LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại và diễn ra ngày
càng sâu rộng về nội dung, quy mô trên nhiều lĩnh vực. Trong xu thế đó, quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã diễn ra từ lâu, kể từ khi Việt
Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986. Việt
Nam đã gia nhập khối ASEAN năm 1995; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA) năm 1996; ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam -
Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư
song và đa phương khác. Đặc biệt từ năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành
thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), là mốc son quan
trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đánh dấu cho việc
hội nhập ngày càng sâu rộng với thị trường quốc tế nói chung và trong lĩnh vực
tài chính ngân hàng nói riêng. Để nắm bắt được những cơ hội cũng như chủ
động đối phó với các thách thức trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã và đang
tiến hành cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Để có thêm kiến thức về vấn đề
này, chúng ta sẽ tìm hiểu về cán cân thanh toán của Việt Nam và các nguyên
nhân cũng như giải pháp cho sự thâm hụt cán cân thương mại quốc tế của Việt
Nam.
Trang 1
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ
1. Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế
(CCTTQT)
1.1 Khái niệm
Cán cân thanh toán quốc tế (balance of payment) được hiểu là bảng kế toán
tổng hợp các luồng vận động về hàng hoá dịch vụ , tư bản… của một quốc gia
với phần còn lại của thế giới trong từng thời kỳ nhất định. Những giao dịch này
có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay
chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch
đo lường chính xác kết quả xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của đất nước
đó.
CCTT còn được sử dụng như một chỉ số về kinh tế và tính ổn định chính
trị. Ví dụ, nếu một nước có thặng dư cán cân thanh toán có nghĩa là có nhiều đầu
tư từ nước ngoài đáng kể vào nước đó hoặc cũng có thể là nước đấy không xuất
khẩu nhiều tiền tệ ra nước ngoài dẫn đến sự tăng giá của giá trị đồng nội tệ so
với ngoại tệ.
2. Kết cấu và các cán cân bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế
2.1. Các thành phần của cán cân thanh toán
Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm
1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau:
• Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa,
dịch vụ và một số chuyển khoản.
• Tài khoản vốn : Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài
sản tài chính.
• Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước
• Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương. Do
tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ,
nên gần như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại
Trang 3
hối tạo nên.
• Mục sai số
Do ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi
chép được và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi
trong cán cân thanh toán như là mục sai số.
2.2. Các bộ phận của cán cân thanh toán
• Cán cân vãng lai (current balance)
• Cán cân vốn (capital balance)
thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các
trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm
cả hàng hóa lẫn dịch vụ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại:
+ Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng
nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập
khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho
nhập khẩu. Ví dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân
có xu hướng dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá
cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước
ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì
nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam
tăng tương đối so với giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ
nhiều xe đạp Nhật Bản hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.
+ Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc
gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy
nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng.
Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố
tự định.
+ Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh
hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên
thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả
Trang 5
của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở
nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên
sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất
khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có
lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên. Ví dụ, một bộ
khoản thu nhập khác bằng tiền hiện vật người cư trú trả cho người không cư trú
hay ngược lại.các nhân tố ảnh hưởng lên thu nhập của người lao động ở nước
ngoài.
+ Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ
đầu tư giấy tờ có giá và các khoản lãi đến han phải trả của các khoản vay giữa
người cư trú và không cư trú.
- Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều :
Các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển
giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do người không cư trú
chuyển cho người không cư trú và ngược lại. Các khoản chuyển giao vãng lai
một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa người cư trú với người không
cư trú các khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ) nên được ghi vào
bên có (+), các khoản chi làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ
(-). Nhân tố chính ảnh hưởng lên chuyển giao vãng lai một chiều là lòng tốt, tình
cảm giữa người cư trú và người không cư trú.
Chúng ta thấy rằng cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một
chiều không thể quan sát bằng mắt thường nên chúng được gọi là cán cân vô
hình (invisible) Như vậy, cán cân vãng lai có thể biểu diễn :
Trang 7
Cán cân vãng lai = cán cân hữu hình +cán cân vô hình
Tóm lại, các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trú làm
phát sinh cung ngoại tệ nên dược ghi vào bên có và các khoản thu nhập trả cho
người không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ. Tất cả
các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp
chung vào trong tính toán này. Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương
mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, đối với
một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng
từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn.
Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì thế
dòng vốn vào sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt. Cán cân tài khoản
vốn, nhờ đó, được cải thiện. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạ xuống, cán
cân vốn sẽ bị xấu đi.
Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân tài khoản vốn sẽ bị xấu đi. Và,
khi lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện.
Tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái:
Khi đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, cũng có nghĩa là tỷ giá hối
đoái danh nghĩa giảm, dòng vốn vào sẽ giảm đi, trong khi dòng vốn ra tăng lên.
Hậu quả là, tài khoản vốn xấu đi. Ngược lại, khi đồng tiền trong nước mất giá
(tỷ giá tăng), tài khoản vốn sẽ được cải thiện.
2.2.3. Cán cân cơ bản
Như đã phân tích ở trên, cán cân vãng lai ghi chép các hạng mục về thu
Trang 9
nhập, mà đặc trưng của chúng là phản ánh mối quan hệ sở hữu về tài sản giữa
người cư trú với người không cư trú. Chính vì vậy tình trạng của cán cân vãng
lai có ảnh hưởng lâu dài đến sự ổn định của nền kinh tế mà đặc biệt là lên tỉ giá
hối đoái của nền kinh tế.
Tổng của cán cân vãng lai và cán cân dài hạn gọi là cán cân cơ bản. Tính
chất ổn định của cán cân cơ bản ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế và tỉ giá hối
đoái. Chính vì vậy cán cân cơ bản được các nhà phân tích và hoạch định chính
sách kinh tế quan tâm.
Cán cân cơ bản = các cân vãng lai +cán cân vốn dài hạn
Những hạng mục hay thay đổi như vốn ngắn hạn và thay đổi dự trữ ngoại
2.2.4. Cán cân tổng thể (overall balance)
Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tuyệt đối (tức nhầm lẫn và sai sót
bằng không ) thì cán cân tổng thể bằng tổng của cán cân vãng lai và cán cân
vốn. Trong thực tế do có rất nhiều vấn đề phức tạp về thống kê trong quá trình
→OB = - OFB
→CA+K+OM= - OFB
→OM =-(CA+K+OFB)
Đẳng thức cuối cùng cho thấy số dư của hạng mục nhầm lẫn và sai sót chính
là độ lệch giữa cán cân bù đắp chính thức và tổng của cán cân vãng lai và cán cân
vốn. Bởi vì cán cân bù đắp chính thức, cán cân vãng lai và cán cân vốn luôn được
xác định (luôn thể hiện là một số cụ thể trên CCTTQT ), do đó đẳng thức trên
được áp dụng số dư nhầm lẫn và sai sót khi lập CCTTQT trong thực tế.
3. Thặng dư và thâm hụt CCTTQT
CCTT được lập theo nguyên tắc hạch toán kép, do đó tổng các bút toán ghi
có luôn bằng tổng các bút toán ghi nợ, nhưng có dấu ngược nhau. Điều này có
nghĩa là, về tổng thể thì CCTTQT luôn được cân bằng. Do đó nói đến thặng dư,
thâm hụt CCTTQT là nói đến thặng dư thâm hụt của một hoặc của một nhóm
các cán cân bộ phận chứ không nói đến toàn bộ cán cân.
Về mặt nguyên tắc, thặng dư hay thâm hụt của CCTTQT được xác định
Trang 11
theo hai phương pháp:
Phương pháp xác định thặng dư thâm hụt của từng cán cân bộ phận.
Phương pháp tích lũy.
3.1. Thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại
TB=X-M
Như vậy cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và giá trị
nhập khẩu về hàng hóa
Cán cân thương mại thặng dư: X > M, cho biết:
- Thu từ người không cư trú > chi cho người không cư trú
- Cung ngoại tệ > cầu ngoại tệ
Cán cân thương mại thâm hụt: X < M, cho biết:
- Thu từ người không cư trú < chi cho người không cư trứ
từ người không cư trú là thấp hơn so với chi cho người không cư trú. Điều này
có nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cư trú phát hành
nằm trong tay người cư trú giảm xuống. cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ.
- Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, trạng thái cán cân vãng lai là lý
tưởng để phân tích trạng thái nợ nước ngoài của quốc gia. Lý do có thể được giả
thích như sau: Trạng thái cán cân vãng lai có mối liên hệ trực tiếp với trạng thái
tổng nợ nước ngoài của một quốc gia. Cán cân vãng lai cân bằng nói lên rằng
tổng nợ nước ngoài của quốc gia là không đổi ( quốc gia không là chủ nợ và
cũng không là con nợ ). Cán cân vãng lai thặng dư phản ánh tài sản có ròng của
quốc gia đối với phần thế giới còn lại được tăng lên ( vị thế quốc gia là chủ nợ ).
Ngược lại cán cân vãng lai thâm hụt phản ánh tài sản nợ ròng của quốc gia đối
với nước ngoài tăng lên ( vị thế quốc gia là con nợ).
CA = 0, trong dài hạn
Theo giả thiết cán cân vãng lai cân bằng, nghĩa là:
( X- M + Se + Ic + Tr ) = 0
Vì trong dài hạn hiệu ứng can thiệp của NHTW mang tính trung lập do đó
chúng ta có thể coi dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi là bằng 0, tức: R= 0
- Kl + Ks = 0.có 2 khả năng xảy ra
Trang 13
+ TH1: Kl < 0 và Ks > 0. nếu luồng vốn ngắn hạn chảy vào càng lớn
và được cân đối bởi luồng vốn dài hạn chảy ra, có thể làm cho năng lực thanh
toán của quốc gia trong tương lai bị đe dọa, dẫn đến áp lực tăng áp suất và giảm
giá nội tệ
+ TH2: Kl > 0 và Ks < 0. nếu luồng vốn dài hạn chảy vào càng lớn và
được cân đối bởi luồng vốn ngắn hạn chảy ra, thì sẽ tạo ra môi trường kinh tế vĩ
mô ổn định hơn để duy trì ổn định tỷ giá, lãi suất va thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế quốc gia.
CA = 0 trong ngắn hạn
tương đối ổn định trong một thời gian dài giữa một quốc gia và thế giới.
- Thông thường người ta cho rằng một sự xấu đi của cán cân cơ bản là tín
hiệu xấu của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết phải như vậy,
nghĩa là cho dù cán cân cơ bản bị thâm hụt nhưng đây chưa hẳn đã là điều xấu.
Ví dụ, một quốc gia có thể đang bị thâm hụt cán cân vãng lai & đồng thời có
các luồng vốn dài hạn chảy ra, điều này khiến cho cán cân cơ bản trở lên thâm
hụt nặng; nhưng các luồng vốn chảy ra sẽ hứa hện những thu nhập như lãi suất,
cổ tức hay lợi nhuận trong tương lai; những thu nhập mày sẽ góp phần cải thiện
thâm hụt hay tạo thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai. Ngược lại thặng dư
cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt. khi mà luồng vốn ròng dài hạn chảy
vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thì cán cân cơ bản trở lên thặng dư.
*) Tình trạng cán cân cơ bản có tác động một cách không rõ ràng đến nền
kinh tế tuỳ theo cách tiếp cận.
*) Đối với các nước đang phát triển, vốn là yếu tố cần thiết để thực hiện
công nghiệp và hiện đại hoá, thặng dư cán cân cơ bản nhìn chung được coi là
dấu hiệu tích cực.
*) Các chính sách thu hút vốn đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp là giải pháp
cơ bản cho vấn đề này.
Ngược lại thặng dư cán cân cơ bản không nhất thiết là điều tốt. khi mà
luồng vốn ròng dài hạn chảy vào lớn hơn mức thâm hụt cán cân vãng lai thì cán
cân cơ bản trở lên thặng dư. Có hai cách để nhìn nhận vấn đề thặng dư của cán
cân cơ bản như sau:
Trang 15
- Cách thứ nhất cho rằng, do được phía nước ngoài tin tưởng nên quốc gia
có khả năng nhập khẩu được nhiều vốn dài hạn, do đó không có vấn đề gì phải
lo lắng khi cán cân vãng lai bị thâm hụt.
- Cách thứ hai cho rằng, thặng dư cán cân cơ bản là một vấn đề phải xem
xét, bởi vì việc một quốc gia nhập khẩu vốn dài hạn sẽ phải thanh toán các
*) Các giải pháp cân bằng đối với cán cân tổng thể khi ở tình trạng thặng dư
không những không khó mà luôn mang lại những hiệu ứng tích cực, kể cả trong
ngắn hạn và dài hạn
*) Ngược lại, các biện pháp cân bằng khi ở tình trạng thâm hụt không những
khó khăn hơn mà tác động mặt trái thường rất nặng nề, thậm chí có thể mang lại
những hậu quả trong dài hạn
*) Cân bằng cán cân tổng thể cần lựa chọn và thực hiện các giải pháp một
cách hết sức thận trọng.
II. CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1. Thực tế CCTTQT của Việt Nam
1.1. Cán cân thương mại (TB)
Tổng lưu chuyển hàng hoá XNK của Việt Nam giai đoạn từ 2000 – 2008
Triệu USD
Tổng số Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại
30,119.2 14,482.7 15,636.5 -1,153.8
31,247.1 15,029.2 16,217.9 -1,188.7
36,451.7 16,706.2 19,745.6 -3,039.5
45,405.1 20,149.3 25,255.8 -5,106.5
58,453.8 26,485.0 31,968.8 -5,483.8
69,208.2 32,447.1 36,761.1 -4,314.0
84,717.3 39,826.2 44,891.1 -5,064.9
111,326.1 48,561.4 62,764.7 -14,203.3
143,398.9 62,685.1 80,713.8 -18,028.7
Trang 17
Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại 8T/2009
Nhận xét chung:
Cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam luôn có xu hướng thâm hụt
nhất của hàng dệt may Việt Nam với trị giá đạt 3,25 tỷ USD và chiếm tới 55,2%
tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Đứng thứ hai là thị
trường EU với kim ngạch đạt 1,1 tỷ USD, tiếp theo là xuất khẩu sang thị trường
Nhật Bản: 605 triệu USD, Đài Loan: 141 triệu USD, Hàn Quốc: 123 triệu USD,
Canađa: 121 triệu USD,…
- Giày dép các loại: Tính đến hết tháng 8, xuất khẩu nhóm hàng giày dép
của nước ta đạt 2,72 tỷ USD, giảm 12,8% so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó,
thị trường EU là 1,33 tỷ USD, giảm 21% và chiếm 49% tổng kim ngạch xuất
khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là thị trường Hoa Kỳ trị giá xuất
khẩu đạt 697 triệu USD, Mêxicô: 91 triệu USD, Nhật Bản: 83 triệu USD, Trung
Trang 19
Quốc: 62 triệu USD,…
- Hàng thuỷ sản: Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang các đối tác lớn
trong 8 tháng qua như sau: thị trường EU với kim ngạch gần 704 triệu USD,
giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2008; Nhật Bản: 464 triệu USD, giảm 13,7%;
Hoa Kỳ: 448 triệu USD, tăng 4,0%; Hàn Quốc: 189 triệu USD, giảm 10,9%;…
- Dầu thô: Tính đến hết tháng 8, lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam là
9,75 triệu tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù lượng xuất khẩu
tăng so với cùng kỳ năm 2008, nhưng do giá bình quân giảm mạnh tới 51,9%
(tương đương với giảm 456 USD/tấn), nên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này 8
tháng chỉ đạt 4,13 tỷ USD, giảm 48,2%.
Các thị trường chính nhập khẩu dầu thô của nước ta chủ yếu là Ôxtrâylia:
2,5 triệu tấn, Singapore: 1,74 triệu tấn, Malaysia: 1,36 triệu tấn, Nhật Bản: 685
nghìn tấn, Hoa Kỳ: 672 nghìn tấn, Hàn Quốc: 656 nghìn tấn ,…
- Gạo: Tháng 8, lượng gạo xuất khẩu là 417 nghìn tấn, nâng lượng xuất
khẩu mặt hàng này trong 8 tháng lên 4,63 triệu tấn, tăng 41,0% so với cùng kỳ
năm trước. Tính đến hết tháng 8, kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước đạt 2,11
tỷ USD, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm 2008.
Trung Quốc: 150 triệu USD, Singapore: 108 triệu USD, Hà Lan: 107 triệu USD,
…
Nhập khẩu.
* Quy mô và tốc độ.
Tháng 8/2009, trị giá nhập khẩu hàng hoá cả nước là 5,85 tỷ USD, giảm
Trang 21
7,5% so với tháng trước. Trong đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI là 2,19
tỷ USD, giảm 7,0% (tương đương giảm 166 triệu USD).
Số liệu thống kê cho thấy, chỉ có 8 trong số 43 nhóm hàng nhập khẩu có
mức tăng trưởng dương trong tháng 8. Trong đó, nhập khẩu các mặt hàng chủ
lực đều giảm mạnh (trừ sắt thép các loại tăng 10,4%). Cụ thể: xăng dầu giảm
18,8%, máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng giảm 8,2%; chất dẻo giảm
11,3%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 7,2%,…
* Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu.
- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: tổng kim ngạch nhập khẩu 8
tháng năm 2009 là 7,33 tỷ USD, giảm 17,4% so với cùng kỳ 2008.
Nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu vào Việt
Nam trong 8 tháng qua có xuất xứ chủ yếu từ Trung Quốc với 2,4 tỷ USD, giảm
6,7%; Nhật Bản: 1,47 tỷ USD, giảm 19,3%; Hàn Quốc: 521 triệu USD; giảm
21,7%; Hoa Kỳ: 462 triệu USD, tăng 12,6%; so với cùng kỳ năm 2008.
- Sắt thép các loại: Hết 8 tháng/2009, lượng sắt thép nhập khẩu của cả
nước là 6,16 triệu tấn, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm trước với trị giá đạt được
là 3,21 tỷ USD.
Biểu đồ: Lượng, đơn giá bình quân nhập khẩu phôi thép và sắt thép
các loại từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2009
- Thức ăn gia súc và nguyên liệu: Trong tháng, trị giá nhập khẩu nhóm
hàng này là 205 triệu USD, giảm 16,2% so với tháng trước, nâng tổng kim
ngạch nhập khẩu 8 tháng/2009 lên 1,27 tỷ USD, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm
xuất xứ từ Singapore với hơn 3,4 triệu tấn, tiếp theo là Đài Loan: 1,69 triệu tấn,
Trung Quốc: 1,59 triệu tấn, Hàn Quốc: 836 nghìn tấn, Nga: 416 nghìn tấn, Thái
Lan: 350 nghìn tấn
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: nhập khẩu trong tháng
8/2009 là 338 triệu USD, nâng tổng trị giá nhập khẩu 8 tháng/2009 lên 2,29 tỷ
USD, giảm 4,7% so với cùng kỳ 2008.
Tính đến hết tháng 8 năm 2009, Trung Quốc là thị trường dẫn đầu về cung
cấp nhóm hàng này cho nước ta với 842 triệu USD, tăng 2,0% so với 8
tháng/2008. Tiếp theo là Nhật Bản: 494 triệu USD, giảm 5,7%; Đài Loan: 183
triệu USD, giảm 3,4%; Malaysia: 178 triệu USD, giảm 0,7%;
- Chất dẻo nguyên liệu: trong tháng 8/2009 nước ta nhập khẩu 201 nghìn
tấn, giảm 11,3% so với tháng 7/2009 và đạt trị giá là 269 triệu USD. Hết tháng
8/2009, tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của cả nước là 1,44 triệu
tấn, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước và đạt trị giá là 1,73 tỷ USD.
Hết 8 tháng năm 2009, chất dẻo nguyên liệu được nhập khẩu vào Việt Nam
chủ yếu có xuất xứ từ: Hàn quốc : 268 nghìn tấn, tăng 46,7% so với cùng kỳ
2008; Đài Loan: 213 nghìn tấn, giảm 2,4%; Thái Lan: 192 nghìn tấn, tăng 6,7%,
A rập Xê út: 163 nghìn tấn, tăng 79,3%; Singapore: gần 102 nghìn tấn, tăng
3,8%; …
- Phân bón:. Hết 8 tháng/2009, cả nước nhập khẩu 2,85 triệu tấn phân
bón các loại, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2008.
Lượng phân Urê nhập khẩu vào Việt Nam trong 8 tháng qua là 897 nghìn
tấn, phân SA là 741 nghìn tấn, phân DAP gần 705 nghìn tấn, phân Kali là 250
nghìn tấn, phân NPK là 194,5 nghìn tấn.
Mặt hàng phân bón các loại được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất
xứ từ Trung Quốc với 1,13 triệu tấn. Tiếp theo là Nga: 291 nghìn tấn, Ucraina:
202 nghìn tấn, Hàn Quốc: 198 nghìn tấn; Philippin: 193 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 129
nghìn tấn, Đài Loan: 83,8 nghìn tấn,…
Trang 24
Dịch vụ Chính phủ 25 20 80
Dịch vụ khác 130 105 80.8
Nhập khẩu 4414 3256 73.8
Trang 25