗ
Văn Tịch mất năng lực hành vi dân sự, do đó mọi giao dịch dân sự do ông Tịch thực hiện
đều vô hiệu. Như vậy, hợp đồng tặng cho nhà ở giữa ông Đỗ Văn Tịch và bà Đỗ Thị H

ng
Nga lập ngày 19-9-2003 tại Phòng công chứng nhà nước số 1 thành phố Hồ Chí Minh là
vô hiệu.
(Nguồn: Bản án số 941/2006/DS-ST ngày 01-9-2006 của Tòa án nhân dân thành ph

H

Chí
Minh, trích lại từ sách Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Đỗ Văn Đại,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 149-150)

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

58
Điều cần lưu ý là hợp đồng được xác lập trong trường hợp ủy quyền nhưng một bên
không có thẩm quyền giao kết hoặc giao kết vượt quá phạm vi ủy quyền thì hợp đồng
đó vẫn có hiệu lực ràng buộc giữa các bên đã tham gia giao kết. Lý do là vì, điều kiện
để hợp đồng có hiệu lực chỉ phụ thuộc vào năng lực hành vi dân sự của chủ thể giao
kết và chủ thể hợp đồng. Nếu tất cả các bên đều có năng lực hành vi dân sự thì hợp
đồng vẫn có hiệu lực ràng buộc các bên. Hợp đồng này chỉ không làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ của người được đại diện mà thôi. (Hệ quả của những hợp đồng trong
trường hợp này được phân tích ở phần 3.1.2).

Một số loại hợp đồng có hình thức bắt buộc phải tuân
theo quy định của pháp luật như:
• Hợp đồng phải bằng văn bản: hợp đồng tín dụng,
hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, hợp đồng bảo hiểm, hợp
đồng thuê nhà ở…

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

59
• Hợp đồng phải bằng văn bản và có công chứng hoặc chứng thực: hợp đồng mua bán
nhà, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà ở từ 6 tháng trở lên…
Hợp đồng vi phạm về hình thức không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ bị coi là chưa có giá
trị pháp lý và không được công nhận trên thực tế. Tòa án cho phép các bên được sửa
đổi hình thức của hợp đồng cho phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu bên nào có
trách nhiệm nhưng không tiến hành sửa đổi hình thức hợp đồng thì bên đó bị coi là có
lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu nên phải bồi thường thiệt hại phát sinh.
3.3.3. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng có hiệu lực sẽ ràng buộc quyền và nghĩa
vụ của các bên, tức là có tính bắt buộc thực hiện
trên thực tế. Tính bắt buộc thực hiện của hợp đồng
có thể phát sinh từ thời điểm giao kết hoặc từ thời
điểm một bên thực hiện lời cam kết đã thỏa thuận.
Thông thường, hợp đồng có đối ứng phát sinh hiệu
lực kể từ khi giao kết. Tuy nhiên, thời điểm này có
thể thay đổi theo thỏa thuận của các bên, theo đó có
thể chỉ phát sinh hiệu lực kể từ khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng của
hợp đồng. Hợp đồng không có đối ứng có hiệu lực kể từ khi lời cam kết do một bên
đưa ra được thực hiện trên thực tế.
• Thời điểm giao kết hợp đồng
Hợp đồng chỉ được coi là hình thành khi có đủ hai yếu tố cấu thành là có đề nghị

thực tế thì hợp đồng phát sinh và từ thời điểm
đó những nghĩa vụ của người cam kết đối với
bên kia sẽ có tính bắt buộc phải thực hiện.
Chẳng hạn như, hợp đồng cho vay có kỳ hạn
nhưng không có lãi là hợp đồng không có đền
bù. Đối với hợp đồng này, bên cho vay không
có nghĩa vụ phải đảm bảo chắc chắn cho bên kia vay ngay cả khi hợp đồng đã
được ký kết. Lý do là vì hợp đồng này chỉ có hiệu lực kể từ khi bên cho vay đã
giao cho bên kia khoản tiền vay theo thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu việc cho vay đã
xảy ra thì khi đó hợp đồng phát sinh hiệu lực. Kết quả là bên cho vay phải thực
hiện nghĩa vụ theo đúng thỏa thuận về thời hạn vay. Theo đó, bên cho vay không
thể đòi lại tài sản trước kỳ hạn, trừ khi được bên vay đồng ý.
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
Tại Quyết định số 37/2007/DS-GĐT của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
có nhận định về hợp đồng mua bán nhà giữa ông Nguyễn Văn Long và cụ Nguyễn Thị
Lê như sau:
“Hợp đồng tặng cho nhà, đất giữa cụ Lê và ông Nguyễn Văn Long đã được công
chứng, nhưng đến ngày 16/10/2002, ông Nguyễn Văn Long mới có đơn đề nghị được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gửi UBND thị trấn Gò Dầu và UBND thị trấn
Gò Dầu xác nhận “Đủ điều kiện”. Tuy nhiên, việc ông Nguyễn Văn Long có đơn đề
nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được tiến hành sau khi cụ Lê đã
có đơn khởi kiện vào ngày 04/9/2002 xin hủy hợp đồng tặng cho nhà đất và đơn đề
nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Long mới được thị
trấn xác nhận (chưa phải là UBND cấp huyện theo quy định của pháp luật). Như vậy,
hợp đồng tặng cho nhà đất giữa cụ Lê và ông Nguyễn Văn Long chưa có hiệu lực do
ông Nguyễn Văn Long chưa đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thì cụ Lê
đã thay đổi ý chí không cho ông Nguyễn Văn Long nữa”.
(Nguồn: trích từ sách Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Đỗ Văn
Đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang 478).
3.4. Nội dung của hợp đồng

không có hiệu lực nếu chứa đựng nội dung miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp
đồng, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ lợi ích chính đáng của bên gia nhập hợp đồng.
3.4.2. Các loại điều khoản của hợp đồng
• Điều khoản bắt buộc
Điều khoản bắt buộc là những điều khoản căn bản, nhất thiết phải có trong hợp
đồng. Nếu thiếu những điều khoản này hợp đồng không được hình thành. Chính vì
lý do này nên điều khoản bắt buộc còn được gọi
là điều khoản chủ yếu của hợp đồng. Chẳng hạn
như, Lu
ật Kinh doanh bảo hiểm quy định hợp
đồng bảo hiểm bắt buộc phải có những điều
khoản sau thì mới được coi là hình thành:
o Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên
mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc
người thụ hưởng;
o Đối tượng bảo hiểm;
o Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;
o Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;
o Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;
o Thời hạn bảo hiểm;
Ví dụ
Chẳng hạn đối với hợp đồng bảo hiểm thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm xây dựng trước
các điều khoản của hợp đồng. Những điều khoản này được quy định trong các điều lệ bảo
hiểm của từng doanh nghiệp, như điều lệ bảo hiểm nhân thọ, điều lệ bảo hiểm tài sả
n, điều
lệ bảo hiểm cháy nổ… Những cá nhân, tổ chức có nhu cầu giao kết hợp đồng bảo hiểm sẽ
nghiên cứu các điều lệ này và nếu chấp nhận thì thực hiện giao kết hợp đồng. Hợp đồng bảo
hiểm có thể tồn tại dưới hình thức giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm do doanh
nghiệp bảo hi
ểm cấp. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm chính là những điều khoản theo

đưa vào hợp đồng căn cứ vào khả năng, nhu cầu
và sự thoả thuận của các bên.
Đây là những điều khoản mà sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào ý chí của chủ thể
hợp đồng. Các bên thấy cần thiết thì sẽ đưa vào hợp đồng để ràng buộc quyền và
nghĩa vụ của nhau.
Điều khoản tùy nghi tồn tại phụ thuộc vào ý chí của các bên nhưng nội dung của
điều khoản không được vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Nếu vi phạm điều này hợp đồng sẽ bị vô hiệu.
• Điều khoản thường lệ
Điều khoản thường lệ là những điều khoản mà nội dung của nó được quy định
trong các văn bản quy phạm pháp luật, các tập
quán thương mại hoặc thói quen trong hoạt động
thương mại đã được thiết lập giữa các bên.
Nếu như điều khoản bắt buộc tồn tại hiện hữu
trong hợp đồng và rất dễ nhận biết thì điều
khoản thường lệ là những điều khoản ẩn, không
được thể hiện trong hợp đồng nhưng vẫn là một
bộ phận c
ấu thành hợp đồng. Đó là vì điều khoản thường lệ là những “lệ thường”,

Bài 3: Pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh

63
“lẽ thường” đã được thừa nhận bởi pháp luật và bởi chính các bên tham gia hợp
đồng. Những ”lệ thường” này là các quy định mặc nhiên được thừa nhận nên có
giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên. Nếu các bên không muốn sử dụng những
lệ thường đó cho quan hệ hợp đồng của mình thì phải có thỏa thuận khác và phải
ghi vào hợp đồng. Khi đó những thỏa thuận khác trở thành điều khoản tùy nghi
của hợp đồng.
Những “lệ thường” tạo thành nội dung của hợp đồng tồn tại trong các quy định của

thương mại đã được thiết lập giữa họ nếu các bên đã biết hoặc phải biết nhưng
không được trái với quy định của pháp luật. Trường hợp không có thói quen đã
được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được
trái với quy định của pháp luật.

Trích đoạn NGHIÊN CỨU TÍNH HỢP LÝ CỦA ĐIỀU 573 BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VỀ NGHĨA VỤ THÔNG TIN CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status