Báo cáo "Thực trạng, thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển du lịch ở Việt Nam" - Pdf 16

Luận văn
Thực trạng, thuận lợi, khó khăn
và giải pháp phát triển du lịch ở
Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA
DU LỊCH VIỆT NAM
1.1. Khái quát về sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam trước khi hội nhập
WTO
1.2. Sự phát triển du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
CHƯƠNG II : NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI DU LỊCH
VIỆT NAM HỘI NHẬP THẾ GIỚI
2.1. THUẬN LỢI
2.1.1 Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng
2.1.2 Chính sách khuyến khích phát triển du lịch của Nhà nước
2.1.3 Thị trường du lịch ngày càng được mở rộng
2.1.4 Các loại hình du lịch ngày càng đa dạng hóa và phát triển hơn
2.2 KHÓ KHĂN
2.2.1 Khó khăn trong quy hoạch
2.2.2 Khủng hoảng kinh tế, kinh tế suy thoái, dịch bệnh, thiên tai.
2.2.3 Ý thức người dân và việc bảo vệ môi trường
2.2.4 Nhân lực cho ngành du lịch chưa đạt yêu cầu
2.2.5 Công tác marketing chưa được triển khai toàn diện
2.2.6 Chính sách của Nhà nước
CHƯƠNG
III:
NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN
NGÀNH
DU
LỊCH Ở VIỆT

khắc phục được những hạn chế, nhanh chóng đưa du lịch phát triển đúng với
tiềm năng của đất nước, nhanh chóng hội nhập với du lịch khu vực và thế
giới.
Bài thảo luận của nhóm em đề cập đến những nhận thức cơ bản về
"Thực trạng, thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển du lịch ở Việt
Nam". Do sự hạn chế về kiến thức và thời gian nên không tránh khỏi những
thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của cô giáo.
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA DU LỊCH
VIỆT NAM
1.1. Khái quát về sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam trước khi hội
nhập WTO
1.1.1 Lịch sử hình thành ngành du lịch
Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho
lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5/6/1951.
Chuyển tiếp sang thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành
việc phát triển các tiện nghi du lịch trong nước ở phía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng
cường hợp tác quốc tế như việc gửi phái đoàn tham dự Hội nghị Du lịch Quốc tế
ở Brussel năm 1958.
Năm 1961 Nha Du lịch cổ động du lịch "Thăm viếng Đông Dương"với ba chí
điểm: Nha Trang, Đà Lạt và Vũng Tàu. Vì chiến cuộc và thiếu an ninh ngành du
lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn cố nâng đỡ kỹ nghệ du lịch như việc phát
hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm 1974.
Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du
lịch Việt Nam được tính là ngày 09/7/1960.
Ngày 9/4/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành
lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam.
Ngày 26/10/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục
Du lịch.
Ngày 25/12/2002 Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về

* N ăm 2004 : Trong tháng 12 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng
283.626 lượt người. Cả năm 2004, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt
2.927.876 lượt người, tăng 20,5% so năm 2003.
* Năm 2005: Trong tháng 12/2005 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt
308.257 lượt. Trong cả năm 2005 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt
3.467.757 lượt, tăng 18,4% so với năm 2004.
* Năm 2006: Trong tháng 12/2006 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt
324.625 lượt. Tổng cộng trong 12 tháng lượng khách quốc tế ước đạt 3.583.486
lượt, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2005.

Lượng khách du lịch (bao gồm của khách quốc tế và nội địa) tăng không ngừng
từ 250.000 khách quốc tế năm 1990 lên hơn 3,58 triệu lượt khách vào năm 2006.
Thu nhập từ du lịch năm 1990 đạt 13 ngàn tỷ đồng, đến năm 2006, thu nhập từ du
lịch đạt 51 nghìn tỷ đồng.
• Khẩu hiệu ngành du lịch
2001-2004: Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới
2004-2005: Hãy đến với Việt Nam
2006 - nay: Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn
1.2. Sự phát triển du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều lĩnh vực kinh tế khác
và những thuận lợi khi Việt Nam gia nhập WTO thì ngành du lịch Việt nam đã
khởi sắc và ngày càng có tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội của đất
nước. Số doanh nghiệp du lịch tăng đặc biệt là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch với
sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế đã phát huy được hiệu quả tích cực góp
phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch.
• Sự phát triển đó được thể hiện dựa trên các số liệu về lượng du khách,
doanh thu và các hoạt động về du lịch mà Việt Nam đã tổ chức được.
*Năm 2007: Nước ta lần đầu tiên đạt 4,23 triệu lượt khách quốc tế. GDP du lịch
chiếm khoảng 4% GDP cả nước (theo cách tính của WTO thì con số này là 9%).
Trong tháng 12/2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 354.000 lượt.

tổ chức các lễ hội như Liên hoan Văn hóa Du lịch biển, lễ hội "Gặp gỡ Bà
Nà"
• Thi hoa hậu du lịch 2008
• Hoa hậu Hoàn vũ quốc tế tại thành phố Nha
• Diễn đàn du lịch các nước ASEAN và TRAVEX 2009: Đây là sự kiện
thường niên về du lịch có uy tín và quy mô lớn nhất trong khu vực.
*Năm 2009: Trong tháng 12, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 376,400
lượt. Tính chung cả năm 2009, lượng khách quốc tế ước đạt 3.772.359 lượt, giảm
10,9% so với năm 2008.
Các hoạt động du lịch tiêu biểu năm 2009 là:
• Diễn đàn Du lịch ASEAN 2009 (ATF-09). Chương trình kích cầu du
lịch "Ấn tượng Việt Nam".
• 10. Vịnh Hạ Long vào vòng chung kết Cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên
nhiên của thế giới. Vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế) được công nhận
và xếp hạng vịnh đẹp thế giới.
• Năm Du lịch Tây Nguyên với chương trình Lễ hội Festival hoa Đà Lạt
năm 2009.
• Lễ hội cồng chiêng Gia Lai
• Lễ hội cà phê Đắc Lắc lần thứ 2
• Lễ hội Rượu trắng Đắk Nông; Cuộc thi pháo hoa Quốc tế tại Đà Nẵng
• Lễ hội biển Nha Trang
• Những ngày văn hóa du lịch Mê Công - Nhật Bản ở Cần Thơ
• Đại hội Thể thao trong nhà châu Á lần thứ 3
• Hội chợ thực phẩm và khách sạn TP Hồ Chí Minh
• Chương trình "3 nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia - một điểm đến" tại
TP Hồ Chí Minh.
* Tính đến tháng 8/ 2010: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt
427.935 lượt, tăng 37,7% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung 8 tháng
năm 2010 ước đạt 3.348.456 lượt, tăng 35,2% so với cùng kỳ năm 2009.
• Năm 2010 cũng diễn ra nhiều sự kiện quan trọng:

Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam
Á, vừa có biên giới lục địa, vừa có hải giới rộng lớn, là cửa ngõ đi ra Thái
Bình Dương của một số nước và của vùng Đông Nam Á. Nước ta nằm ở vành
đai nhiệt đới bắc bán cầu, đúng vào khu vực gió mùa Đông Nam Á, do đó,
mang lại đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Châu Á. Nhờ đó mà Việt Nam
có hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng. Việt Nam còn có những danh
thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như vịnh Hạ
Long, phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong
Nha- Kẻ Bảng ngoài ra còn có di sản văn hoá thế giới phi vật thể là nhã nhạc
Huế. Chúng ta còn thu hút du khách nước ngoài bằng hàng loạt các điểm du
lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền tổ quốc: Bản Gốc, Mẫu Sơn, Sa Pa, Thác
Mơ, hồ Ba Bể, vườn quốc gia Ba Vì, Mai Châu, Tam Cốc- Bích Động, Cát
Tiên, khu ngập nước Văn Long, Bà Nà, Đồng Tháp Mười, địa đạo Củ Chi, U
Minh… Hiện nay, du lịch sinh thái đang được nhiều du khách quan tâm nên
đây là điều kiện tốt để du lịch Việt Nam khai thác tiềm năng sẵn có. Mặt khác
lãnh thổ nước ta kéo dài từ Bắc vào Nam tiếp giáp với biển cũng tạo cho
chúng ta những bãi biển cát mịn và đẹp như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Sầm
Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu…
Ngoài những thắnh cảnh tươi đẹp, Việt Nam còn có rất nhiều các làng
nghề, lễ hội truyên thống. Tiềm năng phát triển du lịch làng nghề truyền thống
của nước ta rất lớn, mỗi làng nghề gắn với một vùng văn hoá, hệ thống di tích
và truyền thống riêng, với cung cách sáng tạo sản phẩm riêng của mình. Du
khảo hết các làng nghề truyền thống, du khách có thể thấy rõ bản sắc cũng
như đặc trưng của bộ mặt nông thôn Việt Nam. Hiện nay, cả nước đã có hơn
2000 làng nghề thủ công thuộc 11 nhóm nghề chính như: cói, sơn mài, mây
tre đan, gốm sứ, thêu ren, dệt, gỗ, đá, giấy, tranh dân gian. Đi dọc Việt Nam
du khách có thể thấy nhiều vùng quê mà mật độ làng nghề truyền thống dày
đặc rải từ bắc vào nam. Những cái nôi của làng nghề là Hà Nôi, Hà Tây,
Hả
i

phụ

thuộ
c vào cách làm của
chúng ta.
2.1.2 Chính sách khuyến khích phát triển du lịch của Nhà nước
Những năm gần đây du lịch đã được nhà nước chú trọng phát triển bởi tiềm
năng lợi ích mà du lich mang lại là rất lớn.
- Giao thông thuận tiện giúp du khách thuận tiện đi lại và giảm chi phí đi
lại, nhiều công trình như đường hầm, cáp treo được xây dựng.
- Các di tích, di sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển được tôn tạo, bảo tồn
và phát triển.
- Nhiều khu vui chơi, giải trí được xây dựng tại các địa điểm du lich hấp dẫn.
- Có chính sách phát triển du lịch cho từng địa phương.
- Tổ chức các sự kiện , các chương trình lớn kích cầu về du lịch.
- Mở trường , mở khoa đào tạo về khách sạn du lịch.
- Tạo dựng hình ảnh , quảng bá văn hóa , thắng cảnh của Việt Nam ra thế
giới nhằm thu hút khách quốc tế.
2.1.3 Thị trường du lịch ngày càng được mở rộng
Đời sống của nhân dân hiện nay ngày càng được nâng cao vì thế nhu cầu về du
lịch ngày càng nhiều, hơn thế nhận thức của người dân cũng cao hơn, mong muốn
có sức khỏe tốt, muốn khám phá thế giới, vui chơi giải trí. Cuộc sống thành thị ồn
ào, ngột ngạt, căng thẳng cũng khiến con người ta có nhu cầu tìm đến những nơi
trong lành, thoải mái, yên tĩnh
Việc quảng bá hình ảnh Việt Nam cũng tạo thuận lợi cho việc chúng ta khai
thác thị trường ngoài nước góp phần tăng nguồn ngoại tệ và phát triển thương
hiệu du lich Việt Nam.
2.1.4 Các loại hình du lịch ngày càng đa dạng hóa và phát triển hơn.
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được thiên nhiên ban tặng nguồn
tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng với những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng.

vượt bậc cũng có nghĩa đã đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu du lịch của khách
trong nước cũng như khách quốc tế.
2.2 KHÓ KHĂN
2.2.1 Khó khăn trong quy hoạch
Được coi là điểm sáng của năm 2005 tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức
cao (trên 20%), thu hút hơn 3,4 triệu khách quốc tế và 16 triệu khách nội địa. Tuy
nhiên, so với các nước trong khu vực, số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam vẫn
còn nhỏ bé.
“Hiện chúng ta đang thiếu các điểm du lịch quy mô, “ra tấm ra miếng”. Thực
trạng đầu tư manh mún, nhỏ lẻ, chạy theo số lượng mà không chú ý đến tính
chuyên nghiệp” - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Phạm Từ thừa nhận,
“một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do qui hoạch du lịch
tổng thể, chi tiết từng vùng chưa được thực hiện tốt”.
Vấn đề đặt ra là nêu chúng ta không có biện pháp quy hoạch ngay thì liệu một
thời gian nữa còn có chỗ mà quy hoạch không và du lịch có thật sự được phát
triển .
2.2.2 Khủng hoảng kinh tế, kinh tế suy thoái, dịch bệnh, thiên tai.
Năm 2009, khủng hoảng kinh tế toàn cầu điều đó ảnh hưởng rấ lớn tới các
nước lớn, chi tiêu của người dân hạn hẹp vì thế mà lượng khách nước ngoài đến
Việt Nam giảm sút, khách du lịch trong nước cũng theo đà giảm theo. Điều đó
khẳng định tình hình kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của du lịch
Hơn thế nữa, cùng với sự nóng lên của trái đất làm cho dịch bệnh và thiên tai
hoành hành ở nhiều nơi không những làm hư hại tài nguyên du lịch mà còn hạn
chế lượng khách du lịch tơi các nơi thiên tai, dịch bệnh do e ngại về sự an toàn và
sức khỏe của họ.
2.2.3 Ý thức người dân và việc bảo vệ môi trường
Hiện nay có một tình trạng là khách du lịch đi đến các điểm du lịch xả rác bừa
bãi gây mất cảnh quan và ô nhiễm môi trường, trước tình hình đó ngành du lịch
phải có biện pháp cụ thể để ngăn chặn nếu không sẽ để lại hình ảnh xấu trong
mắt khách du lịch quốc tế và ảnh hưởng tới môi trường sống .

Trong khi nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu thì sự
sắp xếp bộ máy cán bộ không hợp lý, rườm rà gây ra lãng phí rất nhiều nhân
lực. Do đó, kiện toàn sắp xếp lại đội ngũ cán bộ là một đòi hỏi cần phải giải
quyết ngay.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo mới ở các trường và đào tạo lại, bồi
dưỡng ở các cơ quan, doanh nghiệp, mặc dù đã được đầu tư xây dựng, trang bị
mới và nâng cấp nhưng vẫn thiếu, không đồng bộ, nhất là ở các cơ sở đào tạo mới
tham gia vào đào tạo du lịch. Đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên du
lịch hạn chế về số lượng, chất lượng. Đặc biệt, thiếu giáo viên tay nghề cao. Số
giảng viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ không nhiều. Phương pháp đào tạo nặng
về lý thuyết, độc thoại. Lực lượng giáo viên cơ hữu mỏng và rất khác nhau giữa
các trường. Các trường ngoài công lập và trường mới thành lập có mở ngành du
lịch tỷ lệ giáo viên cơ hữu rất thấp, thường dưới 50% .
2.2.5 Công tác marketing chưa được triển khai toàn diện
Hoạt động Marketing cho ngành du lịch bao gồm rất nhiều hoạt động từ
xúc tiến quảng cáo ở nước ngoài cho tới thu thập thông tin về các thị trường và
khách hàng tiềm năng và hiện tại, thúc đẩy từng loại hình và dịch vụ du lịch.
Chúng ta chưa đầu tư đầy đủ vào hoạt động marketing giới thiệu về Việt Nam
như một điểm đến của du lịch ở nước ngoài và vẫn chưa có được một chiến lược
để khai thác tối đa tiềm năng du lịch của Việt Nam. Mặc dù có các chương trình
khuyếch chương ở trong nước nhưng các chương trình này không giúp thu hút
được được khách du lịch mới đến Việt nam vì chúng hướng vào những khách du
lịch đang ở Việt Nam rồi. Hơn nữa, hoạt động xúc tiến quảng cáo ở Việt Nam
như các bảng hiệu ở các thành phố hay trục đường cao tốc lại không nêu được
những địa chỉ cụ thể trong nước mà chỉ tập trung giới thiệu chung về đất nước.
Các công ty đơn lẻ hay một số công ty cùng nhau cố gắng xây dựng hình ảnh Việt
Nam trở thành một điểm đến nhưng những nỗ lực của họ vẫn chưa đáp ứng được
các tiêu chuẩn quốc tế. Thailand và Singapore đã thực hiện những chiến lược
marketing đồng bộ trong đó bao gồm cả việc thành lập và hoạt động một số văn
phòng du lịch ở nước ngoài - những văn phòng này còn góp phần thúc đẩy sự hợp

doanh du lịch nội địa gặp phải khó khăn nêu trên khi họ ký kết hợp đồng với các
công ty du lịch quốc tế để cung cấp dịch vụ cho khách đã buộc họ phải hợp tác
với các doanh nghiệp nhà nước (được phép hợp tác với các tổ chức du lịch quốc
tế).
Vấn đề về tính hợp pháp của hợp đồng cũng rất quan trọng bởi trên lý
thuyết các công ty có thể xin cấp phép hoạt động quốc tế, tuy vậy trên thực tế
những giấy phép này hiếm khi được cơ quan cáp phép phê duyệt. Có công ty du
lịch nội địa đã thâm nhập được vào thị trường Đông Dương nhưng đã phải đợi
tám năm để xin được giấy phép hoạt động quốc tế. Để giải quyết tình thế này,
nhiều chủ đầu tư nước ngoài đã thành lập nhiều công ty Việt Nam và hoạt động
như những công ty du lịch quốc tế. Điều này dẫn tới hậu quả có một khoảng cách
rất lớn trong khu vực tư nhân giữa những công ty có giấy phép, giữa các công ty
hoạt động du lịch quốc tế hợp lệ và những công ty hoạt động không hợp lệ. Còn
gây ra thêm nhiều vấn đề khi các khách du lịch gặp khó khăn.
Ngoài ra một yêu cầu chưa thành văn bản đối với các giấy phép kinh doanh
du lịch quốc tế là mỗi năm, mỗi công ty phải chứng tỏ mình đã bán được tour du
lịch cho không dưới 2.000 khách trong mỗi chương trình chọn gói. Trong điều
kiện các công ty trong nước bị cấm kinh doanh với khách quốc tế, hầu hết các
công ty đều thấy không thể thực hiện được yêu cầu này.
CHƯƠNG
III
NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT
TRIỂN NGÀNH
DU
LỊCH Ở VIỆT
NAM
3.1 Các giải pháp kinh tế
3.1.1) Giải pháp quy hoạch
Quy hoach du lịch là một hoạt động cơ bản đối với tất cả các khu vực
nơi đến du lịch, đặc biệt trong môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi như

phương diễn ra đã làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường du lịch, làm ô nhiễm
môi trường, các di tích, danh lam bị xuống cấp… Nhà
nướ
c c
ần
phải đưa ra
quy hoạch vùng du lịch, quy hoạch khu du lịch và quy hoạch điểm du lịch
một cách cụ thể để các địa phương có định hướng và khai thác khu du lịch
một cách hiệu quả nhất.
2.1.2) Giải pháp về sắp xếp lại hệ thống tổ chức sản xuất kinh
doanh du lịch
Để có thể thực hiện thành công chiến lược phát triển du lịch giai đoạn
2001-2010, cần kiện toàn bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý tương ứng chức
năng, nhiệm vụ của một ngành kinh tế mũi nhọn và yêu cầu của sự phát triển
trong xu thế hội nhập quốc tế.
Đổi mới phương pháp quản lý, chú trọng hiệu quả nhiều mặt tạo điều
kiện thuận lơi cho hoạt động kinh doanh du lịch và khách du lịch theo pháp
luật; xây dựng và áp dụng một số chính sách nhằm nâng cao năng lực của các
doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là năng lực tạo ra các sản phẩm du lịch có chất
lượng cao, khả năng cạnh tranh cao khi nước ta đang chuẩn bị ra nhập WTO,
ban hành các quy định để điều chỉnh hoạt động của các loại hình du lịch mới,
các quan hệ phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế
Các nhiệm vụ được đặt ra:
- Kiện toàn hệ thống quản lý nhà nước về du lịch
- Sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, hình thành các công ty
hoặc tổng công ty mạnh, tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
trong hoạt động du lịch. Đa dạng hoá sở hữu tiến hành cổ phần hoá các
doanh nghiệp du lịch để tăng trách nhiệm, năng lực cạnh tranh ở từng doanh
nghiệp. Thành lập hiệp hội du lịch Việt Nam.
- Gắn mô hình tổ chức đổi mới quản lý với yêu cầu bảo đảm tính

và phát huy các quan hệ song phương, ký tiếp một số hiệp định mới.
Chủ động tham gia hợp tác đa phương trong khu vực và quốc tế, khai
thác tốt quyền lợi hội viên và thực hiện các nghĩa vụ của mình. Hướng dẫn và
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch, giải pháp để thực hiện
các cam kết quốc tế trong du lịch nói riêng và trong hợp tác kinh tế quốc tế
nói chung, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, tăng thị phần trên thị
trường truyền thống, nâng dần vị thế trên thị trường mới. Khuyến khích hỗ trợ
các doanh nghiệp và các cá nhân Việt Nam đầu tư du lịch
ra

nướ
c ngoài.
Bên cạnh việc chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế để mở rộng thị
trường cho du lịch, ta cần xúc tiến quảng bá du lịch để nâng cao hình ảnh và
vị thế của du lịch Việt Nam. Công tác quảng bá tiếp thị còn bộc lộ nhiều hạn
chế, nhà nước cần đầu tư vốn nhiều hơn, tổ chức các chiến dịch quảng bá du
lịch tầm cỡ quốc gia ra nước ngoài, mở các văn phòng đại diện du lịch quốc
gia tạo thuận lợi cho người
nướ
c
ngoài
tiếp cận và mở rộng hợp tác du lịch,
phát triển các loại hình du lịch mới như du lịch mạo hiểm, du lịch
carnavan…để tăng cường lượng khách du lịch dến Việt Nam.
Để mở rộng thị trường du lịch cần thực hiện những vấn đề sau:
- Có kế hoạch cụ thể khai thác thị trường quốc tế trọng điểm ở khu
vực Đông Á- Thái Bình Dương, Tây Âu, Bắc Mỹ bên cạnh đó khôi phục khai
thác các thị trường truyền thống các nước
SNG,


- Gắn giáo dục và đào tạo du lịch với hệ thống giáo dục và đào tạo
quốc gia và chú
trọng

giáo
dục du lịch toàn dân.
Thực hiện đầy đủ và nghiêm túc chính sách cán bộ từ quy hoạch,
tuyển dụng, sắp xếp, sử dụng và quản lý đến đãi ngộ…chú trọng từng bước
trẻ hoá đội ngũ cán bộ, kết hợp ưu tiên sử dụng
cán

bộ
có kiến thức, trình độ
tay nghề, ý thức chính trị và kinh nghiệm cao, đảm bảo tính kế thừa. Đặc biệt
chú trọng đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân
tài, chuyên gia và nghệ nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch.
3.1.5 ) Giải pháp về khoa học công nghệ
Nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ là giải pháp
quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với du lịch, đặc biệt trong bối cảnh hiện
nay khi hàm lượng khoa học và công nghệ trong mỗi sản phẩm xã hội ngày
càng cao, nước ta đang bước vào phát triển nền kinh tế tri thức. Các sản phẩm
nghiên cứu khoa học sé là cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển ngành du
lịch, hoạch định các chiến lược thị trường, đa dạng hoá và nâng cao chất
lượng sản phẩm, cho việc đề xuất các cơ chế chính sách
phù
hợp và cho công
tác quản lý. Việc nâng cao ứng dụng thành tựu mới của công nghệ thông tin
đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với công tác quản lý mà còn đối với các
hoạt động kinh doanh du lịch,
tuyên

3.2.1 ) Giải pháp về đầu
t
ư
Đầu tư du lịch là đầu tư phát triển, nhằm tăng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho một ngành kinh t
ế


i nhọn, vì vậy cần tạo ra chuyển biến tích cực trong
công tác đầu tư và phát triển du lịch với những chính sách ưu đãi, hướng đầu
tư vào những điểm còn hạn chế của du lịch Việt Nam và hỗ trợ các hướng
phát triển ưu tiên trong việc xây dựng các khu, tuyến điểm du lịch trong việc
tôn tạo cảnh quan, môi trường, di tích lịch sử, văn hoá… Đồng thời đầu tư để
nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất tạo sự thuận lợi trong đi lại và nghỉ ngơi cho
du khách khắc phục tình trạng thiếu xe tốt, thiếu những khách sạn đạt tiêu
chuẩn…
- Đảng và nhà nước cần tập trung đánh giá đúng thực trạng công
tác đầu tư du lịch để từ đó có sự điều chỉnh trong đầu tư, tránh đầu tư dàn trải,
không hợp lý.
- Chú trọng ưu tiên xúc tiến đầu tư phát triển các khu du lịch tổng
hợp có ý nghĩa quốc gia và quốc tế, các khu, điểm du lịch sinh thái, du lịch
văn hoá.
- Đầu tư hợp lý, nâng cấp và phát triển các điểm tham quan du
lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành, nâng cao chất lượng và tạo các sản
phẩm du lịch mới, đầu tư cho công tác xúc tiến quảng bá du lịch, xây dựng hệ
thống các trường đào tạo nghề du lịch, tăng cường đội ngũ cán bộ nghiên cứu,
cán bộ giảng dạy, cán bộ xúc tiến quảng bá du lịch…
- Ưu tiên đầu tư đối với các địa bàn trọng điểm là Hà Nội và phụ
cận, Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lat, Vũng Tàu,
Côn Đảo, thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận…với một số dự án cụ thể cho 4

Nhà nước cần có những ưu tiên thuế nhập khẩu với thuế suất bằng
thuế suất nhập tư liệu sản xuất đối với trang thiết bị khách sạn, cơ sở vui chơi
giải trí, phương tiện vận chuyển khách du lịch, vật tư phục vụ du lịch mà
trong nước chưa sản xuất được hoặc không đáp ứng được yêu cầu hiện đại
hoá cơ sở du lịch theo nhu cầu du khách, ưu tiên, miễn giảm, cho chậm nộp
thuế, giảm tiền thuê dất, lãi suất ưu tiên vốn vay đầu tư đối với các dự án ưu
tiên và tại các vùng trọng điểm phát triển du lịch, khu du lịch quốc gia, có chế
độ hợp lý về thuế, về giá điện, nước trong kinh doanh khách sạn, rà soát điều
chỉnh
phương

pháp
tính thuế, các loại phí, lệ phí, các hình thức vé liên quan
đến du lịch, áp dụng thống nhất chính sách một giá trong cả nước. Hoạt động
du lịch là hoạt động xuất khẩu tại chỗ, do đó cho phép kinh doanh du lịch
quốc tế được hưởng các chế độ ưu đãi khuyến khích xuất khẩu.
3.3 ) Giải Pháp điều kiện
Pháp lệnh du lịch ra đời đã mở đường cho các doanh nghiệp tham gia
khai thác du lịch, đã tạo điều kiện cơ sở để khai thác tốt hơn tiềm năng, thế
mạnh về du lịch của đất nước. Tuy nhiên, cần có một văn bản về luật du lịch
thống nhất quy định tõ ràng những yêu cầu đối với các đơn vị tham gia trong
ngành du lịch cùng với các nghị định về khu, tuyến, điểm du lịch để các thành
phần kinh tế có thể bình đẳng tham gia kinh doanh du lịch. Do đó việc sửa đổi
và bổ xung luật du lịch phải luôn được tiến hành để tạo được mặt bằng pháp
lý đầy đủ giúp việc phát triển của du lịch được thuận lợi.
Tiếp tục đơn giản hoá các thủ tục hành chính tránh tình trạng mất
nhiều thời gian gây
khó

khăn

nhà nước không ngừng đưa ra những chính sách để khắc phục những hạn chế.
Phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành khác và ngược lại.
Nhờ đó nền kinh tế nước ta mới có thể phát triển nhanh chóng, đủ sức hội
nhập với khu vực và thế giới đưa đất nước trở thành
mộ
t
nướ
c công nghiệp
vao năm 2020 và trở thành một nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu khu
vực
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Đỉnh - Trần Thị Minh Hoà - Giáo trình Kinh tế Du lịch
- NXB Lao động - xã hội.
2. Tạp chí Du lịch năm 2005 - Công ty Du lịch Việt Nam.
3. Vũ Đức Minh - Tổng quan về Du lịch - NXB Giáo dục 1999.
4. Thời báo kinh tế Việt Nam
5. Luật du lịch Việt Nam
6. Tạp chí du lịch Việt Nam
7. http://www.vietnamtourism.gov.vn/
8. http://vi.wikipedia.org
9. http://www.dulichviet.com.vn
10.http://www.vietnamtourism.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status