Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí tại Tập đoàn dầu khí Việt Nam. Thực trạng và giải pháp - Pdf 35

Mở đầu
Đất nước ta đang trong giai đoạn quá độ tiến lên XHCN, xây dựng cơ sở vật chất
cho XHCN, trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những sự thay đổi
rất cơ bản. Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định: Để tiến lên XHCN, chúng ta
phải thực hiện CNH-HĐH đất nước. Để có một cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức mạnh
và hoạt động có hiệu quả thì các nhân tố nội tại trong cơ cấu đó (các thành phần
kinh tế, các loại hình doanh nghiệp) phải phát huy và hoạt động hết khả năng của
mình.
Dầu khí là một ngành công nghiệp non trẻ, tuy mới ra đời song đã sớm trưởng thành
và khẳng định mình trong nền kinh tế quốc dân. Hiện nay ngành Dầu khí đã thực sự
trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, góp phần trong sự tăng trưởng của nền kinh
tế quốc dân.
Xuất phát từ những định hướng lớn về phát triển kinh tế gian đoạn 2001-2010 mà
ĐCS Việt Nam và Nhà nước đã vạch ra, Tập đoàn dầu khí Việt Nam trong nhiều
năm qua luôn theo một quan điểm xuyên suốt đó là phát triển ngành Dầu khí Việt
Nam trên cơ sở tăng cường sức mạnh từ bên trong. Thách thức lớn nhất đặt ra trong
xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới là vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngành, để làm được điều đó phải tích cực nâng cao hiệu quả các hoạt động đầu tư
của Tập đoàn nói chung và các hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn nói
riêng.
Trong thời kì kinh tế có nhiều biến động như hiện nay, với mục tiêu đáp ứng nhu
cầu an ninh năng lượng quốc gia, những năm gần đây, Tập đoàn đã không ngừng
đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Vì vậy, nghiên cứu phân tích tình hình
đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn là một điều cần thiết, để từ đó có thể đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động đầu tư này. Dưới sự hướng dẫn của
thầy cô Khoa Đầu tư, em đã lựa chọn đề tài: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong
lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí tại Tập đoàn dầu khí Việt Nam. Thực trạng
và giải pháp.” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý tận tình của thầy, cô giáo và các bạn để
khắc phục những sai sót không thể tránh khỏi do sự hạn chế về kiến thức cũng như
những hiểu biết thực tế của bản thân, để em có thể hoàn thiện hơn.

càng đa dạng đòi hỏi ngày càng cao cũng như đối phó với các đối thủ cạnh tranh tạo
chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp cụ thể ở một số lĩnh
vực sau:
1.1.2.1 Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
- Đầu tư mua sắm máy móc thiết bị: mua sắm máy móc thiết bị mới. Nâng cấp, sửa
chữa, bảo trì, bảo dưỡng máy móc.
- Đầu tư xây dựng hệ thống của hàng: xây dựng của hàng mới, sửa chữa nâng cấp
cửa hang cũ.
- Đầu tư xây dựng hệ thống nhà xưởng, công trình: xây dựng mới nhà xưởng công
trình. Nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà xưởng công trình cũ.
1.1.2.2 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay các doanh nghiệp thường đầu tư vào nguồn nhân lực thông qua các hoạt
động sau:
- Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực:
Trang bị kiến thức phổ thông, chuyên nghiệp và kiến thức quản lý cho người lao
động. Việc đào tạo được thể hiện ở hai cấp độ :
Đào tạo phổ cập: nhằm phổ cập những kiến thức cơ bản cho người lao động để họ
có thể có được những hiểu biết và nắm được những thao tác cơ bản trong quá trình
lao động sản xuất.
Đào tạo chuyên sâu: nhằm hình thành nên đội ngũ cán bộ giỏi, cán bộ đầu ngành
trong từng lĩnh vực để họ có đủ năng lực, kiến thức và khả năng tư duy, suy nghĩ
độc lập sáng tạo và làm việc trong những tình huống khó khăn phức tạp hơn.
- Đầu tư phát triển đời sống người lao động:
Đảm bảo chế độ trả lương hợp lý.
Lập các quỹ khen thưởng, quỹ bảo hiểm xã hội để khuyến khích cán bộ công nhân
viên không ngừng nâng cao tay nghề, phát huy sáng kiến… từ đó nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Lập các quỹ phúc lợi để hỗ trợ người lao động khi gặp khó khăn, để giúp họ yên
tâm sản xuất.

lợi nhuận về cho doanh nghiệp. Việc liên doanh liên kết đầu tư giữa các doanh
nghiệp trong nước với nhau hoặc doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước
ngoài giúp các doanh nghiệp thực hiện được những dự án lớn, những dự án mà bản
thân doanh nghiệp không đủ năng lực đầu tư. Nhờ hình thức đầu tư này, các doanh
nghiệp có thể cải tiến máy móc thiết bị, học tập được kinh nghiệm quản lý và nhận
chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp khác, tạo điều kiện năng cao năng lực
sản xuất của doanh nghiệp
Cụ thể, đối với Tập đoàn dầu khí Việt Nam, việc tăng cường hoạt động đầu tư thăm
dò khai thác ra nước ngoài, liên kết đầu tư với các quốc gia khác một mặt nhằm
mục đích gia tăng trữ lượng dầu khí, đảm bảo cho hoạt động phát triển kinh tế của
đất nước, mặt khác nhằm giảm thiểu những rủi ro trong quá trình đầu tư, học tập
khoa học công nghệ hiện đại trên thế giới…

1.2 Đầu tư ra nước ngoài trong ngành công nghiệp dầu khí
1.2.1 Khái niệm chung về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Luật Đầu Tư Việt Nam 2005 ( có hiệu lực từ ngày 1/7/2006): Đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ
Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt
động đầu tư.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hoàn toàn vì mục đích lợi nhuận. Nhà đầu tư
trực tiếp tham gia quản lý quá trình sử dụng vốn đầu tư, do đó họ trực tiếp chịu
trách nhiệm trước sự thành công hay thất bại trong quyết định đầu tư của mình.
Trong quá trình hợp tác đầu tư, quyền lợi của các bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệ
vốn góp, tỷ lệ mỗi bên đầu tư vào dự án.

1.2.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được thực hiện qua 2 kênh chủ yếu là :
Liên minh sát nhập ( M&A) và Đầu tư mới ( GI ).
- Liên minh và sát nhập ( M&A ): là hình thức chủ yếu được thực hiện ở những

đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp tại nước sở tại trên cơ sở hợp
đồng liên doanh. Đặc điểm:
Thành lập doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.
Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ
lệ góp vốn của mỗi bên
• Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Đây là hình thức doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ vốn để
thành lập. Đặc điểm:
Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật nước sở tại. Doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá
nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, quản lý và chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp là một pháp nhân của nước nhận đầu tư.

• Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh và chuyển giao.
Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại với nhà
đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một
thời gian. Hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn hoặc với
một giá tượng trưng công trình đó cho nước sở tại.
Các hình thức biến tướng của BOT là BT và BTO.
BTO là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài về
việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư
nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại. Chính phủ nước sở tại sẽ cùng với nhà
đầu tư nước ngoài khai thác công trình đó trong một khoảng thời gian nhất định để
thu hồi vốn và đảm bảo có lãi.
BT là hình thức văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước sở tại và nhà đầu tư nước
ngoài về xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng song nhà đầu tư
nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại. Chính phủ nước sở tại tạo điều kiện cho
nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận
hợp lý.

Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Nội dung cụ thể của các giai đoạn như sau:
a) Giai đoạn thăm dò và thẩm lượng:
Giai đoạn thăm dò: Gồm các hoạt động sau:
- Nghiên cứu địa chất :
- Tái xử lý tài liệu địa chất đã thu nổ
- Thu nổ địa chấn ( 2D, 3D)
- Xử lý tài liệu và minh giải địa chấn.
- Đánh giá triển vọng dầu khí
- Xác định vị trí giếng khoan
Xác lập và trình duyệt các báo cáo cần thiết (báo cáo đánh giá tiềm năng, xác định
vị trí khoan và chương trình khoan, đánh giá tác động môi trường, thiết kế chi tiết
giếng khoan ).
- Khoan:
- Chuẩn bị vật tư thiết bị
- Khảo sát địa chấn công trình
- Giải phóng mặt bằng, làm nền khoan
- Đấu thầu giàn khoan, đấu thầu tàu dịch vụ, trực thăng
- Các dịch vụ khác ( thử vỉa, bơm trám, thả ống chống)
- Cập nhập thông tin, so sánh với dự kiến
- Phân tích mẫu
- Lập báo cáo tổng kết
- Đánh giá và tính toán tiềm năng dầu khí
- Lập chương trình thăm dò tiếp theo
- Tuyên bố phát hiện
- Báo cáo hoàn trả diện tích
Giai đoạn thẩm lượng:
Giai đoạn thẩm lượng thường kéo dài 3-5 năm, với mục đích xác định chính xác
các cấp trữ lượng dầu khí, các thông số kĩ thuật tầng chứa thuộc khu vực thăm dò
nhằm làm cơ sở cho việc thiết kế phát triển khai thác mỏ. Kết thúc giai đoạn thẩm

những hợp đồng mang tính đặc trưng riêng của ngành. Hợp đồng dầu khí được thiết
lập trên cơ sở luật dầu khí, các qui định hiện hành liên quan của quốc gia đó, các
quy định, thông lệ quốc tế về hợp đồng và các kết quả đàm phán về các điều khoản
kỹ thuật, kinh tế, tài chính…Mỗi một quốc gia có thể lựa chọn sử dụng loại hợp
đồng dầu khí phù hợp với tiềm năng dầu khí cũng như các lợi thế khác. Nội dung
hợp đồng cũng thay đổi theo từng công ty khác nhau.
Có 3 loại hợp đồng chính thường được áp dụng trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò
khai thác dầu khí, đó là:
- Hợp đồng phân chia sản phẩm.
- Hợp đồng tô nhượng ( hợp đồng địa tô)
- Hợp đồng dịch vụ

1.2.3.1 Hợp đồng phân chia sản phẩm
Hợp đồng phân chia sản phẩm được áp dụng phổ biến trên thế giới và Việt Nam .
Hợp đồng phân chia sản phẩm được phát triển vào giữa thập niên 60 ở Indonesia .
Phân chia sản phẩm phân định sản lượng khai thác giữa nhà điều hành và nước chủ
nhà, thường là các công ty dầu khí quốc gia. So với 2 hình thức hợp đồng tô nhượng
và hợp đồng dịch vụ, mức độ tham gia và giám sát quá trình đầu tư của nước chủ
nhà cao hơn nhiều. Mặc dù toàn quyền điều hành song song, nhà đầu tư phải thực
hiện theo chương trình công việc và ngân sách được nước chủ nhà phê duyệt hàng
năm. Phương pháp tính toán sự phân chia thay đổi theo phần trăm của mỗi bên tham
gia. Các thang chia thay đổi tùy thuộc vào từng quốc gia nhận đầu tư, vào từng vị trí
khu vực và từng thời điểm. Thang phân chia giữa nước chủ nhà và nhà thầu được
xác định bằng cách tách sản lượng khai thác thành 2 loại : sản lượng dầu khí cho thu
hồi chi phí và sản lượng dầu khí lãi. Dầu khí thu hồi chi phí cho phép các nhà điều
hành thu hồi các khoản đã chi của họ như chi phí điều hành, chi phí đầu tư quá khứ
và một phần vốn đầu tư. Việc thu hồi chi phí của nhà điều hành thường được lấy
trước khi áp dụng phân chia sản phẩm.
Dòng tiền cho 1 dự án dầu khí thực hiện theo hợp đồng phân chia sản phẩm được
thể hiện ở sơ đồ dưới đây:

khi sản lượng khai thác giảm. Vấn đề này có khuynh hướng tăng phần dầu khí có
thể thu hồi. Các nhà điều hành theo đó bị thiệt hại bởi vì nước chủ nhà lấy phần
trăm sản lượng khai thác từ khu vực mỏ tiềm năng cao hơn, do đó thuế tài nguyên là
một khoản thuế đánh vào khai thác, không đánh vào lợi nhuận.

1.2.3.3 Hợp đồng dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ được một số quốc gia có tiềm năng dầu khí lớn (Trung Đông ) áp
dụng. Theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm hay tô nhượng, các nhà đầu tư
có thể thu được lợi nhuận lớn nếu kết quả thăm dò cho các phát hiện lớn. Đối với
những vùng có tiềm năng dầu khí lớn, nước chủ nhà cần có hình thức hợp đồng phù
hợp để khống chế lợi nhuận của nhà đầu tư, vì vậy hợp đồng dịch vụ ra đời. Hợp
đồng dịch vụ có thể hiểu như sau: Đối với giai đoạn thăm dò, mọi điều khoản được
áp dụng như hợp đồng phân chia sản phẩm, có nghĩa là nhà thầu chịu 100% rủi ro.
Sau đó có phát hiện thương mại, nhà thầu là dịch vụ phát triển và khai thác mỏ cho
nước chủ nhà, đổi lại được thu hồi toàn bộ chi phí và một khoản lãi nhất định được
xác định trong hợp đồng.
Khi nhà điều hành gánh chịu chi phí tìm kiếm thăm dò và phát triển, về cơ bản họ
nhận phí trên một thùng hoặc một tấn đơn vị dầu khí trả cho chính phủ, phí được
xác định trong hợp đồng. Nhà điều hành có thể mua dầu thô với giá thị trường được
giảm giá. Phần lấy của nhà điều hành tuỳ thuộc vào điều kiện của hợp đồng, một
vài công ty dầu quốc gia trả thuế thay cho nhà điều hành, các quốc gia khác yêu cầu
nhà điều hành tính thuế riêng.

1.2.4 Đặc trưng cơ bản của hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí
Hoạt động đầu tư thăm dò và khai thác dầu khí cũng mang những đặc điểm cơ bản
của hoạt động đầu tư phát triển như: Đòi hỏi một lượng vốn lớn, lượng vốn này
nằm khe đong trong suốt quá trình đầu tư; Thời gian tiến hành đầu tư và thời gian
thu hồi vốn kéo dài; Các thành quả của hoạt động đầu tư có giá trị sử dụng lâu dài;
Thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình sẽ tồn tại và phát huy tác dụng
ngay tại nơi đầu tư; Hoạt động đầu tư phát triển diễn ra trong thời gian dài nên phải

Do chi phí khoan, xử lý địa chất, xây dựng dàn khoan... rất cao, do những tác động
của rủi ro mà đặc thù của ngành mà các dự án dầu khí đòi hỏi một lượng vốn đầu tư
rất lớn. Các công ty hoạt động trong lĩnh vực này yêu cầu phải có tiềm lực tài chính
mạnh và ổn định. Các dự án đầu tư cho giai đoạn thăm dò thường phải yêu cầu vốn
ít nhất là vài chục triệu USD. Sau đây là bảng thống kê chi phí của một số hạng mục
của công tác thăm dò khai thác dầu khí :
Bảng 1.3 : Bảng thống kê chi phí một số hạng mục của hoạt động đầu tư thăm
dò khai thác dầu khí
(đối với 1 mỏ trung bình từ 100-200 triệu thùng)
STT Hạng mục số lượng Chi phí
1 Khoan thăm dò 3-5 giếng 15-30 triệu USD/ giếng
2 Khoan thẩm lượng 3-5 giếng 70-150 triệu USD/ giếng
3 Khoan khai thác 15-25 giếng 56-120 triệu USD/ giếng
4 Ống dẫn dầu 50-100 km 1 triệu USD / km
5
Thiết bị khai thác, xử lý dầu,
kho tàng…
350-750 triệu USD
6
Thu nổ xử lý 1000 km địa
chấn
4-5 triệu USD
Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
1.2.4.3 Hoạt động đầu tư thăm dò khai thác dầu khí đòi hỏi phải sử dụng công nghệ và kĩ
thuật hiện đại
Để tiến hành công tác thăm dò và khai thác dầu khí phải áp dụng 3 môn khoa học
cơ bản là : địa chất, địa vật lý và khoan sâu. Tuy nhiên để tiến hành thực hiện toàn
bộ các công việc cho đến khi có phát hiện dầu khí thì đòi hỏi phải ứng dụng rất
nhiều các kĩ thuật tiên tiến nhất của các ngành : vật lý, tin học, phân tích phóng xạ,
quang học, hàng không, cơ khí... Với các thiết bị hiện đại và yêu cầu độ chính xác

vốn đầu tư Tổng số vốn đầu tư năm trước

e) Tỷ lệ thực hiện vốn đầu tư/ vốn đầu tư đăng ký
Đây là chỉ tiêu để đánh giá mức độ thành công của hoạt động đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài của các doanh nghiệp và đước tính theo công thức sau:
Tỷ lệ vốn = Vốn đầu tư / Vốn đầu tư *100%
thực hiện thực hiện đăng


f) Doanh thu tăng thêm / vốn đầu tư
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động đầu tư, một đồng vốn bỏ ra thu
được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hoạt động đầu tư càng
hiệu quả. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
N = Doanh thu tăng thêm của năm đang xem xét so với năm trước
Vốn đầu tư của năm đang xem xét

g) Lợi nhuận tăng thêm / vốn đầu tư
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động đầu tư, một đồng vốn bỏ ra thu
được bao nhiêu đồng lợi Nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn thì hoạt động đầu tư càng
hiệu quả. Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
N = Lợi nhuận tăng thêm của năm đang xem xét so với năm trước
Vốn đầu tư của năm đang xem xét

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực thăm dò
và khai thác dầu khí.
Giống như một dự án đầu tư thông thường, dự án thăm dò khai thác dầu khí ra nước
ngoài phải chịu tác động của các nhân tố như: điều kiện kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng
trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ lệ lạm phát ), tình hình cung cầu, môi trường kinh tế pháp
luật, môi trường tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên, chính sách phát triển
kinh tế của đất nước… Nhưng với đặc thù của ngành dầu khí, là một ngành kinh tế

Nhưng khi quốc gia nhận đầu tư có một nền chính trị bất ổn, xảy ra chiến tranh thì
mặc dù dự án có mang lại lợi nhuận lớn thì cũng cần xem xét với điều kiện chính trị
như vậy thì có thể tiến hành đầu tư hay không, quốc gia nhận đầu tư liệu có đảm
bảo cho hoạt động đầu tư được tiến hành thuận lợi và an toàn hay không.

Chương 2:
Thực trạng hoạt động đầu tư thăm dò khai thác dầu khí ra nước ngoài tại Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam giai đoạn 2005-2008

2.1 Tổng quan về Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn.
Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ( sau đây gọi là Tập đoàn dầu khí Việt
Nam – PVN )là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân được thành lập theo quyết
định của chính phủ số 199/2006/QD-TTg ngày 29/8/2006.
2.1.1.1. Tên gọi
Tên gọi đầy đủ : Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: VIETNAM OIL AND GAS GROUP; gọi tắt là
PETROVIETNAM, viết tắt là PVN.
2.1.1.2. Trụ sở chính
Tập đoàn dầu khí VN có trụ sở chính tại: số 18 Láng Hạ - Ba Đình – Hà Nội.
2.1.1.3. Quá trình hình thành và phát triển
Tổng công ty dầu khí Việt Nam ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của
ngành dầu khí. Từ đoàn địa chất 36 trực thuộc Tổng cục địa chất làm nhiệm vụ tìm
kiếm thăm dò dầu khí, được thành lập năm 1961, trở thành Tổng công ty Dầu khí
Việt Nam ( Petrovietnam ) như hiện nay là cả một quá trình phát triển liên tục gắn
với từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước.
Tháng 9/1975: Thành lập tổng cục dầu khí Việt Nam trên cơ sở Liên đoàn Địa chất
Dầu khí 36 của Tổng cục Địa chất và ban dầu thuộc Tổng cục Hóa chất.
Tháng 9/1977: Thành lập Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, gọi tắt là
Petrovietnam trực thuộc Tổng cục dầu khí với nhiệm vụ hợp tác tìm kiếm – thăm dò

Việt Nam.

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tập Đoàn
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tập đoàn dầu khí Việt Nam gồm:
- Hội đồng quản trị, ban kiểm soát
- Tổng giám đốc và các phòng ban của tập đoàn
- Các đơn vị thành viên của tập đoàn
Cơ cấu tổ chức của tập đoàn được biểu hiện ở sơ đồ sau:
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tập Đoàn
Hội đồng quản trị
a) Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là đại diện trực tiếp chủ sở hữu
nhà nước tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam , có tối đa 09 thành viên. Trong đó, 01 đại
diện lãnh đạo Bộ Công nghiệp, 01 đại diện lãnh đạo Bộ Tài chính là thành viên
kiêm nhiệm. Thành viên Hội đồng quản trị do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp.
b) Ban kiểm soát Tập đoàn Dầu khí Việt Nam do Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam bổ nhiệm, có tối đa 05 thành viên, trong đó Trưởng ban kiểm soát là
thành viên Hội đồng quản trị.
c) Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam do Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng sau khi
được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.
d) Giúp việc Tổng giám đốc có các Phó tổng giám đốc và kế toán trưởng do Hội
đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng giám
đốc.
e) Bộ máy giúp việc Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam có văn phòng và các ban chức năng tham mưu.

2.1.2.3 Bộ máy điều hành trực thuộc tập đoàn
a) Nhiệm vụ chung của các Ban trực thuộc Tập Đoàn
Trong phạm vi chức năng của Ban mình và theo các quy định về phân cấp trong các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status