khả năng điều trị
virus viêm gan
siêu vi C (tt)
5. Những khuynh hướng mới
trong điều trị HCV
Chú ý những yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đáp ứng tối đa:
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng
có những yếu tố ảnh hưởng rất
quan trọng đối với điều trị kháng
virus để đạt được hiệu quả cao. Sự
ngăn cản lớn nhất là tác dụng phụ
của Interferon và Ribavirin. Trong
vô số tác dụng phụ, tác dụng phụ
về tâm thần kinh là phải chấm dứt
điều trị sớm. Sự giảm liều của
Peginterferon thuờng là giảm bạch
cầu, giảm liều Ribavirin là do thiếu
máu. Sự giảm liều ít ảnh hưởng đến
hiệu quả điều trị hơn là chấm dứt
điều trị sớm. Những nghiên cứu
cho thấy rằng liên quan sự giảm
liều phụ thuộc vào yếu tố để giảm
liều. Những bệnh nhân diễn tiến xơ
gan hay xơ gan đã thất bại với điều
trị kháng virus trước đây được tái
điều trị với Peg-interferon alfa và
điều trị. Mới đây Afdhal và cộng sự
đã công bố kết quả của thử nghiệm
lâm sàng dùng Epoetin alfa trong
trường hợp thiếu máu do dùng
ribavirin. Khi dùng Epoetin alfa
không cần giảm liều ribavirin khi
Hb< 12g/dl, bệnh nhân cảm thấy
thoải mái , dễ chịu và khỏe hơn.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa
nói rõ ảnh hưởng của Epoetin alfa
đối với đáp ứng điều trị sau cùng.
Vì vậy, khi dùng Epoetin phải
nghiên cứu kỹ hơn, chọn bệnh nhân
để điều trị cho thích hợp, trước khi
đưa vào sử dụng thường qui cho tất
cả bệnh nhân thiếu máu.
Thông tin về những nhóm
bệnh nhân đặc biệt:
Bệnh nhân viêm gan siêu vi C
với đặc điểm địa lý khác nhau, đặc
điểm bệnh khác nhau, yếu tố di
truyền …… thì đáp ứng điều trị
khác nhau. Đáp ứng điều trị rất
khác ở những nhóm bệnh nhân đặc
biệt: đồng nhiễm HIV, người Mỹ
gốc Ph, bệnh nhân lọc
thận………cần có những nghiên
cứu kỹ hơn mới biết rõ đáp ứng đặc
biệt ở những nhóm bệnh nhân này.
Đáp ứng điều trị ở nhóm bệnh
khi dùng Peg-interferon +
Ribavirin. Mặc dù vậy, vẫn thấy
phân nửa bệnh nhân không đáp ứng
điều trị. Vì vậy, nhóm bệnh nhân
này cần có cách điều trị mới hơn:
thuốc mới, kéo dài thời gian điều
trị, tăng liều ribavirin.
Đáp ứng điều trị Peg-
interferon+Ribavirin ở bệnh
nhân đồng nhiễm HCV+HIV
Bệnh nhân nhiễm HCV+HIV có
đặc điểm lâm sàng đặc biệt. Những
bệnh nhân này có nguy cơ phải
ngưng điều trị vì nhiễm acid lactic ,
thiếu máu , ngộ độc gan ……
Những bệnh nhân này dễ đưa đến
diễn tiến nặng hay tử vong do bệnh
gan nhiều hơn là do HIV . Đáp ứng
điều trị tốt hơn khi dùng Peg-
interferon+ribavirin so với
Interferon+ribavirin. Tỉ lệ đáp ứng
điều trị thấp hơn là chỉ nhiễm HCV
mà thôi. Đáp ứng điều trị thấp ở
nhóm bệnh nhân này do giảm liều
Ribavirin hay do tác nhân kháng
thuốc cần được nghiên cứu kỹ hơn.
Đáp ứng điều trị Peg-
interferon+Ribavirin ở bệnh
nhân người Mỹ gốc Phi
Đáp ứng điều trị với Peg-
kết hợp viramidine cho hiệu quả
tương tự như khi kết hợp ribavirin,
nhưng sự tán huyết giảm đáng kể.
BILN 2061: là chất ức chế men
protease NS3 có khả năng chống lại
virus đặc biệt đã được dùng trong
nhiều thử nghiệm lâm sàng ở nhiều
nhóm bệnh nhân khác nhau: bệnh
nhân mới điều trị, bệnh nhân đã
thất bại với điều trị interferon, bệnh
nhân diễn tiến xơ gan. Chỉ sau 48
giờ điều trị, lượng siêu vi C giảm từ
100 - 1000 lần so với trước điều trị
ở hầu hết bệnh nhân genotype 1.
Nếu chỉ điều trị ngắn rồi dừng lại
thì lượng virus lại tăng trở lại. Hiệu
quả điều trị phụ thuộc rất nhiều
genotype của siêu vi . Việc nghiên
cứu nhiều hơn bị dừng lại do độc
tính cho tim được thấy ở vật nghiên
cứu. Tuy nhiên nền tảng của cuộc
nghiên cứu vẫn phát triển để giúp
điều trị đồng nhiễm HIV.
NM283: Là chất ức chế men
polymerase NS5b. Cuộc nghiên
cứu mới đây cho thấy sau 2 tuần
điều trị lượng virus giảm từ 50 -
100 lần tùy theo liều điều trị.