Nhân vật trong tiểu thuyết Tiếng người của Phan Việt - Pdf 16

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
1
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOA
Khoá luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS.GVC.
Nguyễn Thị Kiều Anh. Tôi xin cam đoan rằng:
Khoá luận này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi.
Những tư liệu được trích dẫn trong khoá luận là trung thực.
Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình
nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Liên
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
2
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Mục đích nghiên cứu 10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6. Phương pháp nghiên cứu 10
7. Đóng góp của khoá luận 10
8. Bố cục của khoá luận 11
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC 12
1.1. Quan niệm về nhân vật văn học 12

65
69
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT “TIẾNG NGƯỜI” CỦA PHAN VIỆT
72
3.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật 72
3.2. Miêu tả hành động nhân vật 75
3.3. Khám phá nhân vật qua những tình huống tâm lí 80
3.4. Lời văn trần thuật đan xen kể, tả với triết lí, bình luận, trữ
tình ngoại đề 85
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn học Việt Nam đương đại chứng kiến sự toả sáng của hàng loạt
các cây bút tài năng. Bên cạnh các cây bút trong nước thì những cây bút hải
ngoại cũng góp phần không nhỏ tạo nên dòng chảy liên tục của văn học
đương đại. Giữa làng văn Việt ở hải ngoại, Phan Việt đã dần trở thành một cái
tên đầy ấn tượng trên văn đàn. Phan Việt tên thật là Nguyễn Ngọc Hường,
sinh năm 1978, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương năm 2000, sau đó sang Mĩ
học cao học ngành truyền thông tại Omaha (bang Nebraska). Từ năm 2002
đến nay, Phan Việt là nghiên cứu sinh chương trình tiến sĩ về chính sách xã
hội tại Đại học Chicagô, Mĩ. Có thể thấy rằng, Phan Việt là nhà văn đầu tiên ở
hải ngoại đoạt giải thưởng Văn học tuổi 20, lần 3 (do Hội Nhà văn TP. HCM
báo TS và Nxb Trẻ tổ chức, 2005) với tập truyện ngắn đầu tay Phù phiếm
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
4
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
truyện. Sau đó, Phan Việt ngày càng thể hiện sự gắn bó và tâm huyết của chị
dành cho văn chương. Năm 2007, chị tham gia dịch và hiệu đính Suối nguồn

viết ra chỉ để nói ngược lại chính tôi”. Tiếp cận tiểu thuyết Tiếng người của
Phan Việt, tác giả khoá luận nhận thấy sự trăn trở và ý thức cách tân mãnh liệt
của nhà văn thể hiện đậm nét trong cách lựa chọn và xây dựng hệ thống nhân
vật. Nhân vật là tụ điểm phản ánh rõ lối đi riêng của Phan Việt trên hành trình
làm mới thể loại tiểu thuyết và khám phá, tái hiện những “ẩn mật bản ngã”
trong chiều sâu tâm hồn con người. Với Tiếng người, bằng một thể nghiệm,
một cách viết khá mới lạ, độc đáo cùng với kĩ thuật lồng ghép, cắt dán, ghép
mảnh, những dòng tâm tư, ý thức của nhân vật, loại “tiểu thuyết trong tiểu
thuyết” điểm nhìn trần thuật di động, đa điệu, đa thanh, Phan Việt đã có một
sự đóng góp quan trọng cho sự cách tân nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam hiện
đại, đưa tiểu thuyết Việt Nam hoà nhập với tiểu thuyết hiện đại thế giới. Đó là
lí do thứ ba.
Chính vì những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài “Nhân vật trong
tiểu thuyết “Tiếng người” của Phan Việt” để khai thác, tìm kiếm những tiềm
ẩn còn nằm sâu trong lớp văn bản, đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn để
nắm bắt tư tưởng của tác phẩm một cách khoa học, toàn diện.
2. Lịch sử vấn đề
Phan Việt là một cây bút khá mới trong làng văn học Việt Nam đương
đại bởi vậy mà nguồn tư liệu nghiên cứu về nhà văn này chưa thật dày dặn,
mới chỉ dừng lại ở những lời giới thiệu tác phẩm, những bài điểm sách trên
các trang web, những cuộc phỏng vấn, trao đổi giữa các nhà báo với nhà văn
Phan Việt. Qua những cuộc trả lời phỏng vấn, trao đổi trên email, Phan Việt
đã trực tiếp phát biểu những vấn đề liên quan tới tác phẩm, quan niệm về
nghệ thuật, quan niệm về nghề viết Có thể điểm qua một vài cuộc trao đổi
tiêu biểu như:
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
6
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trong cuộc trao đổi với tác giả Phan Việt về tiểu thuyết Tiếng người
trên email (thứ 2, 19/ 11/ 2007), nhà báo Song Phạm đã khẳng định: “Tất cả

người khiến người đọc sống lại những cảm xúc chính xác của mình vào một
thời điểm có thật trong cuộc đời mà họ đã trải qua. Tiếng người khiến người
đọc tự vấn hạnh phúc trong cuộc đời đôi khi là cái khó nắm bắt và không ai
dám chắc nó có phải là cái có thật hay không”.
Có thể nói, những bài viết liên quan đến Phan Việt không nhiều chủ
yếu là các bài viết được đăng tải trên các website văn học. Bên cạnh đó cũng
phải kể tới những lời giới thiệu, lời bình ngắn về tác phẩm của Phan Việt của
các tác giả, các nhà nghiên cứu phê bình.
Trong lời bạt cuối cuốn Phù phiếm truyện nhà Lí luận phê bình Huỳnh
Như Phương đã đưa ra dự báo về Phan Việt: “Nếu tác giả quyết tâm chọn lựa
và theo đuổi con đường văn chương thì đây sẽ là một trong những nhà văn
trẻ tiên báo cho một chiều kích mới của văn học Việt Nam hiện đại”. Dự báo
ấy càng có thêm cơ sở khi Tiếng người xuất hiện trên văn đàn, với lối viết
chặt chẽ, tỉnh táo, mạnh mẽ, khả năng phân tích tâm lí nhân vật, đào sâu, mổ
xẻ đến tận đáy sâu của tâm hồn nhân vật.
Trong lời bạt của tiểu thuyết Tiếng người, nhà văn Nguyễn Đông Thức
khẳng định: “Tiếng người” không phải là một chuyện kể đơn giản (nó sẽ khó
đọc hơn Oxford thương yêu của Dương Thuỵ) mà có nhiều tầng nấc để người
đọc suy ngẫm về các giá trị của cuộc sống. Thật ra tôi rất thích cái tựa đề
“Bong bóng” cùng một chủ đề lẩn khuất: Mọi thứ trên đời đều là bong
bóng, là phù vân, vô thường, vô nghĩa. Nhưng Phan Việt đã gác lại cái tựa
đó. Cô muốn người đọc tự chiêm nghiệm về những điều cô muốn nói”.
Trong bài Tiểu thuyết như là sự hiện hữu những khoảnh khắc thầm
kín của tâm trạng, in trên Phong điệp.net, (2008) tác giả Phùng Gia Thế nhận
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
8
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
định: “Sau Phù phiếm truyện, Tiếng người là một cuộc tìm kiếm mới của tác
giả, ở tiểu thuyết, trong một hình vóc cổ điển. Quả vậy, 46 phần trên 279
trang truyện không khiến người ta có cảm giác đây là một cuộc chơi kĩ thuật.

Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Tiếng người của Phan Việt
6. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong khoá luận này gồm:
- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
- Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật
- Phương pháp hệ thống lịch sử - chức năng
- Phương pháp thống kê, so sánh
7. Đóng góp của khoá luận
Thứ nhất, tác giả khoá luận đã khái quát lí thuyết về nhân vật văn học,
vận dụng để tìm hiểu nhân vật trong tiểu thuyết Tiếng người của Phan Việt
và nêu ra được những điểm cơ bản về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam
thời kì đổi mới.
Thứ hai, tác giả khoá luận đã chỉ ra và phân tích những khía cạnh mới
trong việc tiếp cận con người, tìm hiểu những kiểu nhân vật cơ bản trong tiểu
thuyết Tiếng người của Phan Việt, phân tích được những yếu tố độc đáo
trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. Qua đó, người viết góp thêm
một tiếng nói khẳng định những đóng góp quan trọng của Phan Việt nói riêng
và bộ phận văn học hải ngoại nói chung vào quá trình cách tân thể loại tiểu
thuyết Việt Nam đương đại.
8. Bố cục của khoá luận
Cũng như các khoá luận khác, ngoài mở đầu và kết luận, nội dung của
khoá luận được triển khai thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về nhân vật văn học
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
10
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
- Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới nhân vật
trong tiểu thuyết “Tiếng người” của Phan Việt
- Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết “Tiếng
người” của Phan Việt

điển tiếng Việt thì “nhân vật” là khái niệm mang hai nghĩa: Thứ nhất, đó là
"đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn
học nghệ thuật”. Thứ hai, đó là “người có vai trò nhất định trong xã hội” [22;
881]. Tức là thuật ngữ “nhân vật” được dùng phổ biến ở nhiều mặt, cả đời
sống nghệ thuật, đời sống xã hội - chính trị lẫn đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận, chúng tôi chỉ đề cập đến
“nhân vật” theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển tiếng Việt định nghĩa như vừa
trích ở trên tức là, nhân vật trong tác phẩm văn chương.
Trong Từ điển văn học (tập 2), các tác giả đã xác nhận:
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
12
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
“Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để
bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có
tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ. Nhân vật do đó là nơi
tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [20; 86].
Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từ
khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm và từ mối quan hệ của
nó với các yếu tố hình thức tác phẩm. Có thể nói đây là định nghĩa tương đối
toàn diện về nhân vật văn học.
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đề xuất một cách
nhìn khác. Nhân vật được ông xem xét trong mối tương quan với cá tính sáng
tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học:
“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét
sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong
cách. Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong
những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn
từ. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài
cây, các sinh thể hoang đường đuợc gán cho những đặc điểm giống con
người” [1; 241].

nghĩa: “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ược lệ, đó
không phải là sự sao chụp mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự
thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp,
tính cách Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường
được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người,
những con người có tên hoặc không tên, được khắc hoạ sâu đậm hoặc chỉ
xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sự vật, loài vật
khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người Cũng có khi đó không
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
14
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
phải là những con người hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi
bật trong tác phẩm” [7; 126].
Trong Giáo trình Lí luận văn học dành cho các trường Cao đẳng Sư
phạm (tập 2) những người biên soạn sách có xu hướng nghiên cứu nhân vật
trong tư cách là đối tượng để nhà văn khái quát, phân tích đời sống và tái hiện
bằng các phương tiện đặc trưng của văn chương: “Nhân vật văn học là khái
niệm dùng để chỉ hiện tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học -
cái đã được nhà văn nhận thức và tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện
riêng của nghệ thuật ngôn từ” [27; 73].
Như vậy, các nhà văn, nhà nghiên cứu Lí luận văn học bằng cách này
hay cách khác khi định nghĩa về nhân vật văn học vẫn cơ bản gặp nhau ở nội
hàm không thể thiếu của khái niệm này: Thứ nhất, đó phải là đối tượng mà
văn học miêu tả, thể hiện bằng những phương tiện văn học. Thứ hai, đó là
những con người hoặc con vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn con
người, là hình ảnh ẩn dụ của con người. Thứ ba, đó là đối tượng mang tính
ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua
lăng kính chủ quan của nhà văn.
Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là điểm quan trọng
nhất là “nội dung của mọi nhân vật văn học” [17; 280]. Đôxtôievxki cũng

cuộc sống. Bằng sự suy ngẫm, chiêm nghiệm, bằng những tìm tòi khám phá,
nhà văn xây dựng nên nhân vật và hệ thống nhân vật để từ đó khái quát các
tính cách xã hội và đời sống gắn liền với nó.
Tính cách là sự thể hiện các phẩm chất xã hội, lịch sử của con người
qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất, tâm sinh lí của họ. Tính
cách của nhân vật mang vai trò hết sức quan trọng đối với cả nội dung và hình
thức của tác phẩm văn học. Về nội dung: nhân vật với tính cách của nó là
phương tiện để thể hiện tư tưởng của tác phẩm, tức thông qua sự hoạt động và
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
16
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
mối liên hệ giữa các tính cách người đọc sẽ đi đến một sự khái quát hóa về
mặt nhận thức tư tưởng. Về hình thức: nhân vật với tính cách của nó quyết
định phần lớn các yếu tố hình thức như kết cấu, những quy luật loại thể, ngôn
ngữ (lời nói nghệ thuật), các biện pháp nghệ thuật thể hiện Về luận điểm
này, Heghen cũng đã từng nói: “Tính cách là điểm trọng tâm của mối quan hệ
giữa nội dung và hình thức”. Ta cũng cần lưu ý rằng tính cách nhân vật mang
tính lịch sử, nghĩa là với mỗi thời đại lịch sử các tính cách được tôn vinh hay
coi nhẹ là khác nhau, có thể trong thời kì này tính cách này được tôn sùng
nhưng ở thời kì sau thì không.
Cùng với việc thể hiện tính cách, nhân văn học thực hiện chức năng thể
hiện số phận con người. Bởi tính cách, số phận là kết tinh của môi trường,
hoàn cảnh nên nhân vật văn học còn đóng vai trò là người dẫn dắt bạn đọc
vào các thế giới khác nhau của đời sống và trước hết là phương tiện để nhà
văn mở ra những cánh cửa vào hiện thực rộng lớn, tiếp cận các đề tài, chủ đề
mới mẻ. Qua nhân vật ta hiểu được bản chất của chế độ xã hội mà nó đang
sống.
Bên cạnh đó, nhân vật còn có chức năng thể hiện quan niệm nghệ thuật
và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người, về cuộc đời. Văn học phản ánh
thế giới bằng hình tượng song điều đó không có nghĩa là nhà văn sao chụp lại,

biệt nổi bật, có ý nghĩa tư tưởng, thẩm mĩ sâu sắc nhất, đó là nhân vật trung
tâm. Nhân vật trung tâm là nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, có
mối liên hệ với tất cả những nhân vật khác trong tác phẩm, đó là nơi quy tụ
các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác
phẩm.
Bên cạnh nhân vật chính là các nhân vật phụ. Đó là những nhân vật ít
xuất hiện trong tác phẩm, đóng vai trò thứ yếu trong việc triển khai đề tài và
biểu hiện tư tưởng tác phẩm. Nhân vật phụ là nhân vật ít được miêu tả, không
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
18
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
được chú trọng miêu tả nhưng lại không thể thiếu được vì nó có vai trò
“giăng mối” các đầu mối quan hệ, bổ sung và hỗ trợ về nhiều mặt, kể cả hình
thức và nội dung tác phẩm, nó soi sáng cho nhân vật trung tâm, cho vấn đề
trung tâm của tác phẩm góp phần thể hiện sự đa dạng sinh động của bức tranh
đời sống được miêu tả.
Thứ hai, dựa trên mối quan hệ với lí tưởng xã hội của nhà văn lại có thể
chia thành nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện
(nhân vật tiêu cực). Hai kiểu nhân vật này cũng mang tính lịch sử, trong đó
nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng đạo đức tốt đẹp của
tác giả, của thời đại được nhà văn khẳng định, đề cao. Còn nhân vật phản diện
ngược lại mang những phẩm chất xấu, trái với đạo đức và lí tưởng đáng lên
án và phủ định.
Ngoài hai cách chia thường thấy như trên về nhân vật, dựa vào cấu trúc
nhân vật người ta lại có thể nói tới các kiểu nhân vật như: nhân vật chức
năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng.
Nhân vật chức năng là loại nhân vật xuất hiện để thực hiện một số chức
năng nào đó. Loại nhân vật này thường có đặc điểm, tính cách ổn định với
những phẩm chất cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối. Nhân vật chức
năng thông thường chỉ thấy trong văn học dân gian, văn học cổ trung đại như:

nghĩa tương đối và ở bình diện nào đó còn mang tính lịch sử. Ranh giới phân
chia nhân vật không phải lúc nào cũng rạch ròi. Đặc biệt về sau này, văn học
của chúng ta hướng tới việc thể hiện con người chân thực, sinh động, đa chiều
hơn. Nhưng tựu chung lại điều cần chú ý nhất vẫn là khả năng phản ánh và
tác động đến cuộc sống, khả năng hấp dẫn lôi cuốn người đọc của nhân vật.
1.2. Quan niệm về nghệ thuật xây dựng nhân vật văn học
Như đã trình bày ở trên, nhân vật ngoài chức năng quan trọng là
phương tiện để nhà văn gửi gắm ý tưởng nghệ thuật của mình còn có vai trò
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
20
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
quyết định đến phần lớn những yếu tố hình thức của tác phẩm văn chương. Vì
thế, có thể nói: qua mỗi yếu tố của hình thức tác phẩm, ta sẽ thấy được cụ thể
nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. Cả ba yếu tố: kết cấu, các biện
pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật, lời nói nghệ thuật đều tham gia vào việc
xây dựng nhân vật. Do vậy, việc tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật thực
chất là xem xét, tìm hiểu ba khía cạnh đó của hình thức.
1.2.1. Kết cấu
Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật. Trong cuốn
Lí luận văn học do Phương Lựu (chủ biên), các tác giả định nghĩa: “Kết cấu
là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật cụ thể mà nhà
văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung
cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm” [19; 295].
Cuốn Lí luận văn học do Hà Minh Đức (chủ biên), NXB Giáo dục, H,
2007 lại quan niệm như sau về kết cấu: “Kết cấu là sự tạo thành và liên kết
các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các
chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và
theo một chiều hướng tư tưởng nhất định” [7; 143].
Trong bài Tính nghệ thuật, một đối tượng nghiên cứu riêng và một
cách tiếp cận riêng, tác giả Nắng Mai đã có một quan niệm cụ thể hơn về kết

1.2.2. Các biện pháp thể hiện nghệ thuật xây dựng nhân vật
Các biện pháp nghệ thuật phong phú trong văn chương có được là do
văn chương mượn từ đời sống. Trong tác phẩm nhà văn sáng tạo chúng để
cho hay hơn, hấp dẫn hơn; xét đến cùng các biện pháp nghệ thuật là phương
tiện thể hiện đời sống đặc biệt là thể hiện nhân vật làm cho nhân vật trở thành
hình tượng nghệ thuật hiện lên trong sự hình dung của bạn đọc một cách sinh
động, toàn vẹn có cả bên trong lẫn bên trong lẫn bên ngoài, cả lí trí và tình
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
22
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
cảm, có sự vận động, phát triển tính cách trong hoàn cảnh môi trường…
Thông thường trong sáng tác văn chương nhà văn thường sử dụng các biện
pháp nghệ thuật sau: kể, tả, đối thoại, độc thoại, tâm tình, bàn luận - triết lí đặt
nhân vật vào xung đột - kịch tính. Việc sử dụng các biện pháp thể hiện nghệ
thuật “gắn liền với việc xây dựng hình tượng nhân vật toàn vẹn và sinh động”.
1.2.2.1. Biện pháp kể
Kể là một hoạt động sáng tạo của nhà văn, cụ thể đó là hình thức trần
thuật lại các sự kiện, biến cố, chi tiết, hoạt động… và làm cho đối tượng miêu
tả có một quá trình phát triển riêng, sinh động, không lặp lại. Qua biện pháp
kể, quan hệ giữa các nhân vật, quan hệ giữa nhân vật với môi trường hay các
hành động, cử chỉ, ý nghĩ của nhân vật được xâu chuỗi, nối kết một cách logic
với nhau. Trong tác phẩm có nhiều cách kể, có thể theo trình tự thời gian
hoặc xáo trộn trật tự thời gian, có thể nhà văn trực tiếp làm người kể chuyện
cũng có thể để nhân vật kể chuyện. Do vậy, kể không chỉ là một biện pháp thể
hiện nghệ thuật đơn thuần mà còn được nâng cao thành một phương thức tạo
ra tác phẩm như một câu chuyện. Lúc đó, các biện pháp thể hiện nghệ thuật
khác chỉ đóng vai trò bổ trợ cho kể.
Có thể nói, kể là biện pháp thể hiện nghệ thuật chủ đạo của thể loại tự
sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng.
1.2.2.2. Biện pháp tả

Với mỗi loại văn, biện pháp này được sử dụng đậm hay nhạt là khác
nhau. Thơ trữ tình hầu như không có đối thoại, còn kịch thì lại đậm đặc những
lời đối thoại, bởi theo giới nghiên cứu: đối thoại là biện pháp nghệ thuật thể
hiện đặc trưng của thể kịch. Đối thoại trong kịch nhiều về số lượng và quan
trọng về chất lượng, khả năng thể hiện nội dung của biện pháp đối thoại rất
Nguyễn Thị Liên K32D - Khoa Ngữ văn
24
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
lớn. Ngôn ngữ đối thoại của mỗi nhân vật có một đặc điểm riêng, không nhân
vật nào giống nhân vật nào. Còn ở các tác phẩm tự sự thì việc sử dụng biện
pháp đối thoại rất đa dạng, linh hoạt. Với những đặc điểm đó, biện pháp nghệ
thuật này có tác dụng lớn trong việc cá biệt hoá các nhân vật, làm nên điểm
riêng biệt không thể trộn lẫn.
1.2.2.4. Biện pháp độc thoại
“Biện pháp độc thoại nội tâm cho biết tiếng nói thầm thì, ý nghĩa sâu
kín chỉ riêng nhân vật với mình ở bên trong. Đó là lúc nhân vật thật nhất” [2;
26]. Trong tác phẩm, biện pháp này thường được sử dụng khi nhân vật rơi vào
những hoàn cảnh éo le, nhiều kịch tính, xung đột, rơi vào trạng thái cô lập đòi
hỏi nhân vật phải băn khoăn trăn trở để đưa ra quyết định cuối cùng. Cùng với
những biện pháp khác cho thấy hình thức bên ngoài của nhân vật, biện pháp
độc thoại nội tâm hoàn thiện nhân vật ở mức độ cao hơn, đó là chiều sâu tâm
hồn nhân vật. Đây cũng chính là ưu thế của văn chương so với các loại hình
nghệ thuật khác. Nếu như hội hoạ, điêu khắc chỉ nói rõ ngoại hình, vóc dáng
của đối tượng; âm nhạc chỉ tác động trực tiếp vào thính giác để người tiếp
nhận tự suy ra hoàn toàn cái hồn của đối tượng thì nhờ độc thoại nội tâm, văn
chương có khả năng vượt trội trong việc miêu tả đời sống tâm lí - cái trừu
tượng, khó nắm bắt của đối tượng. Những suy nghĩ, tình cảm tinh tế của nhân
vật sinh động hay không tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo của nhà văn, chứ
không bị hạn chế như việc sáng tạo trong các ngành nghệ thuật khác.
1.2.2.5. Biện pháp để nhân vật tâm tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status