Chương 6. THUỐC MỠ I. ĐẠI CƯƠNG
1. Định nghĩa
Theo Dược điển Việt Nam II tập 3: “ Thuốc mỡ có thể chất mền, dùng để bôi lên da hay niêm mạc,
nhằm bảo vệ da hoặc đưa thuốc thấm qua da. Thuốc bôi da là loại thuốc mỡ có chứa một tỉ lệ lớn dược chất
rắn không tan trong tá dược. Kem bôi da có thể chất mền và mịn màng do sử dụng các tá dược nhũ tương
chứa một lượng chất lỏng đáng kể”. Tất nhiên, định nghĩa trên chưa bao gồm hết các loại chế phẩm dùng qua
da để điều trị và phòng bệnh như hiện nay.
2. Phân loại
2.1. Theo thể chất thành phần cấu tạo:
- Thuốc mỡ mền (Unguentum, pomata): Là dạng chủ yếu trước đây, có thể chất mền. Tá dược thường
dùng thuộc nhóm thân dầu hoặc tá dược khan. Ví dụ: Mỡ benzosali (Whitfield), mỡ Flucina, mỡ tra mắt
tetracyclin 1-3%, mỡ tra mắt chlorocid – H
- Thuốc mỡ đặc hay bột nhão bôi da (Pasta dermica): Là dạng thuốc mỡ có chứa một lượng lớn dược
chất rắn ở dạng bột không tan trong tá dược (trên 40%). Tá dược thân dầu như bột nhão Lassar (thành phần
gồm tinh bột, kẽn oxyd, lanolin khan và vaselin). Tá dược thân nước như bột nhão Darier (thành phần gồm
kẽm oxyd, calci carbonat, glycerin và nước tinh khiết).
- Sáp (Cera, unguentum cereum): Là dạng thuốc mỡ có thể chất dẻo do chứa một tỷ lệ lớn các sáp,
các alcol béo cao, parafin hoặc hỗn hợp dầu thực vật và sáp. Ngày nay, chế phẩm loại này ít dùng, nhưng lại
phổ biến trong công nghệ mỹ phẩm - chế tạo son môi.
- Ken bôi da (Creama dermica): Là dạng thuốc mỡ có thể chất mền, rất mịn màng do có chứa một
lượng lớn tá dược lỏng như nước, glycerin, propylen glycol, các dầu thực vật, dầu khoáng, thường có cấu
trúc nhũ tương kiểu N/D hoặc D/N. Thực tế loại này được dùng nhiều hơn cả. Các loại kem thuốc có thể chất
lỏng sánh được gọi là sữa bôi da.
Cách phân loại này không đáp ứng một cách đầy đủ các chế phẩm khác như gel, hệ điều trị qua da.
Một số tài liệu, Dược điển tách riêng các chế phẩm dùng qua da thành từng loại cụ thể, trong đó,
thuốc mỡ chỉ là một dạng thuốc dùng theo đường qua da. Dược điển Mỹ 23 phân loại như sau:
- Thuốc mỡ (Ointmets): Là những chế phẩm có thể chất mền, dùng bôi ngoài da hoặc niêm mạc.
Voltaren Emugel.
2.3. Theo mục đích sử dụng, điều trị:
- Thuốc mỡ dùng bảo vệ da và niêm mạc.
- Thuốc mỡ gây tác dung điều trị tại chỗ: Sát khuẩn, giảm đau
- Thuốc mỡ hấp thu hoặc gây tác dụng điều trị toàn thân: Thuốc có tác dụng phòng bệnh, thuốc mỡ
chứa dược chất là các nội tiết tố, dược chất chống sốt rét, chống phân bào, hạ huyết áp
3. Hệ trị liệu qua da (TTS)
Do những ưu điểm, triển vọng và sự phát triển của dạng thuốc dùng ngoài da và hấp thu qua da,
người ta đã nghiên cứu tìm ra nhiều dược chất và tá dược để chế tạo các chế phẩm hấp thu qua da với mục
tiêu điều trị và phòng bệnh rất phong phú. Các công trình nghiên cứu về sinh dược học, động dược học, quá
trình hấp thu thuốc qua da nhằm tạo ra nhiều chế phẩm có hiệu quả điều trị cao hay nói cách khác là có sinh
khả dụng cao.
Đặc biệt do kết quả nghiên cứu của sinh dược học bào chế các chế phẩm hấp thu qua da đã tạo ra
được hệ trị liệu qua da, trong đó dược chất được giải phóng và hấp thu theo tốc độ xác định.
Cũng có thể định nghĩa như sau: Hệ trị liệu qua da (Transdermal Therapeutic System- TTS) là một
dạng thuốc hấp thu qua da đặc biệt, dùng để dán lên da và gây tác dụng phòng và điều trị bệnh.
Trong TTS, dược chất được hòa tan hoặc phân tán trong cột polymer và đượ giải phóng theo trương
trình qua một màng bán thấm vào nền dính. Nền dính này chứa một liều thuốc giải phóng ngay sau khi đặt hệ
trị liệu để gay tác dụng ban đầu. Tốc độ giải phóng dược chất được khống chế bởi bề dày và bán kính lỗ xốp
của màng bán thấm.
So với đường dùng thuốc qua hệ tiêu hóa, hệ tri liệu qua da có những ưu điểm như sau:
+ Thuốc hấp thu qua da vì vậy trành được những yếu tố ảnh hưởng như: pH của dịch tiêu hóa, thức ăn
trong dạ dày
+ Dược chất hấp thu thẳng vào hệ mạch, tránh được những chuyển hóa qua gan lần đầu có thể bị phân
hủy hoặc giảm hiệu lực điều trị.
+ Do thuốc được dự trữ và giải phóng theo mức độ và tốc độ xác định, cho nên những dược chất có
thời gian bán hủy (t
1/2
) ngắn không còn đáng lo ngại do nồng độ trong máu không đản bảo ngưỡng điều trị.
Nồng độ thuốc luôn luôn được duy trì trong vùng tác dụng điều trị. Cũng vì vậy, rất thích hợp cho những
II THÀNH PHẦN CỦA THUỐC MỠ
1. Dược chất
Bao gồm các loại rắn, lỏng, tan hoặc không tan trong tá dược.
2. Tá dược
2.1. Vai trò của tá dược:
Dưới ánh sáng của sinh dược học, tá dược thuốc mỡ là môi trường phân tán, nó có tác dụng tiếp nhận,
bảo quản, giải phóng dược chất và dẫn thuốc qua da và niêm mạc với tốc độ thích hợp, đảm bảo hiệu quả
điều trị mong muốn. Tá dược thuốc mỡ không chỉ là các chất mang của dược chất mà nó còn là yếu tố tích
cực cho quá trình giải phóng, hấp thu và trị liệu.
2.2. Yêu cầu đối với tá dược:
- Phải có khả năng tạo với các dược chất thành hỗn hợp đồng đều, dược chất dễ đạt độ phân tán cao.
- Phải không có tác dụng dược lý riêng và không cản trở dược chất phát huy tác dụng ,
- Phải có pH trung tính hoặc acid nhẹ, gần giống với pH của da.
- Không cản trở các hoạt động sinh lý bình thường của da, không làm khô và gây kích ứng da.
- Phải giải phóng dược chất với mức độ và tốc độ mong muốn
- Phải bền vững về mặt lý- hóa, không dễ bị hỏng bởi nấm mốc và vi khuẩn
Ngoài ra còn tùy theo mục đích sử dụng của thuốc mỡ (bảo vệ da, gây tác dụng tại chỗ, yêu cầu thấm
sâu ), tình trạng của da và niêm mạc nơi dùng thuốc, tá dược phải đáp ứng thêm những yêu cầu đặc biệt.
2.3. Phân loại tá dược:
Có nhiều cách phân loại, hay dùng hơn cả là phân loại theo thành phần, cầu tạo.
Tóm tắt tá dược thuốc mỡ:
Thân dầu
(Lipophile)
Thân nước
(Hydrophie)
Khan (hấp phụ, nhũ hóa,
hút)
Nhũ
tương
tocopherol, BHA, BHT, các alkyl galat.
Dầu gồm:dầu cá, vừng, lạc, thầu dầu.
Hầu hết các dầu thực vật có thể chất lỏng sánh ở nhiệt độ thường rất dễ bị ôi khét và không dùng
riêng làm tá dược thuốc mỡ. Thường dùng phối hợp với các tá dược mềm hoặc rắn để điều chỉnh thể chất,
tăng tính thấm, để dễ nghiền mịn dược chất rắn và tương dầu trong các tá dược nhũ tương.
Mỡ: Thường chỉ dùng mỡ lợn làm tá dược.
Mỡ lợn (Adep suillus): Cầu tạo bới khoảng 40% olein, 60% stearin, và palmitin, khoảng 0,15 % chất
không xà phòng hóa (cầu tạo chủ yếu bởi cholesterol). Khi mới điều chế mỡ lợn có pH khoảng gần trung tính,
có tác dụng dịu đối với da và niêm mạc, có khả năng thấm cao nên hay được dùng trong các thuốc mỡ có yêu
cầu gây tác dụng mô bì, hạ bì hoặc trên toàn thân.
Mỡ lợn thích hợp với nhiều loại dược chất, trừ kiềm mạnh. Nó có khả năng nhũ hóa khoảng 12-15%
nước, 20% glycerin, 5-10% cồn. Khả năng hút tăng lên khi phối hợp mỡ lợn với các chất có khả năng nhũ
hóa mạnh. Chẳng hạn như: Khi tiêm 5-10% sáp ong, khả năng hút nước tăng lên gấp hai lần, với 5-15%
lanilin khan, tăng 3-10 lần; với 2% alcol cetilic hay 10% cholesterol hoặc 2% glycerin mono oleat, khả năng
này tăng khoảng 30 lần.
Do mỡ lợn rất dễ bị ôi khét vì vậy người ta thường dùng mỡ lợn cánh kiến để bảo quản được lâu hơn.
c. Sáp:Sáp ong (Cera adipis);Spermaceti (Cetaceum, cetin): Là chất rắn màu trắng hoặc mầu trắng
ngà, óng ánh, sờ nhờn tay được lầy từ hốc đầu của loài cá voi Physeter macrocephalum nên còn được gọi là
chất trắng cá voi;Lanolin (Adeps lanea – sáp lông cừu).
Sáp là những sản phẩm có nguồn gốc động, thực vật, thể chất dẻo hoặc rắn, cấu tạo chủ yếu bằng este
phức tạp của các acid béo cao no và không no với các alcol béo cao và alcol thơm.
So với dầu, mỡ: Sáp vững bền ít biến chất, ôi khét hơn. Hay được phối hợp với các tá dươc khác
trong dạng thuốc mỡ nhằm mục đích điều chỉnh thể chất, tăng độ chảy, tăng khả năng hút nước và các chất
lỏng phan cực khác
d. Các dần chất của dầu, mỡ, sáp:
- Các dẫn chất thu được bằng cách làm biển đổi hóa học của dầu, mỡ, sáp: Các dầu, mỡ, sáp,
hydrogen hóa. Để khắc phục các nhược điểm dễ biến chất, ôi khét và khả năng nhũ hóa kém của các dầu, mỡ,
sáp thiên nhiên, đồng thời chủ động tạo ra những chất có thể chất thích hợp để làm tá dược cho thuốc mỡ,
thuốc đặt, người ta đã hydrogen hóa dầu, mỡ, sáp.
Tùy theo nguyên liệu sử dụng, và mức độ hydrogen hóa sẽ thu được các sản phẩm có thể chất mềm
0
.
Parafin không tan trong nước và alcol 96
0
, dễ tan trong ether, benzen, cloroform, dầu béo, tinh dầu,
có thể trôn lẫn với các loại dầu, mỡ, sáp khi đun chảy.
Thường dùng parafin rắn để điều chỉnh thể chất thuốc mỡ với các tá dược cùng nhóm, tỷ lệ thay đổi
từ 1-5%.
Ngoài các tá dược chính thuốc nhóm hydrocarbon no như trên, trong thực tế nhất người ta còn dùng
một số tá dược khác như:
+ Ozokerit: Còn gọi là sáp mỏ hay sáp vô cơ, cấu tạo bới một hỗn hợp các hidrocarbon no có thành
phần phức tạp. Ozokerit có thể chất rắn giống như sáp, màu vàng hoặc trắng tùy theo mức độ tinh khiết.
Loại thật tinh khiết có độ chảy 74-78
0
.
+ Cezerin: Là một chất có thể chất giống sáp, màu vàng ngà hoặc trắng tùy thuốc vào mức độ tinh
khiết. Điểm chảy 61-78
0
- Silicon (polisilosan, silicolemulsion, silicinpaste)
Công thức chung:
R: CH
3
, C
2
H
5
hoặc C
6
H
ngoại và các tác nhân gây kích ứng và làm hại da. Để chế các thuốc mỡ này, thường dùng các cilicon có độ
nhớt trong khoảng từ 350-1000 cps, tỉ lệ kkhoảng 30% phối hợp với vaselin.
Mặt khác do có tính chất bền vững đặc biệt, các silicon được dùng phối hợp với các tá dược khan
trong các công thức thuốc mỡ chứa dược chất không bền vững, dễ bị thủy phân, chẳng hạn như các kháng
sinh. Ngoài ra các silicon được dùng làm tướng dầu trong các nhũ tương. Nhưng cần chú ý là không dùng
silicon làm tá dược cho thuốc mỡ tra mắt vì có thể gây kích ứng niêm mạc mắt.
IV.KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG THUỐC MỠ
1. Kiểm tra tính chất vật lý của thuốc mỡ và tá dược.
1.1. Kiểm tra độ đồng nhất của thuốc mỡ:
Mục đích là kiểm tra sự phân tán đồng đều của dược chất trong tá dược nhất lag những chế phẩm có
cấu trúc kiểu hỗn dịch.
Dược điểm Việt Nam II, tập3 quy đinh phương pháp thử như sau:
Lấy 4 đơn vị đóng gói, mỗi đơn vị 0,02-0,03g trải chế phẩm lên 4 tiêu bản, đặt lên phiến kính. Đậy
mỗi phiến kính bằng một phiến kính thứ 2, và ép mạnh cho đến khi tạo thành một vết 2cm. Quan sát vêt thu
được bằng mắt thường (ở cách mắt khoảng 30cm), ở 3 trong 4 tiêu bản không được nhận nhận thấy các tiểu
phân. nếu các tiểu phân không được nhìn thấy ở trong phần lớn các vết thì phải làm lại ở 8 đơn vị đóng gói.
Trong số các tiêu bản này, các tiểu phân cho phép nhận thấy, không được vượt quá 2 tiêu bản.
1.2. Xác định điểm nhỏ giọt:
D ĐVN quy định: Thuốc mỡ không được chảy lỏng ở nhiệt độ 37
0
C. Ví vậy xác định điểm nhỏ giọt
là cần thiết.
Gọi nhiệt độ mà ở đó nguyên liệu trở thành lỏng, chaỷ thành giọt (trong một điều kiện nhất định) là
điểm nhỏ giọt
1.3. Xác định điểm đông đặc
Dụng cụ dùng để xác định là một bình thủy tinh có 2 thành, giữa 2 thành là khoảng trống.Tiến hành
xác định: Đun nóng chảy nguyên liệu cần kiểm tra ở nhiệt độ cao hơn điểm đông đặc của nó khoảng 15-20
0
vừa đun vừa khuấy đều. Đổ nguyên liệu vào tới ¾ bình. Cắm nhiệt kế vào bình qua một nút lie: Chú ý để
Khả năng giải phóng dược chất ra khỏi tá dược là một trong những yếu tố quyết định mức độ và tốc
độ hấp thu thuốc qua da. Hiển nhiên là khả năng giải phóng dược chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đáng kể
nhất là bản chất của dược chất, tá dược, các chất phụ và phương pháp chế tạo (quy trình sản xuất).
Để đánh giá khả năng giải phóng dược chất ra khỏi tá dược khác nhau, người ta thường sử dụng
phương pháp khuyếch tán qua gel hoặc qua màng.
3.1 Phương pháp khuyếch tán gel:
Cách làm đơn giản, có thể tiến hành và đánh giá trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, biện phpá này chỉ
áp dụng được với các dược chất tạo màu hoặc phức màu với các thuốc thử tan được trong môi trường
khuyếch tán. Chẳng hạn: Acid salycilic tạo màu xanh táim vơi sắt (III) Clorid và vậy có thể dùng phương
pháp khuyếch tán qua gel thạch để đánh giá mức độ và tốc độ giải phóng (một cách tương đối) của acid
salicylic ra khỏi chế phẩm chứa acid salicylic như thuốc mỡ benzosali các kháng sinh nhóm aminoglycosid
tạo phức màu tím với ninhydrrin vì vậy cũng có thể dùng chất này như một chỉ thị khi đánh giá khả năng
khuyếch tán của gentamicin, kanamycin, ra khỏi thuốc mỡ bằng phương pháp khuyếch tán trên mạch.
3.2. Phương pháp khuyếch tán qua màng:
Phương pháp này được áp dụng rông rãi với nhiều dược chất và có thể sử dụng để đánh giá một cách
khá định lượng mức độ và tốc độ giải phóng của dược chất ra khỏi các cốt tá dược khác nhau. Trên cơ sở đó
có thể tiếp tục nghiên cứu ở in vivo và thiết kế các công thức có tác dụng điều trị đúng với mục tiêu mong
muốn.
Để xác định lượng dược chất đợc giải phóng trong từng khoảng thời gian, người ta thường dùng
những phương pháp quang phổ hoặc sắc ký lỏng hiệu năng cao. Từ các kết quả thu được, vẽ độ thị biểu diễn
sự tương quan giưũa lượng dược chất giải phóng theo thời gian, đồng thời có thể tính được bằng số tốc độ
giải phóng dược chất.
Chỉ tiêu giải phóng hoạt chất là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng, đặc bịêt khi nghiên cứu, thiết
kế, chế tạo các hệ trị liệu qua da.
4. Các chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu nói trên, còn cần phải kiểm tra giới hạn chênh lệch khối lượng, hàm lượng dược
chất đối với thuốc mỡ dùng trong nhãn khoa, nếu sử dụng tá dược khan có quy định hàm lượng nước, kích
thước tiểu phân, tìm mảnh kim loại
V. SINH DƯỢC HỌC THUỐC MỠ
1. Đường hấp thu, cơ chế và các giai đoạn của sự hấp thu thuốc qua da
- Ảnh hưởng của nhiệt độ bề mặt da và khả năng giãn mạch.
Số lượng thuốc thấm và hấp thu bởi một đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian là hàm số mũ của
nhiệt độ da. Khi tăng nhiệt độ da (điều kiện bệnh lý, trà sát, băng bó ), sự hấp thu thuốc sẽ tăng lên. Lý do là
khi nhiệt độ tăng (cả nhiệt độ da và nhiệt độ thuốc) sẽ làm giãn mạch, tăng hoạt động tuần hòn làm cho sự
chênh lệch nồng độ hoạt chất trên dưới da sẽ cao. vì vậy làm tăng tốc độ khuyếch tán qua da.Cần lưu ý rằng,
một số tác nhân gây co mạch có thể làm tăng hấp thu qua da.
Điều này có ý nghĩa trong khi hướng dẫn sử dụng thuốc, nhiều chế phẩm, nhất là các gel hoặc kem
chứa hoạt chất chống viêm, cần chú ý chà sát kỹ trước khi bôi thuốc, hằm mục đích tăng khả năng khuyếch
tán và hấp thu dược chất.
- Ảnh hưởng cảu mức độ hydrrat hóa lớp sừng:
Mức hydrrat hóa lớp sừng là một trong những yếu tố rất quan trong đới với sự thấm và hấp thu của
thuốc. Da ẩm (mức độ hydrat hóa cao) làm tăng khả năng hấp thu. Chẳng hạn: Băng bó sau khi bôi
thuôốclmf tăng lượng thuốc hấp thu tới 4-5 lần. Khi da được bão hòa nước, lớp sừng sẽ trương phồng, mềm
ra và dễ dàng cho thuốc thấm qua.
2.2. Ảnh hưởng của các yếu tố công thức kỹ thuật:
2.2.1. Ảnh hưởng của công thức dược chất:
Tính chất lý hóa của dược chất: Là yếu tố có ý nghĩa căn bản đối với sự giải phóng của thuốc ra khỏi
tá dược (cốt thuốc), cả mức độ và tốc độ. Do đó ảnh hưởng tới mức độ và tốc độ hấp thu dợc chất qua da.
Bao gồm một số vấn đề như độ tan, trạng thái kết tính, kích thước tiểu phân, pH, hệ số khuyếch tán, hệ số
phân bố, nồng độ, mức độ phân ly, bản chât hóa học (dẫn chất, đồng phân ).
2.2.2. Ảnh hưởng của tá dược:
Nhiều công trình nghiên cứu về SDH thuốc hấp thu qua da đã chứng minh rằng: Đặc tính của tá dược
có ý nghĩa rất lớn đối với mức độ và tốc độ giải phóng dược chất cùng như mức độ và tốc độ hấp thu dược
chất qua da. Rõ ràng là tùy thuộc vào bản chất của tá dược sử dụng, có thể làm thay đổi SKD của thuốc.
Tá dược thuốc mỡ có ảnh hưởng tới quá trình hydrat hóa lớp sừng, nhiệt độ bề mặt da, độ bám dính
thuốc lên da. Mặt khác, rất nhiều trường hợp độ tan, hệ số phân bố, hệ số khuyếch tán của dược chất cũng
chịu ảnh hưởng của tá dược. Mức độ ion hóa của các dược chất mang tính acid yếu hoặc base yếu cũng như
sự hấp hu dược chất của các chất không ion hóa phụ thuộc vào ph của tá dược. Những thuộc tính này dẫn tới
làm thay đổi độ tan, tốc độ hòa tan của dược chất, da đó ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ giải phóng hoạt
chất cũng như mức độ hấp thu thuốc qua da.