Trình bày vị thế của đồng EURO và ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu đối với Việt Nam - Pdf 16


1
TIỂU LUẬN

Trình bày vị thế của đồng EURO và ý
nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên
cứu đối với Việt Nam

Nhóm 3:
Trần Thị Vân Anh
Tòng Thị Kim Duyên
Trần Thị Thái Hà
Lò Thị Hương
Vũ Thị Phượng
Hồ Thu Trang 2

CHƯƠNG 1
TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH ĐỒNG EURO
1.1.Sơ lược về đồng tiền chung Châu Âu
Đồng tiền chung châu âu (đồng Euro)chính thức ra mắt vào ngày1/1/1999.Euro được
quy định tỷ giá không đổi đối với các đồng tiền quốc gia thuộc liên minh châu âu (EU) sự
ra đời của đồng tiền chung châu âu là một sự kiện lịch sử đối với nhất thể hóa châu âu và

Bước 1: ngày 1/7/1990 việc lưu chuyển vốn đước tự do hóa giữa các nước trong liên
minh châu âu .
Bước 2: ngày 1/1/1994 viện tiền tệ châu âu tiền thân của ngân hàng trung ương châu
âu (ECB) được thành lập và tình trạng ngân sách quốc gia của các nước thành viên bắt
đầu được xem xét . ngày 16/12/1995, hội đồng châu âu quyết định tên gọi của tiền chung
là “EURO”. Ngày 13/12/1996, các bộ trưởng bộ tài chính của Euđi đến thỏa thuận về
hiệp ước ổn định và tăng trưởng nhằm đảm bảo các nước thành viên giữ kỉ luật về ngân
sách , qua đó dảm bảo giá trị của tiền chung .
Bước 3: tháng 5/1998, tiến hành chọn lựa những quốc gia hội đủ các điều kiên
maastrichtđể trở thành thành viên EMUvà đồng công bố tỷ giá song phương giữa các
đồng tiền thành viên bước chuyển đổi này được mô tả thông qua 3 thời kì:
Thời kì 1: bắt đầu từ tháng 5/1998, hội đồng châu âu xác định những nước hội tụ
đủ các tiêu trí hội nhập năm 1997 và khả năng hội nhập của từng nước năm 1998, sau khi
các nước đã lựa chọn trở thành thành viên EMU thì ngân hàng trung ương châu âu cũng
được thành lập trên cơ sở viện tiền tệ châu âu với nhiệm vụ trọng tâm là bảo đảm quá
trình chuyển tiếp xảy ra một cách trơn chu và hình thành chính sách tiền tệ chng của
đồng Euro .
Thời kì 2 : bắt đầu từ 1/1/1999 bằng việc cố định tỷ giá của các đồng tiền thành
viên với Euro , đồng Euro trở thành đồng tiền hợp pháp và thay thế đồng ECU tại mức tỷ
giá chính thức . trong thời kì này đồng Euro chưa xuất hiện ngay dưới hình thức giấy bạc
và tiền xu nhưng bảo đảm rằng hầu hết các số dư trên tài khoản ngân hàng và nợ quốc gia
mới hát sinh phải được nghi bằng đồng Euro . cũng tị thời điểm này, viện tiền tệ châu âu

4
giải thể và hệ thống ngân hàng trung ương châu âu bao gồm ECB và các ngân hàng trung
ương quốc gia bắt đầu hoạt động với đồng Euro. Song song với đồng tiền quốc gia , Euro
được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch ngân hàng dự theo nguyên tắc chỉ đạo là “
không cấm ,không bắt buộc” .
Thời kỉ 3: được bắt đầu từ 1/1/2002,song song với tờ giấy bạc tiền xu bằng Euro
trong thời gian tối đa là 6 tháng . cả hai loại tiền quốc gia và Euro đều là đồng tiền hợp

2.1.1.Vai trò đối với các nước thành viên

Đồng EURO ra đời sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước EU, thúc đẩy quá
trình liên kết kinh tế giữa các nước này, tạo điều kiện thực hiện liên minh kinh tế tiền tệ
châu Âu, tiến tới thống nhất châu Âu về kinh tế và chính trị. Đồng tiền chung ra đời sẽ
góp phần hoàn thiện thị trường chung châu Âu, góp phần gỡ bỏ những hàng rào phi quan
thuế còn lại, tác động tích cực đến hoạt động kinh tế, tài chính, đầu tư, tiết kiệm chi phí
hành chính
Sự ra đời của đồng EURO sẽ giúp cho các nước thành viên tránh được sức ép của việc
phá giá đột ngột các đồng tiền quốc gia (sau này sẽ không còn tồn tại) cũng như việc các
nhà đầu cơ tiền tệ tranh thủ sự không ổn định của đồng tiền để đầu cơ làm ảnh hưởng đến
sự phát triển chung của toàn khối.
Việc ra đời của đồng EURO với ngân hàng trung ương độc lập - Ngân hàng Trung
ương châu Âu (ECB) - thay thế các ngân hàng trung ương các nước thành viên, với mục
tiêu thực hiện một chính sách tiền tệ theo hướng giữ ổn định sẽ tạo cơ sở cho kinh tế phát
triển không còn lạm phát, đem lại những điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định một
chính sách tài chính vĩ mô cho liên minh, là một bảo đảm giữ cho nền kinh tế ở khu vực
này ổn định và phát triển hơn trước. Trước mắt, người tiêu dùng và các doanh nghiệp ở
mỗi nước thành viên sẽ bớt được một khoản chi phí chuyển đổi ngoại tệ trong giao dịch
quốc tế . Hơn nữa, khi đồng EURO được lưu hành trên thị trường, mọi hàng hoá bày bán
trong các nước thành viên đều được niêm yết giá bằng đồng EURO nên sẽ làm giảm sự
chênh lệch giá hay phiền phức về tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia.

6
Do buôn bán trong các nước EU chiếm đến 60% ngoại thương của cả khối, nên việc
sử dụng một đồng tiền chung sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh trao đổi ngoại thương giữa các
nước EU và ít bị ảnh hưởng xấu do sự giao động tỷ giá của đồng USD vì sẽ không còn
tình trạng đồng tiền này mất giá so với USD trong khi đồng tiền khác lại lên giá.
2.1.2.Vai trò đối với nền kinh tế thế giới
Tạo sự thay đổi lớn trong hệ thống tiền tệ thế giới.

đồng EURO có thể chiếm khoảng 35-40% các khoản giao dịch và buôn bán quốc tế.
Trong buôn bán với Mỹ, các nước EU cũng sẽ buộc Mỹ phải sử dụng đồng EURO, nên
Mỹ cũng sẽ phải dự trữ cả EURO. Đối với thương mại thế giới khi đồng EURO ra đời và
được thừa nhận là đồng tiền mạnh và ổn định thì sẽ có xu hướng các nước cũng sẽ sử
dụng EURO thay thế USD trong thanh toán một số giao dịch ngoại thương với nhau và
trong buôn bán giữa EU với các nước khác, do đó sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng USD
trong thương mại thế giới.
Tóm lại, sau khi đồng EURO ra đời hệ thống tài chính thế giới sẽ bị thay đổi cơ bản.
Những thay đổi này sẽ bắt đầu từ việc thanh toán các loại dịch vụ và buôn bán quốc tế, kể
cả các giao dịch thị trường chứng khoán, sau đó đến việc giải toả dự trữ ngoại tệ ở các
quốc gia. Hơn nữa, bên cạnh việc sử dụng USD như trước đây, trên thị trường sẽ xuất hiện
thêm EURO, do đó trong tương lai không xa, nhu cầu sử dụng USD giảm bắt buộc sẽ dẫn
đến việc giảm giá của USD, và như vậy việc ra đời của EURO không chỉ tác động đến
lĩnh vực tiền tệ mà sẽ tác động cả đến lĩnh vực kinh tế và chính sách kinh tế của các quốc
gia.
Sự cạnh tranh về tiền tệ giữa đồng USD và đồng EURO có thể sẽ gây ra một số
rạn nứt trong quan hệ giữa Mỹ và EU và thúc đẩy xu thế đa cực, đa trung tâm trong
quan hệ quốc tế phát triển.

8
Chính phủ Mỹ tuy bên ngoài đã có những tuyên bố hoan nghênh sự ra đời của đồng
EURO và EMU, nhưng thực tế bên trong cũng hết sức lo ngại. Trước hết như đã phân
tích, đồng EURO ra đời sẽ là một đối thủ cạnh tranh đáng gờm đối với đồng USD và từng
bước làm giảm vị trí truyền thống của đồng USD. Để đảm bảo cho đồng EURO ổn định
và vững mạnh, các chính phủ các nước tham gia EMU cũng như Ngân hàng Trung ương
châu Âu sẽ cần phải có những chính sách bảo vệ và khuyến khích sử dụng đồng EURO,
điều này chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng bất lợi cho vị trí của đồng USD ở châu Âu và do đó
sẽ gây một số thiệt hại về lợi ích cho Mỹ ở châu lục này. Cuộc đấu tranh vì lợi ích và ảnh
hưởng kinh tế ở châu Âu giữa Mỹ và Liên minh Châu Âu sẽ trở nên quyết liệt hơn.
- Sau khi EURO ra đời, do những thuận lợi của thị trường thống nhất có trình độ phát

Từ năm 2002 – 2007 đồng EUR liên tục tăng giá là bằng chứng chứng tỏ đồng tiền
này có thể trở thành nguồn dự trữ ngoại tệ trao đổi chủ yếu trên thế giới trong những năm
tiếp theo.
Tính đến cuối năm 2003, dự trữ toàn cầu đạt 3.014 tỷ USD, tăng 26%
so với năm 2002. Trong đó, dự trữ ngoại hối toàn cầu bằng đồng Euro đã tăng từ 19,3%
lên 19,7%. Dự trữ bằng Euro của các nước đang phát triển tăng 1% và dự trữ ngoại hối
bằng euro của các nước phát triển hiện ở mức 20,9%.
Các quốc gia sử dụng tỷ giá hối đoái cố định hay thả nổi có kiểm soát đều có sự can
thiệp vào thị trường ngoại hối đề duy trì tỷ giá phù hợp với cơ chế đã chọn. Khi đó, đồng
Euro với vai trò là đồng tiền tham chiếu thường được sử dụng để can thiệp.
Sau đây là Tỷ lệ Euro trong dự ngoại hối tòan cầu:
Năm 2001 2002

2003

2005

2006

2008

2009

Q1/2010

Tỷ lệ EUR (%) 13 16.4 18.7 24.8 25.8 27.8 27.3 27.2
Tỷ lệ USD(%) 68.3 67.5 64.5 66.3 62.8 62.2 61.7

10
Những số liệu trên phản ánh phần nào vị thế của đồng EUR trên thế giới. Đồng

tăng giá. Điều này sẽ làm cho hàng hóa của Việt Nam tại thị trường châu Âu trở nên đắt
đỏ, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam tại châu
Âu. Một số DN xuất khẩu vào châu Âu cho biết đã có hiện tượng sụt giảm đơn hàng từ thị
trường này và họ không lạc quan về tình hình trong năm 2012. Trong khi đó, một số DN
đang xuất hàng ổn định sang châu Âu thì nhận thấy có thay đổi trong cung cách làm ăn
của đối tác.
“Sự suy yếu của đồng euro không ảnh hưởng nhiều đến kinh tế vĩ mô Việt Nam vì
doanh số giao dịch bằng euro của nước ta thấp. Tuy nhiên, người đang nắm giữ euro sẽ bị
thiệt thòi nếu tỉ giá đồng tiền này so với VNĐ đi xuống. Còn DN đã biết cách quay nhanh
dòng tiền nên việc euro giảm giá không ảnh hưởng nhiều đến kết quả kinh doanh”- TS Lê
Thẩm Dương, Trưởng Khoa Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Ngân hàng TPHCM,
nhận xét.
TS Lê Thẩm Dương cho biết: Theo kế hoạch, cuối ngày 8-12, các quốc gia sử dụng
đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) nhóm họp để quyết định số phận đồng euro. Tuy
nhiên, khả năng đồng euro sụp đổ rất thấp vì nhiều quốc gia sẽ thỏa thuận được các giải
pháp cứu trợ kinh tế châu Âu. Nhiều khả năng cuối ngày 8-12, NH Trung ương châu Âu
(ECB) sẽ giảm lãi suất cơ bản đồng euro để kích thích sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Các quốc gia như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… cũng đang kêu gọi dân chúng dùng
hàng nội địa nhằm vực dậy nền kinh tế, bảo vệ đồng euro.
Theo ông Trương Văn Phước, Tổng Giám đốc NH Xuất nhập khẩu Việt Nam, ECB
hạ lãi suất cơ bản đồng euro đồng nghĩa euro tiếp tục suy yếu so với nhiều đồng tiền khác.
Tuy nhiên, nếu các giải pháp xử lý nợ công tại châu Âu phát huy tác dụng thì euro có thể
tăng giá trở lại. Đơn cử, ngày 5-12, Pháp và Đức thông qua kế hoạch giải cứu nợ công ở
châu Âu, lập tức euro tăng giá so với USD. 12

và những bất cập của nền kinh tế Việt Nam được biểu hiện rõ nét trong năm 2008 và 2009
vừa qua (lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn, đầu tư nước ngoài giảm ), cùng với hệ
lụy của các giải pháp, chính sách chống suy giảm kinh tế đã gây nên những hạn chế nhất
định đến mức độ chuyển đổi của VND, đó là gây sự ép giảm giá VND, gây khan hiếm
ngoại tệ, nhu cầu thanh toán ngoại tệ của doanh nghiệp có những lúc không được đáp ứng
đầy đủ và kịp thời Trước tình hình đó, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước phối
hợp với các bộ, ngành thực hiện hàng loạt biện pháp đồng bộ như điều chỉnh biên độ tỷ
giá, chống đầu cơ ngoại tệ, thắt chặt kỷ luật thị trường ngoại hối, hạn chế nhập siêu, xử lý
hài hòa mối quan hệ giữa lãi suất VND với lãi suất ngoại tệ và tỷ giá, xử lý vấn đề sàn
vàng
3.3.Khả năng tự do chuyển đổi đồng VND.
Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội đất nước, đồng tiền Việt
Nam được chuyển đổi ra ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp. Tính chuyển đổi này được luật định bằng các quy định của Nhà nước. Theo
Nghị định của Chính phủ số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 về quản lý ngoại hối thì
người cư trú là các doanh nghiệp, chi nhánh công ty nước ngoài, nhà thầu nước ngoài, tổ
chức tín dụng ở Việt Nam, cơ quan nhà nước, cơ quan lực lượng vũ trang, tổ chức chính
trị, … được mua ngoại tệ bằng VND để thanh toán cho các giao dịch vãng lai hay các
giao dịch được phép khác. Ngoài ra, một số đối tượng thuộc người không cư trú như cơ
quan ngoại giao, cơ quan đại diện nước ngoài có nguồn thu hợp pháp bằng VND có thể
mua ngoại tệ tại các ngân hàng được phép ở Việt Nam.

14
Pháp lệnh Ngoại hối ban hành năm 2005 là cơ sở pháp lý rất thông thoáng cho tính
chuyển đổi của VND. Tháng 11/2005, IMF chính thức công nhận Việt Nam đã thực hiện
tự do hóa giao dịch vãng lai, có nghĩa là VND đã được chuyển đổi tự do trong các giao
dịch vãng lai, còn các giao dịch vốn chưa được tự do hoàn toàn, nhưng những hạn chế là
không nhiều. Hiện nay, trong giao dịch vốn chỉ còn hạn chế về dòng vốn đầu tư gián tiếp,
bên cạnh đó là một số hạn chế về đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, xét trên nhiều khía
cạnh thì tính chuyển đổi của VND còn thấp.

toàn cầu và những bất cập của nền kinh tế Việt Nam được biểu hiện rõ nét trong năm
2008 và 2009 vừa qua (lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn, đầu tư nước ngoài
giảm ), cùng với hệ lụy của các giải pháp, chính sách chống suy giảm kinh tế đã gây nên
những hạn chế nhất định đến mức độ chuyển đổi của VND, đó là gây sự ép giảm giá
VND, gây khan hiếm ngoại tệ, nhu cầu thanh toán ngoại tệ của doanh nghiệp có những
lúc không được đáp ứng đầy đủ và kịp thời
Trước tình hình đó, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các
bộ, ngành thực hiện hàng loạt biện pháp đồng bộ như điều chỉnh biên độ tỷ giá, chống đầu
cơ ngoại tệ, thắt chặt kỷ luật thị trường ngoại hối, hạn chế nhập siêu, xử lý hài hòa mối
quan hệ giữa lãi suất VND với lãi suất ngoại tệ và tỷ giá, xử lý vấn đề sàn vàng Các
biện pháp đó đến nay đã phát huy hiệu quả, tỷ giá tương đối ổn định và có chiều hướng đi
xuống (trong tháng 6, chỉ số giá USD giảm 0,17% so với tháng trước. Đây là tháng thứ 3
liên tiếp USD giảm giá), ngoại tệ trên thị trường không còn khan hiếm, các doanh nghiệp
được đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu mua ngoại tệ.
3.5. Việt Nam cần phải làm gì?
Với thực trạng kinh tế và thị trường tài chính như hiện này, để tiếp tục nâng cao
tính chuyển đổi của VND và hướng tới một đồng tiền tự do chuyển đổi, những việc cần
làm là:

16
(i) Các bộ, ngành cần thực hiện có hiệu quả các giải pháp, chính sách tại Nghị
quyết số 18/NQ-CP của Chính phủ, đó là những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô,
kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thanh
toán là 1 trong 6 giải pháp lớn góp phần nâng cao tính chuyển đổi của VND.
(ii) Về mặt trung, dài hạn, Việt Nam cần cấu trúc lại nền kinh tế theo mô hình phát
triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng; tập trung vốn đầu tư vào những ngành
nghề trọng điểm có thể làm đòn bẩy phát triển kinh tế của cả nước; nâng cao hiệu quả vốn
đầu tư, nói cách khác là hướng tới một mô hình phát triển kinh tế phù hợp với thực tiễn và
hoàn cảnh mới để có thể phát huy tối đa năng lực cạnh tranh của quốc gia. Lộ trình cấu
trúc lại nền kinh tế phải được xây dựng trong chiến lược phát triển kinh tế tổng thể với

động của luồng vốn tới những diễn biến tiền tệ gây áp lực tăng lạm phát.
Có thể nói, để VND trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi là vấn đề lớn, vấn đề
mang tầm quốc gia, gắn liền với lộ trình phát triển kinh tế, phát triển thị trường tài chính
theo hướng tự do hóa và phát triển hệ thống tài chính vững mạnh.
3.6.Kết luận
Có thể nói, để VND trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi là vấn đề lớn, vấn đề
mang tầm quốc gia, gắn liền với lộ trình phát triển kinh tế, phát triển thị trường tài chính
theo hướng tự do hóa và phát triển hệ thống tài chính vững mạnh.

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status