1Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
TIỂU LUẬN MÔN
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI : THỊ TRƯỜNG MỞ VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
MỤC LỤC
PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN II : NỘI DUNG 4
A- CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 4
1. Sự ra đời và phát triển của Nghiệp vụ thị trường mở 4
2. Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở 5
B - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 10
1. Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở 10
2. Tần suất và phương thức giao dịch trên thị trường mở 12
Tổng số 13
Tổng số 13
3. Kết quả đạt được của hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 15
4. Những hạn chế và nguyên nhân 19
Thứ nhất, tác động của OMO đến thị trường tiền tệ còn hạn chế 19
C – MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 23
1.Về cơ sở pháp lý 23
2.Tăng cường hơn nữa mối quan hệ chặt chẽ của nghiệp vụ thị trường mở với các
công cụ khác của chính sách tiền tệ nhằm đạt mục tiêu chính sách tiền tệ của
1
2Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
Chính phủ. Trong đó xác định rõ mục tiêu của nghiệp vụ thị trường mở là công cụ
điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của cả toàn hệ thống tài chính tín dụng. 23
3.Đa dạng hóa và tăng tính hấp dẫn của các hàng hóa giao dịch trên thị trường mở.
24
Tuy nhiên, bên cạnh đó việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia còn nhiều bất
cập, hạn chế, chưa tỏ ra nhạy bén và các chính sách của Ngân hàng nhà nước chưa linh
thoạt. Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế ngày càng sôi động thì việc điều hành chính
sách tiền tệ từ các công cụ trực tiếp chuyển sang các công cụ gián tiếp trong đó có việc áp
dụng nghiệp vụ thị trường mở ngày càng trở nên cấp bách. Điều này là phù hợp với quá
trình cải cách hệ thống Ngân hàng, với việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ
trong giai đoạn mới. Nghiệp vụ thị trường mở cho tới nay mới được thực hiện ở Việt
Nam do các điều kiện khách quan và chủ quan vừa chín muồi. Vì vậy đề tài “ Thị
Trường Mở Việt Nam – Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Trong Giai Đoạn
Hiện Nay” là một đề tài hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn để góp phần nâng
cao hiệu qủa chính sách tiền tệ.
3
4Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
PHẦN II : NỘI DUNG
A- CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
1. Sự ra đời và phát triển của Nghiệp vụ thị trường mở.
Nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng đầu tiên bởi Ngân hàng Anh từ những
năm 30 của thế kỷ 19. Vào thời gian này, lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Anh được
sử dụng như một công cụ chủ yếu để kiểm soát lượng tiền cung ứng. Tuy nhiên, công cụ
này tỏ ra kém hiệu lực khi lãi suất thị trường tiền tệ giảm liên tục vượt khỏi sự chi phối
của lãi suất tái chiết khấu. Điều này thúc đẩy Ngân hàng Anh tìm kiếm công cụ có hiệu
quả hơn để điều chỉnh lãi suất thị trường theo hướng mong muốn.Cách thức đầu tiên
được áp dụng để nhằm làm tăng lãi suất thị trường là:
- Bán chứng khoán chính phủ đồng thời hứa mua lại nó vào một ngày xác
định trong tương lai.
- Vay trên thị trường _ thực chất là một khoản vay từ người chiết khấu hoặc
từ người môi giới với đảm bảo bằng chứng khoán chính phủ.
- Bán hẳn các chứng khoán chính phủ.
- Vay từ các Ngân hàng thương mại.
- Vay từ người gửi tiền đặc biệt.
thể trong giao dịch Nghiệp vụ thị trường mở có thể là Ngân hàng, các doanh nghiệp hoặc
các tổ chức phi tài chính khác. Về mặt thực tế, Nghiệp vụ thị trường mở là hành vi giao
dịch của NHTW trên thị trường mở. Xét về hình thức thì thị trường mở là thị trường giao
dịch các chứng khoán nợ ngắn và dài hạn. Tuy nhiên, khác với các khái niệm có phạm vi
và công cụ giao dịch rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ,thị trường
mở ở các nước khác nhau về phạm vi, về loại hình công cụ và thời hạn của các công cụ
giao dịch trên thị trường.
Chẳng hạn, thị trường mở của Nhật Bản chỉ bao gồm các chứng khoán nợ ngắn
hạn và những người tham gia chỉ gồm các tổ chức tín dụng. Như vậy, ở Nhật thị trường
mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ. Ngược lại ở Mỹ hoặc Đức cho phép giao dịch
cả các chứng khoán dài hạn trên thị trường mở . Xét theo thời hạn của chứng khoán nợ
thì thị trường mở ở những nước này bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán.
Theo cách này, khái niệm “ Nghiệp vụ thị trường mở” có ý nghĩa kinh tế khi nó gắn với
cụm từ “Nghiệp vụ thị trường mở”. Có nghĩa là, các giới hạn khác nhau về đối tượng và
các chủ thể giao dịch của NHTW trong nghiệp vụ thị trường mở sẽ quyết định khái niệm
cụ thể về thị trường mở ở từng nước.
5
6Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
b. Việt Nam
Tại Việt Nam, khái niệm Thị trường mở có thể được hiểu như sau:
Thị trường mở là thị trường giao dịch mua bán ngắn hạn các Chứng từ có giá
giữa Ngân hàng Trung ương với các Ngân hàng thương mại và các Tổ chức tín dụng
khác, thông qua đó điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm thực hiện
mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Thị trường mở là van cung ứng tiền cho 2 chiều: Là kênh phát hành tiền (bơm
tiền cho nền kinh tế) đồng thời là kênh thu hồi tiền từ nền kinh tế (hút tiền từ lưu thông
về). Nhờ vậy, thị trường mở được coi là thị trường năng động và rất nhạy cảm để điều tiết
lưu thông tiền tệ của nền kinh tế.
Là một một bộ phận của thị trường tiền tệ.
Là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán ngắn hạn các chứng từ có giá
Có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch Ngân
hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố);
Có đủ phương tiện cần thiết để tham gia nghiệp vụ thị trường mở gồm
máy FAX, máy tính có nối mạng internet;
Có giấy đăng ký tham gia nghiệp vụ thị trường mở;
Ngân hàng Nhà nước cấp giấy công nhận là thành viên tham gia thị trường mở
cho các tổ chức tín dụng đáp ứng đủ các điều kiện.
- Các thành viên là đối tác của Ngân hàng trung ương gồm:
Các Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại nhà nước; Ngân hàng cổ
phần; Ngân hàng liên doanh; Chi nhánh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
Các tổ chức tín dụng khác: Công ty tài chính; Công ty cho thuê tài chính;
Quỹ tín dụng Trung ương.
Ngoài ra còn có các thành viên khác nhưng ở Việt Nam hiện nay, các thành
viên này không còn được tham gia Thị trường mở nữa như: Công ty chứng khoán, quỹ
đầu tư, công ty bảo hiểm.
Các loại giấy tờ có giá sử dụng trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở :
Ngân hàng Nhà nước quy định các loại giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao
dịch nghiệp vụ thị trường mở gồm:
7
8Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
(1) Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước.
(2) Trái phiếu Chính phủ, bao gồm: Tín phiếu Kho bạc; Trái phiếu Kho bạc; Trái
phiếu công trình Trung ương; Công trái xây dựng Tổ quốc; Trái phiếu Chính phủ do
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (trước đây là Quỹ Hỗ trợ phát triển) được Thủ tướng
Chính phủ chỉ định phát hành.
(3) Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, bao gồm: Trái phiếu do Ngân hàng Phát
triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành được Chính phủ bảo lãnh
thanh toán 100% giá trị gốc, lãi khi đến hạn.
(4) Trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành.
sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau một thời gian ngắn trong
tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó. Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW
thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ bán lại vào một ngày xác định trong
tương lai. Thông thường, Repos và Repos đảo ngược được sử dụng trong một khoảng
thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt.
Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm
bằng các GTCG có tính thị trường cao.
Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong OMO do các lý do:
- Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng
không dự tính trước đến dự trữ ngân hàng.
- Chi phí giao dịch thấp hơn các giao dịch mua bán hẳn
- Thích hợp trong trường hợp các định hướng của CSTT không hoàn hảo dẫn
đến phải sử dụng các giải pháp khắc phục.
- Làm giảm bớt thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị
trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW.
Phương thức đấu thầu giấy tờ có giá trong nghiệp vụ thị trường mở:
Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối
lượng hoặc đấu thầu lãi suất. Tại mỗi phiên đấu thầu, Ngân hàng Nhà nước chỉ áp dụng
một phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất.
Đấu thầu khối lượng: Là việc xét thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ
chức tín dụng, khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán và lãi
suất do Ngân hàng Nhà nước thông báo.
9
10Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
Đấu thầu lãi suất: Là việc xét thầu trên cơ sở lãi suất dự thầu, khối lượng dự thầu
của các tổ chức tín dụng và khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc
bán.
B - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG
MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN QUA
Doanh số
bình quân/
phiên
2008 402 947.205,900 88.859 1.036.064 260,01% 2.577
10
11Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
Năm
Số
phiên
Doanh số
mua
Doanh số
bán
Tổng cộng
% so
với năm
trước
Doanh số
bình quân/
phiên
2009 329 966.880,460 100,162 966.980 - 2.939
2010 491 2.101.420,401 7.294,919 2.108.715 211,5% 3.240
6 tháng đầu
năm 2011
241 2.300.062 0 2.300.062 9.544
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN đã thực hiện 241 phiên giao dịch mua có kỳ
hạn. Để đảm bảo khả năng thanh khoản cho các tổ chức tín dụng nên NHNN chỉ chào các
phiên giao dịch mua có kỳ hạn và chủ yếu là kỳ hạn ngắn, chỉ có 7 ngày và tất cả các
phiên đều là phiên đấu thầu khối lượng.
thanh toán cho các tổ chức tín dụng trong trường hợp thị trường có những biến động đột
xuất. Điều này đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đáp ứng yêu cầu điều tiết vốn khả
dụng của các thành viên tham gia thị trường mở.
Thông qua hoạt động OMO, NHNN không chỉ mua GTCG để bơm thêm vốn khả
dụng khi thị trường thiếu hụt vốn khả dụng mà còn bán GTCG để hút tiền nhàn rỗi khi thị
trường dư thừa vốn nhằm thực hiện mục tiêu CSTT.
2. Tần suất và phương thức giao dịch trên thị trường mở
2.1. Tần suất giao dịch
Để tăng cường khả năng tác động của công cụ này, NHNN đã tăng tần suất giao
dịch thị trường mở. Trong thời gian đầu khi mới triển khai, các phiên OMO được tổ chức
với tần suất 10 ngày/phiên. Ngày giao dịch OMO được tính theo ngày làm việc. Từ phiên
thứ 14 vào ngày 29/11/2000, OMO được thực hiện với tần suất 1 tuần/phiên vào ngày thứ
Tư hàng tuần. Điều này đã giúp cho các TCTD chủ động điều chỉnh kịp thời, linh hoạt
vốn khả dụng của mình. Từ năm 2001, Ban điều hành OMO đã tăng định kỳ tổ chức các
phiên giao dịch OMO 2 phiên/1 tuần vào ngày thứ 3 và thứ 5 hàng tuần. Ngoài ra để đáp
ứng kịp thời vốn khả dụng cho TCTD, NHNN đã tổ chức các phiên đấu thầu đột xuất
theo ngày, cá biệt 2 phiên/ngày trong thời gian giáp Tết Nguyên đán. Việc tổ chức các
phiên đột xuất đã hỗ trợ kịp thời cho các TCTD khắc phục khó khăn về thiếu hụt vốn khả
dụng, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả và đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ. Bắt đầu
từ tháng 11/2004, giao dịch OMO đã được thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, vào ngày thứ
2, 4 và 6, góp phần điều tiết kịp thời vốn khả dụng của TCTD. Trong năm 2005, NHNN
đã tổ chức được 158 phiên thị trường mở, tăng 28,5%so với năm 2004. Mặc dù hiện nay
12
13Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
đã giao dịch với tần suất 3 phiên/tuần nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
giao dịch vốn của các ngân hàng. Vì thế năm 2006 và 2007 được nâng lên là 5 phiên /
tuần .
Bảng 2. Số lượng các phiên giao dịch OMO
Năm
Số
Tổng
số
Phương thức đấu thầu Phương thức xét thầu
Lãi suất Khối lượng Riêng lẻ Thống nhất
2000 17 13 4 14 3
2001 48 14 34 12 36
2002 85 68 17 67 18
2003 107 88 19 86 21
2004 123 123 0 83 40
2005 158 158 0 84 74
2006 155 155 0 62 45
2007 165 154 15 78 78
Tổng số 858 773 89 486 315
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
13
14Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
Về phương thức giao dịch trên thị trường mở, NHNN chủ yếu sử dụng phương thức
đấu thầu lãi suất và phương thức xét thầu riêng lẻ. Phương thức đấu thầu lãi suất đã được
NHNN sử dụng trong 86,2% số phiên giao dịch trong các năm từ năm 2000 đến 2007 và
tới 100% số phiên trong 2 năm 2006, 2007. Điều này xuất phát từ lý do NHNN đang điều
hành CSTT theo khối lượng tiền tăng thêm nên nhu cầu giao dịch GTCG của NHNN
thường được xác định trước. Ngoài ra, NHNN cũng sử dụng phương thức xét thầu riêng
lẻ trong 65,3% số phiên giao dịch. Trong nửa cuối năm 2005, NHNN hầu như chỉ áp
dụng phương thức xét thầu thống nhất trong các phiên OMO. Hoạt động thị trường mở
trong năm 2006 và 2007 được tiến hành duy trì một cách đều đặn.
Xét riêng về mặt lãi suất trong nghiệp vụ thị trường mở, nhìn chung, lãi suất OMO
khá bám sát các lãi suất khác của NHNN công bố như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn
và lãi suất chiết khấu. Lãi suất trúng thầu thường nằm giữa mức lãi suất tái cấp vốn và lãi
suất chiết khấu. Lãi suất trúng thầu, trong các phiên đấu thầu lãi suất, thể hiện khá chính
xác và phù hợp với diễn biến thị trường.
của các NHTM khó khăn, đặc biệt là các NHTM cổ phần quy mô nhỏ. Trước diễn biến
đó, NHNN sử dụng linh hoạt thị trường mở, kết hợp với cho vay tái cấp vốn để hỗ trợ
thanh khoản cho các NHTM có khó khăn về thanh khoản.
Như vậy, tất cả những sự điều chỉnh trên đều cho thấy quyết tâm kiềm chế lạm phát
mà hiện nay đang được Chính phủ ưu tiên hàng đầu.
3. Kết quả đạt được của hoạt động nghiệp vụ thị trường mở
Thứ nhất, nếu tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2011, và trong giai đoạn 2008-
2011, NHNN đã điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả công cụ nghiệp vụ thị trường
mở. Cùng với các công cụ chính sách tiền tệ khác, bước đầu đã góp phần kiềm chế lạm
phát và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu khác của chính sách tiền tệ. Lượng tiền cung
ứng và rút về của thị trường mở có sự phối hợp chặt chẽ với các công cụ khác của chính
sách tiền tệ nhằm phát tín hiệu điều hành và đạt được mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Thứ hai, các cơ chế và quy trình OMO đã được không ngừng cải tiến và hoàn
thiện
Dưới sự chỉ đạo của Ban điều hành OMO, các Vụ Cục chức năng của NHNN đã
kịp thời sửa đổi, bổ sung cơ chế, quy chế, quy trình kỹ thuật có liên quan. Về cơ bản, các
vướng mắc về cơ chế, quy trình và hạ tầng kỹ thuật đã được từng bước xử lý, khắc phục.
Công tác tổ chức, điều hành hoạt động OMO của NHNN được thực hiện bài bản, bảo
đảm an toàn tuyệt đối trong các phiên giao dịch.
15
16Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
Các GTCG được sử dụng trong OMO đã được mở rộng theo tinh thần Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật NHNN năm 2003. Đến nay các GTCG được giao dịch
không chỉ gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN mà còn cả các loại trái phiếu dài hạn
do ngân sách trung ương thanh toán.
Quy trình thanh toán từng bước được rút ngắn. Từ thanh toán sau 2 ngày kể từ ngày
đấu thầu (T+2) năm 2000, thanh toán sau ngày đấu thầu 1 ngày (T+1) năm 2001 và từ
năm 2002 đến nay việc thanh toán được thực hiện ngay trong ngày đấu thầu (T+0). Hệ
thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của NHNN đưa vào vận hành từ tháng 5/2003 đã
tạo điều kiện cho các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng và OMO được thanh, quyết
NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN thông qua OMO. Từ tháng 4-7/2003,
trước xu hướng các TCTD liên tục tăng lãi suất huy động VND trong khi vốn khả dụng
vẫn dư thừa khá lớn, bên cạnh việc điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết
khấu, giảm tỷ lệ DTBB, NHNN đã liên tục chào mua GTCG trong các phiên giao dịch
OMO với lãi suất thấp nhằm phát tín hiệu sẵn sàng cung ứng vốn khả dụng với chi phí
thấp, các TCTD cần theo dõi và chủ động cân đối vốn hợp lý. Trong năm 2004 và 2005,
chỉ số giá tiêu dùng CPI liên tục tăng trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng kinh tế vẫn được
Chính phủ và NHNN hết sức quan tâm thực hiện. NHNN liên tục chào mua GTCG để
cung ứng vốn ra nền kinh tế nhằm góp phần hạ nhiệt lãi suất thị trường. Chính vì vậy mà
doanh số giao dịch OMO tăng đột biết trong 2 năm 2004-2005. Và đặc biệt trong 2 năm
2006 và 2007 bên cạnh việc tăng trưởng kinh tế hơn 8%/ năm và 2 năm này cũng được
coi là 2 năm phát triển nhất của ngành tài chính – ngân hàng tại Việt Nam .
Nhìn chung, việc điều hành OMO đã được kết hợp tương đối đồng bộ với các công
cụ CSTT khác nhằm thực hiện mục tiêu CSTT. Lãi suất OMO đã kết hợp khá chặt chẽ
với lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu để định hướng lãi suất thị trường. Sự thay đổi
tới 5 lần lãi suất nghiệp vụ thị trường mở trong 6 tháng đầu năm 2011 đã thể hiện sự cố
gắng bám sát lãi suất thị trường và vận động cùng chiều, phối hợp chặt chẽ giữa lãi suất
cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất thị trường mở, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chiết
khấu là cơ sở để các chủ thể trong nền kinh tế đưa ra quyết định đầu tư, sản xuất kinh
doanh phù hợp. Có thể nói, sự thay đổi lãi suất nghiệp vụ thị trường mở làm tăng khả
năng điều tiết lãi suất thị trường của NHNN Việt Nam.
Thứ tư, OMO là kênh để NHNN có được nguồn thông tin về tình hình nguồn
vốn của các TCTD và về tình hình thị trường tiền tệ nói chung, làm cơ sở cho việc
điều hành CSTT.
17
18Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
Trong điều kiện thông tin về thị trường tiền tệ còn chưa thu thập được đầy đủ và
kịp thời, kết quả hoạt động OMO có thể coi là kênh thông tin hữu hiệu phản ánh một
phần tình hình thị trường tiền tệ phục vụ cho điều hành CSTT. Thông qua việc tổng hợp,
phân tích các thông tin về khối lượng, lãi suất đặt thầu và trúng thầu trong các phiên giao
tối đa các nguồn thông tin khác, thường xuyên trao đổi với các TCTD nhất là các
NHTMNN để nắm bắt diễn biến thị trường, qua đó giảm sai số khi dự báo, đáp ứng yêu
cầu ngày càng phát triển của công cụ này.
Bằng việc đưa hệ thống thông tin báo cáo mới của NHNN theo Quyết định số
477/2004/QĐ-NHNN , chỉ thị 03/2008/CT-NHNN vào áp dụng, NHNN đã bước đầu có
điều kiện khai thác một số thông tin về vốn khả dụng qua mạng. Thông tin về vốn khả
dụng của các TCTD đã được phản ánh toàn diện và kịp thời hơn. Các thành viên OMO đã
có sự quan tâm, chú trọng hơn đối với việc theo dõi, phân tích và dự báo luồng vốn, thực
hiện quản lý vốn ngày càng hiệu quả hơn để có thể tăng cường tham gia các nghiệp vụ thị
trường tiền tệ, nhất là nghiệp vụ OMO.
4. Những hạn chế và nguyên nhân
4.1. Những hạn chế
Qua các năm triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả khả quan của hoạt động
OMO thì vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định:
Thứ nhất, tác động của OMO đến thị trường tiền tệ còn hạn chế
- Khả năng hỗ trợ vốn khả dụng chưa đáp ứng được yêu cầu của tất cả các tổ chức
tín dụng tham gia thị trường. Đến 6 tháng đầu năm 2011, đã có 49 thành viên tham gia thị
trường, song tham gia giao dịch chủ yếu thường xuyên vẫn là các tổ chức tín dụng có quy
mô lớn với ưu thế về điều kiện giao dịch. Các tổ chức tín dụng có quy mô nhỏ hoặc chưa
quan tâm hoặc điều kiện tham gia thị trường yếu nên không thường xuyên tham gia thị
trường. Do vậy, khi thiếu vốn khả dụng, tạm thời họ phải vay trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng với lãi suất cao, từ đó góp phần gây xáo trộn trên thị trường tiền tệ.
- Còn nhiều bất cập trong việc điều tiết lãi suất thị nghiệp vụ thị trường mở. Thời
gian qua, NHNN Việt Nam đã điều hành linh hoạt lãi suất nghiệp vụ thị trường mở gắn
với lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu để định hướng lãi suất thị trường, phát tín hiệu
trong điều hành chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn có thời điểm, NHNN
lúng túng trong việc điều tiết lãi suất trên thị trường mở trong mối quan hệ với các loại lãi
suất khác. Những năm gần đây, và đặc biệt trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN thực
19
20Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
vẫn chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn.
20
21Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
Trong các năm qua, số lượng thành viên tham gia thị trường mỗi phiên khác khiêm
tốn: từ năm 2008 – 2009, khoảng 50-60% tổ chức tín dụng được công nhận là thành viên
thị trường mở; năm 2010, các thành viên tham gia tích cực hơn, có phiên số lượng thành
viên tham gia là 40; năm 2011, các thành viên tham gia cao nhất trong một phiên đã lên
tới 44 thành viên.
Thứ tư, kỳ hạn mua bán GTCG ngắn và chưa đa dạng
Hiện nay, NHNN chỉ thực hiện thống nhất một loại kỳ hạn giao dịch trong một
phiên đấu thầu. Điều này đã hạn chế sự lựa chọn về kỳ hạn của các thành viên thị trường,
mặc dù nhu cầu về khối lượng và thời gian của các thành viên là khác nhau. Bên cạnh đó,
NHNN chỉ thực hiện giao dịch theo một chiều nhất định (mua hoặc bán GTCG) trong
một phiên và chủ yếu thực hiện việc mua GTCG nên các TCTD cũng không thể tham gia
nếu không phù hợp với nhu cầu vốn của họ. Điều này đã được chứng minh trong thực tế
khi tại nhiều phiên giao dịch, không có thành viên nào tham gia.
Mặc dù về quy định là kỳ hạn giao dịch đã được đa dạng hoá từ 7 ngày đến 182
ngày nhưng trên thực tế, NHNN thường chỉ giao dịch với các kỳ hạn từ 7-30 ngày, dẫn
đến các khoản thanh toán với NHNN đến hạn dồn dập trong một thời gian ngắn và tăng
gánh nặng thanh toán cho các NHTM.
4.2. Nguyên nhân
Thứ nhất, thị trường tiền tệ ở Việt Nam còn chưa thực sự phát triển, các kênh
truyền dẫn tác động CSTT chưa hoàn thiện làm hạn chế hiệu quả các công cụ CSTT.
Việc thu thập thông tin về tình hình thị trường tiền tệ còn nhiều khó khăn. Đến nay
NHNN vẫn chưa có hệ thống theo dõi kịp thời và đầy đủ các hoạt động trên thị trường
tiền tệ liên ngân hàng. Việc theo dõi, dự báo vốn khả dụng vẫn còn có những khó khăn
nhất định. Nhất là khi tần suất giao dịch bình quân 1-2 phiên/ngày đòi hỏi về nhu cầu vốn
khả dụng của các tổ chức tín dụng, nhu cầu vay vốn, mặt bằng lãi suất đòi hỏi phải được
cập nhật liên tục hàng ngày, hàng giờ tới ban điều hành thị trường.
Trong khi đó, bản thân một số TCTD thành viên cũng gặp khó khăn trong việc nắm
Thứ tư, hàng hoá của OMO tuy đã được mở rộng nhưng vẫn chưa thực sự đa
dạng hoá. Trong thời gian từ năm 200-2003, công cụ giao dịch OMO chỉ bao gồm các
GTCG ngắn hạn. Thực hiện Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật NHNN, danh mục
GTCG đã được mở rộng, lượng GTCG có thể giao dịch trong OMO đã tăng lên, song vẫn
tập trung tại các NHTMNN.
Kỳ hạn của trái phiếu, tín phiếu Chính phủ - loại hàng hoá chủ yếu trong OMO -
vẫn chưa thực sự đa dạng hoá, nhất là các tín phiếu kho bạc với thời hạn dưới 364 ngày ít
22
23Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
được phát hành. Điều này cũng làm cho nhiều NHTM khó có điều kiện đầu tư vào
GTCG, tạo hàng hoá tham gia OMO và các nghiệp vụ thị trường tiền tệ khác.
C – MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ THỊ
TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1. Về cơ sở pháp lý
Các quy trình, quy chế liên quan đến hoạt động nghiệp vụ thị trường mở do Ngân
hàng nhà nước ban hành đã được rà soát và có những điều chỉnh để từng bước thích nghi
với nhu cầu của thị trường và đáp ứng được mục tiêu của chính sách tiền tệ nói chung của
Chính phủ. Tuy nhiên, các quy trình, quy chế này cần phải tiếp tục điều chỉnh, trong đó
đặc biệt chú trọng những nội dung liên quan đến việc cho phép đa dạng hóa kỳ hạn giao
dịch, tiến tới đưa ra giao dịch mua, bán kỳ hạn qua đêm để thúc đẩy thị trường mở hoạt
động linh hoạt và kịp thời, sau đó bổ sung phương thức giao dịch hoán đổi ngoại tệ nhằm
linh hoạt hơn nữa trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng.
Song song đó, cũng cần liên tục rà soát để cập nhật, điều chỉnh các quy trình liên
quan đến việc mở thầu, xét thầu, thời gian công bố kết quả thầu; các thủ tục về đăng ký,
lưu ký các giấy tờ có giá; thủ tục về lập hợp đồng, quy trình giao dịch qua mạng,…nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng khi tham gia giao dịch, rút ngắn thời gian
và tiết kiệm chi phí giao dịch.
2. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ chặt chẽ của nghiệp vụ thị trường mở với
các công cụ khác của chính sách tiền tệ nhằm đạt mục tiêu chính sách tiền tệ
của Chính phủ. Trong đó xác định rõ mục tiêu của nghiệp vụ thị trường mở là
4. Hoàn thiện công tác dự báo hiệu quả hoạt động nghiệp vụ thị trường mở.
Từ thực tiễn, hiệu quả của công tác dự báo trong điều hành hoạt động nghiệp vụ thị
trường mở là rất quan trọng, ảnh hưởng đến việc điều tiết lượng tiền cung ứng.
Công tác dự báo phải đảm bảo nguồn số liệu chính xác, đầy đủ, bao gồm: số lượng
tiền cung ứng, dự trữ, nhu cầu vốn của các tổ chức tín dụng, cho vay Chính phủ, cho vay
các tổ chức tín dụng, lãi suất liên ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế,…
Hệ thống số liệu phải được thu thập theo ngày, xác định cả trong quá khứ, hiện tại và
tương lai.
Phải xây dựng được mô hình dự báo, tuy nhiên, việc quyết định mô hình cần có sự
tham vấn và có kiểm định để đảm bảo đưa ra kết quả phân tích tốt nhất.
Cần phải có đội ngũ chuyên gia đảm nhiệm công tác thống kê, phân tích, xử lý mô
hình và đưa ra kết quả báo cáo ban điều hành phục vụ cho công tác điều hành hoạt động
24
25Thị Trường Mở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 5-TCDN Đêm 1-K20
nghiệp vụ thị trường mở trong ngắn và dài hạn. Đội ngũ chuyên gia phải là những cán bộ
có kiến thức về kinh tế lượng, kinh tế vĩ mô, công nghệ tin học để có thể đưa ra các kết
quả đáp ứng yêu cầu.
5. Rà soát lại lỗ hổng, nâng cấp và hoàn thiện hơn nữa cũng như nghiên cứu
áp dụng công nghệ mới cho hạ tầng hệ thống thông tin của thị trường mở.
Hệ thống công nghệ thông tin cần được không ngừng nâng cấp. Trong đó, chú
trọng nâng cao độ an toàn, chuẩn xác trong các hoạt động giao dịch, tăng hiệu quả hoạt
động (nhờ đó rút ngắn hơn nữa thời gian giao dịch), cũng như cải tiến các các chương
trình phần mềm ứng dụng về lưu ký giấy tờ có giá tại Sở giao dịch Ngân hàng nhà nước
nhằm theo dõi và thanh toán giấy tờ có giá của Ngân hàng nhà nước và của các tổ chức
tín dụng. Đồng thời, ứng dụng công nghệ mới hướng tới chấp nhận hoàn toàn các chữ ký
điện tử. Việc này cần phải được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật quy định về chữ
ký điện tử trong giao dịch, trong đó có giao dịch trên thị trường mở.
Bên cạnh đó, hệ thống công nghệ thông tin cũng cần phải được hoàn thiện với mục
tiêu trở thành công cụ đắc lực, quan trọng và hiệu quả nhất trong việc dự báo và nắm bắt
kịp thời các thông tin thị trường (nhu cầu vốn của nền kinh tế, khả năng thanh khoản của