Thực trạng, thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển du lịch ở Việt Nam - Pdf 85

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có
nhu cầu đầy đủ về vật chất mà còn có nhu cầu được thoả mãn về tinh thần như
vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành có triển
vọng.
Ngành du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên
thế giới nhưng vai t

c

a nó thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành
“công nghiệp không có ống khói”, mang lại
thu

nhập
GDP lớn cho nền kinh
tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá
hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới. Nhận thức được điều này, Đảng và nhà
nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi
nhọn.
Việc nghiên cứu về du lịch trở nên cấp thiết, nó giúp chúng ta có một
cái nhìn đầy đủ, chính xác về du lịch. Điều này có ý nghĩa cả về phương diện
lí luận và thực tiễn. Nó giúp du lịch Việt Nam đạt được những thành tựu mới,
khắc phục được những hạn chế, nhanh chóng đưa du lịch phát triển đúng với
tiềm năng của đất nước, nhanh chóng hội nhập với du lịch khu vực và thế
giới.
Bài thảo luận của nhóm em đề cập đến những nhận thức cơ bản về
"Thực trạng, thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển du lịch ở Việt
Nam". Do sự hạn chế về kiến thức và thời gian nên không tránh khỏi những
thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của cô giáo.
CHƯƠNG I

nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc
khu. Tháng 6 năm 1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc
Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Du lịch .
Trong giai đoạn này, du lịch đã góp phần tích cực tuyên truyền giới thiệu về
đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới và tổ chức cho nhân dân đi du
lịch giao lưu hai miền Nam - Bắc, thiết thực góp phần giáo dục tinh thần yêu
nước, tinh thần tự hào dân tộc. Ngành Du lịch đã phát triển thêm một bước, hoạt
động có kết quả tốt, đặt nền móng cho ngành Du lịch bước vào giai đoạn mới.
Giai đoạn từ 1990 đến nay: Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước ngành Du
lịch đã khởi sắc, vươn lên đôi mới quản lý và phát triển, đạt được những thành
quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định
vai trò, vị trí của mình. Năm 2001 đến 2007, tuy phải đối mặt với rất nhiều khó
khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do năng
động, cố gắng vượt khó, chủ động áp dụng các biện pháp tháo gỡ táo bạo, kịp
thời, nên lượng khách và thu nhập hàng năm vẫn tăng trưởng 2 con số.
• Dưới đây là số liệu thống kê về một số chỉ tiêu trong du lịch trong giai
đoạn từ 1990 đến 2006:
* Năm 1990: cả nước chỉ có 350 cơ sở lưu trú du lịch với 16.700 buồng, thu
nhập xã hội từ du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng, chỉ đón hơn 200.000 lượt khách
quốc tế, cả khách quốc tế và nội địa là 250.000
*Giai đoạn từ 1995 đến 2003: lượng khách quốc tế đến Việt Nam du lịch tăng từ
610.000 lên 1.238.500 lượt khách.
* N ăm 2004 : Trong tháng 12 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng
283.626 lượt người. Cả năm 2004, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt
2.927.876 lượt người, tăng 20,5% so năm 2003.
* Năm 2005: Trong tháng 12/2005 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt
308.257 lượt. Trong cả năm 2005 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt
3.467.757 lượt, tăng 18,4% so với năm 2004.
* Năm 2006: Trong tháng 12/2006 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt
324.625 lượt. Tổng cộng trong 12 tháng lượng khách quốc tế ước đạt 3.583.486

Hội chợ Du lịch chủ đề "3 quốc gia, 1 điểm đến"
• Chương trình vận động bầu chọn cho vịnh Hạ Long
• Khảo sát xây dựng sản phẩm, các tour du lịch mới
• Festival hoa Đà Lạt thành công
• Bùng nổ các dự án đầu tư FDI vào du lịch
• Mười năm hoạt động của trang web ngành
• Khách du lịch đến miền Trung tăng trưởng cao.
* Năm 2008:Trong tháng 12/2008 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt
375.995 lượt. Tổng cộng trong cả năm 2008 lượng khách quốc tế ước đạt
4.253.740 lượt, tăng 0,6% so với năm 2007.
Những sự kiện tiêu biểu năm 2008 là:
• Năm du lịch miệt vườn: Sự kiện chủ đạo, xuyên suốt về du lịch năm 2008
là Du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long. Đến với Cần Thơ, du khách
thăm vùng châu thổ trù phú, sông rạch chằng chịt với hệ sinh thái đa dạng,
những di tích văn hóa phong phú của cộng đồng dân tộc Hoa, Khmer,
Chăm.
• Du lịch về cội nguồn: Đây là năm thứ tư, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai phối
hợp tổ chức du lịch về cội nguồn, quảng bá các sự kiện văn hóa du lịch độc
đáo của vùng.
• Festival Huế 2008
• Bầu chọn Vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới.
• Bắn pháo hoa quốc tế dọc hai bên bờ sông Hàn vào thời điểm TP Đà Nẵng
tổ chức các lễ hội như Liên hoan Văn hóa Du lịch biển, lễ hội "Gặp gỡ Bà
Nà"...
• Thi hoa hậu du lịch 2008
• Hoa hậu Hoàn vũ quốc tế tại thành phố Nha
• Diễn đàn du lịch các nước ASEAN và TRAVEX 2009: Đây là sự kiện
thường niên về du lịch có uy tín và quy mô lớn nhất trong khu vực.
*Năm 2009: Trong tháng 12, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 376,400
lượt. Tính chung cả năm 2009, lượng khách quốc tế ước đạt 3.772.359 lượt, giảm

từ 4,5 đến 4,6 triệu lượt khách quốc tế, tăng từ 18 đến 21% so với năm 2009;
Lượng khách nội địa trong năm 2010 sẽ đạt khoảng 28 triệu lượt khách.

Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ngày càng phát triển và đa dạng các loại hình. Đến
nay, cả nước có 8.556 cơ sở lưu trú du lịch với tổng số 170.551 buồng, tăng 25
lần so với năm 1990 với tốc độ tăng trưởng bình quân là 12,6%/năm (trong khi đó
trên phạm vi toàn thế giới tốc độ tăng cơ sở lưu trú du lịch bình quân 3% ).

Cùng với sự phát triển về số lượng, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Việt đã có
những chuyển biến mạnh về chất lượng. Đến nay, cả nước đã có tổng số 4.283 cơ
sở lưu trú du lịch được xếp từ hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh LTDL đến hạng 5
sao, cụ thể: 25 khách sạn 5 sao với 7.167 buồng, 69 khách sạn 4 sao với 8.800
buồng, 144 khách sạn 3 sao với 10.307 buồng, 590 khách sạn 2 sao với 24.041
buồng, 632 khách sạn 1 sao với 16.976 buồng và 2.830 khách sạn đạt tiêu chuẩn
tối thiểu với 42.697 buồng
Toàn ngành du lịch hiện có 230.000 lao động trực tiếp trong đó lao động làm việc
trong trong hệ thống cơ sở lưu trú du lịch là 120.000.
CHƯƠNG II
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI DU LỊCH VIỆT NAM HỘI
NHẬP THẾ GIỚI
2.1.THUẬN LỢI
2.1.1 Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng
Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam
Á, vừa có biên giới lục địa, vừa có hải giới rộng lớn, là cửa ngõ đi ra Thái
Bình Dương của một số nước và của vùng Đông Nam Á. Nước ta nằm ở vành
đai nhiệt đới bắc bán cầu, đúng vào khu vực gió mùa Đông Nam Á, do đó,
mang lại đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Châu Á. Nhờ đó mà Việt Nam
có hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng. Việt Nam còn có những danh
thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như vịnh Hạ
Long, phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong

năng
dồi dào về du lịch còn bởi vì du khách muốn đến tận nơi xem các
công đoạn nghệ nhân làm ra sản phẩm và cũng muốn tận tay tham gia làm sản
phẩm theo trí tưởng tượng của riêng mình. Tìm hiểu về văn hoá và truyền
thống làng nghề là điều mà du khách trong và ngoài nước quan tâm.
Việt Nam còn có các tài nguyên có giá trị lịch sử, các tài nguyên có
giá trị văn hoá thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu. Với
lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ
nước,

Việ
t Nam đã tạo dựng được
một nền văn hoá phong phú và độc đáo. Không những vậy 54 dân tộc anh em
cùng chung sống trên một mảnh đất, lại có bao phong tục, tập quán, lễ hội
khác nhau tạo nên sự đa dạng cho sản phẩm du lịch Việt Nam.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ. Đặc
biệt con người Việt Nam thân thiện, hiếu khách đã tạo sự thoải mái cho du
khách.
Chính tất cả những tiềm năng trên là một nền tảng để du lịch Việt
Nam phát triển, hội nhập với các nước trên thế giới. Nhưng vấn đề là chúng ta
tận dụng những tiềm năng đó như thế nào nó
phụ

thuộ
c vào cách làm của
chúng ta.
2.1.2 Chính sách khuyến khích phát triển du lịch của Nhà nước
Những năm gần đây du lịch đã được nhà nước chú trọng phát triển bởi tiềm
năng lợi ích mà du lich mang lại là rất lớn.

Bể…
* Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh: tắm nước khoáng Kim Bôi - Hòa Bình, nhà
nghỉ ở Phan Thiết, Nha Trang, châm cứu ở Hà Nội…
* Du lịch MICE, tức là loại hình du lịch theo dạng gặp gỡ xúc tiến, hội nghị, hội
thảo, du lịch chuyên đề ở Vũng Tàu, Đà Nắng…
* Du lịch dựa vào cộng đồng vì người nghèo nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo
như ở Hà Nội, Lào Cai, Sa Pa…
* Du lịch hoa ở Đà Lạt, Hà Nội, TPHCM…
* Tham quan các trại điêu khắc ở Huế, Đà Nẵng, Phú Thọ…
* Du lịch bụi bằng xe đạp, xe máy, ô tô buýt, xích lô ở Hà Nội, xe trâu ở làng
gốm Bát Tràng, cưỡi ngựa ở Lâm Đồng, cưỡi voi ở Tây Nguyên, du thuyền trên
sông Hồng, sông Cửu Long…
* Du lịch cuối tuần ở TPHCM, Hà Tây, Vũng Tàu…
* Du lịch tuần trăng mật ở Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo…
* Du lịch tham quan các bảo tàng ở các thành phố lớn.
* Du lịch làng nghề: gốm Bát Tràng, tơ lụa Vạn Phúc - Hà Đông…
* Du lịch mua sắm bắt đầu phát triển ở TPHCM, Hà Nội, Huế…
* Du lịch ẩm thực: tiệc cung đình Huế hay ẩm thực Hà Nội.
* Du lịch mạo hiểm: lặn biển ở Nha Trang, leo núi Tây Bắc, xuyên rừng Cúc
Phương…
* Du lịch thể thao: dù lượn ở Nha Trang, Tuần Châu, sân gôn Đồng Mô…
Với sự đa dạng về loại hình du lịch ngành du lịch Việt Nam đã phát triển
vượt bậc cũng có nghĩa đã đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu du lịch của khách
trong nước cũng như khách quốc tế.
2.2 KHÓ KHĂN
2.2.1 Khó khăn trong quy hoạch
Được coi là điểm sáng của năm 2005 tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức
cao (trên 20%), thu hút hơn 3,4 triệu khách quốc tế và 16 triệu khách nội địa. Tuy
nhiên, so với các nước trong khu vực, số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam vẫn
còn nhỏ bé.

2.2.4 Nhân lực cho ngành du lịch chưa đạt yêu cầu
Việc gia tăng lượng khách du lich hàng năm là một dấu hiệu đáng
mừng, nhưng cũng không đủ cầu và cung như thế nào để thỏa mãn nhu cầu
của cầu là một vấn đề đặt ra cho ngành du lịch, bởi đội ngũ nhân lực cho
ngành du lịch còn đang thiếu và yếu về chuyên môn, yếu về ngoại ngữ. Nguồn
nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển thì cho đến
nay, chúng ta vẫn chưa đào tạo được đội ngũ nhân viên du lịch (lái xe, tiếp
viên, hướng dẫn viên…) có nghiệp vụ, có văn hoá, biết ngoại ngữ đủ để
đáp ứng yêu cầu của thị trường đang ngày càng tăng. Hoạt động du lịch
ngày càng đa dạng hoá về sản phẩm du lịch, loại hình du lịch và chất lượng
các sản phẩm du lịch. Điều này đòi hỏi đội ngũ lao động phải không ngừng
nâng cao trình độ nghiệp vụ.
Những

ngườ
i làm công tác quản lý trong
ngành du lịch có trình độ không đồng đều, một số chưa qua đào tạo về quản
lý doanh nghiệp du lịch. Tuy tiềm năng du lịch rất lớn nhưng hệ thống cơ sở
đào tạo du lịch
còn

quá
ít.
Trong khi nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu thì sự
sắp xếp bộ máy cán bộ không hợp lý, rườm rà gây ra lãng phí rất nhiều nhân
lực. Do đó, kiện toàn sắp xếp lại đội ngũ cán bộ là một đòi hỏi cần phải giải
quyết ngay.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo mới ở các trường và đào tạo lại, bồi
dưỡng ở các cơ quan, doanh nghiệp, mặc dù đã được đầu tư xây dựng, trang bị
mới và nâng cấp nhưng vẫn thiếu, không đồng bộ, nhất là ở các cơ sở đào tạo mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status