Chương 1: VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1. Tồn tại của thế giới và sự thống nhất của thế giới
1.1. Tồn tại của thế giới là tiền đề của sự thống nhất của thế giới
Vấn đề “tồn tại” và “không tồn tại” đã được đặt ra ngay từ trong triết học cổ
đại phương Đông và phương Tây. Trong việc nhận thức thế giới, vấn đề đầu tiên
nảy sinh với tư duy triết học là: Thế giới quanh ta có thực hay chỉ là sản phẩm
thuần túy của tư duy con người? Thế giới có tồn tại hay không? Và vấn đề mà nhận
thức triết học phải đi tới là quan niệm về sự tồn tại của thế giới. Không thừa nhận
sự tồn tại của thế giới thì không thể nói tới việc nhận thức thế giới.
Chủ nghĩa duy vật hiểu sự tồn tại của thế giới như một chỉnh thể mà bản chất
của nó là vật chất. Còn các nhà duy tâm tìm nguồn gốc và bản chất của tồn tại ở cái
tinh thần, cho rằng chỉ thế giới tinh thần mới là tồn tại. Hêghen coi bản chất của
tồn tại là cái tinh thần vì giới tự nhiên cũng chỉ là tồn tại khác của “ý niệm tuyệt
đối” mà thôi.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng sự tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự
thống nhất của nó, song sự thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó.
Sự khác nhau căn bản giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không phải ở
việc thừa nhận hay không thừa nhận tính thống nhất của thế giới, mà ở chỗ chủ
nghĩa duy vật cho rằng cơ sở của sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của
nó. Quan điểm này thể hiện tính nhất nguyên duy vật triệt để, dựa trên sự tổng kết
những thành tựu nhân loại đã đạt được trong hoạt động thực tiễn, trong triết học
cũng như trong khoa học.
1.2. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Có 2 khuynh hướng cơ bản về vấn đề này:
- Chủ nghĩa duy tâm coi tinh thần, ý thức có trước, quyết định vật chất nên
tính thống nhất của thế giới là ở ý thức, ở các lực lượng tinh thần siêu nhiên.
1
- Chủ nghĩa duy vật coi vật chất có trước, ý thức có sau, ý thức là sự phản ánh
của thế giới vật chất nên sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất. Bằng sự phát
triển lâu dài của triết học và sự phát triển khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng
chứng minh rằng thế giới xung quanh chúng ta dù đa dạng và phong phú đến đâu
Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng thuyết nguyên tử cổ đại là một bước phát
triển mới của chủ nghĩa duy vật trên con đường hình thành phạm trù vật chất, tạo
cơ sở triết học cho nhận thức khoa học sau này. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những
phỏng đoán giả định.
- Từ cuối thế kỷ XVI và đặc biệt là trong thế kỷ XVII - XVIII: Việc coi
nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, tách rời
vận động, không gian và thời gian vẫn là một quan niệm phổ biến. Chính Galilê,
Đềcác, Bêcơn, Hôpxơ đã khẳng định và phát triển quan niệm này.
- Sang thế kỷ XIX, các nhà triết học và khoa học tự nhiên do không hiểu phép
biện chứng duy vật vẫn đồng nhất vật chất với nguyên tử, hoặc với một thuộc tính
phổ biến của các vật thể là khối lượng.
- Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trong vật lý học hiện đại xuất hiện những
phát minh quan trọng đem lại cho con người những hiểu biết mới, sâu sắc về cấu
trúc của thế giới vật chất.
Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X
Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ.
Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử.
Năm 1901, Kaufman đã phát hiện ra rằng trong quá trình vận động, khối
lượng của điện tử thay đổi khi vận tốc của nó thay đổi.
3
Những phát minh đó chứng minh rằng sự đồng nhất vật chất với những dạng
cụ thể của vật chất, với những thuộc tính của vật chất như quan niệm duy vật trước
Mác đã không còn phù hợp nữa và trở thành căn cứ để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng
chống lại chủ nghĩa duy vật. Họ cho rằng "vật chất đã tiêu tan", và toàn bộ nền
tảng của chủ nghĩa duy vật đã bị sụp đổ hoàn toàn. Cuộc “khủng hoảng của vật lý
học” xuất hiện.
Lênin đã phân tích tình hình phức tạp ấy và chỉ rõ: Những phát minh có giá trị
to lớn của vật lý học cận đại không hề bác bỏ chủ nghĩa duy vật mà chỉ bác bỏ
quan niệm cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về mặt cấu trúc, rằng nguyên tử
hay khối lượng là giới hạn cuối cùng, bất biến của giới tự nhiên. Lênin đã chỉ ra
3. Cảm giác, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của vật chất. Ý thức con
người là sự phản ánh thực tại khách quan, nghĩa là con người có khả năng nhận
thức được thế giới.
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết
học trên lập trường duy vật biện chứng, thừa nhận trong nhận thức luận thì vật chất
là tính thứ nhất, và con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Như vậy,
định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, khắc phục được tính
chất siêu hình, trực quan trong các quan niệm về vật chất.
- Định nghĩa vật chất của Lênin còn chống lại các quan điểm duy tâm về vật
chất, tạo cơ sở lý luận để khắc phục quan điểm duy tâm về đời sống xã hội
- Định nghĩa vật chất của Lênin còn có vai trò định hướng cho sự phát triển
của nhận thức khoa học.
2.2. Vật chất và vận động.
a. Vận động là gì?
5
Ăngghen viết:"Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một
phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao
gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi
vị trí đơn giản cho đến tư duy".
Theo quan điểm của triết học macxit, vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, là
sự biến đổi nói chung.
b. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.
Nghĩa là vật chất tồn tại bằng cách vận động, thông qua vận động mà biểu
hiện sự tồn tại của mình. Không thể có vật chất mà không có vận động và ngược
lại.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, vận động của vật chất là tự thân vận động;
bởi vì tất cả các dạng vật chất đều là một kết cấu vật chất bao gồm các yếu tố, các
mặt, các quá trình liên hệ, tác động qua lại với nhau. Chính sự tác động đó đã dẫn
đến sự biến đổi nói chung, tức là vận động. Quan điểm này đối lập với quan điểm
duy tâm, siêu hình về vận động đi tìm nguồn gốc của vận động ở thần linh hoặc ở
sự phân hoá của vật chất". Đó là sự ổn định, là sự bảo toàn tính quy định của các
sự vật, hiện tượng.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, vận động là tuyệt đối, còn đứng im là
tương đối, tạm thời, thể hiện ở các điểm sau:
- Vật thể chỉ đứng im trong một quan hệ nhất định.
- Vật thể chỉ đứng im trong một hình thức vận động trong một lúc nào đó, chứ
không phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc.
- Đứng im là biểu hiện trạng thái vận động trong thăng bằng, ổn định tương
đối.
7
- Vận động cá biệt có xu hướng hình thành sự vật, hiện tượng ổn định nào đó;
còn vận động nói chung thì làm cho tất cả không ngừng biến đổi.
2.3. Không gian và thời gian
- Không gian là hình thức tồn tại của vật chất, biểu hiện những thuộc tính như
cùng tồn tại và tách biệt, có kết cấu và quảng tính
- Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất bao gồm những thuộc tính như:
Độ lâu của sự biến đổi, trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật, các trạng thái
khác nhau trong thế giới vật chất
- Không gian và thời gian tồn tại trong sự liên hệ thống nhất với nhau và đều
là hình thức cơ bản của vật chất đang vận động. Quan điểm này đối lập với quan
điểm duy tâm, siêu hình tách rời không gian và thời gian với vật chất đang vận
động.
Ví dụ: Niutơn coi không gian, thời gian là tuyệt đối, không biến đổi. Không
gian như cái hộp trống rỗng khổng lồ có thể xếp vào, lấy ra các sự vật; thời gian
như dải băng được trải ra một cách đều đặn.
Những phát minh trong toán học và vật lý học đã bác bỏ quan điểm trên. Hình
học phi Ơclít của Lôbasepxki, Riman; thuyết tương đối của Anhxtanh đã chứng
minh rằng không gian và thời gian có sự biến đổi cùng với sự vận động của vật
chất. Khi vật thể vận động với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng thì kích thước của
nó rút ngắn lại, thời gian trôi chậm đi.
là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ
thống vật chất khác.
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh
của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao với nhiều hình thức khác nhau.
9
- Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể
hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá.
- Phản ánh sinh học trong giới hữu sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau
ứng với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật:
+ Tính kích thích: Thể hiện ở thực vật, động vật bậc thấp, đã có sự chọn lọc
trước những tác động của môi trường.
+ Tính cảm ứng: Thể hiện ở động vật bậc cao có hệ thần kinh, xuất hiện do
những tác động từ bên ngoài lên cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lại. Nó hoàn
thiện hơn tính kích thích, được thực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều
khiển mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường thông qua cơ chế phản xạ không điều
kiện.
+ Tâm lý động vật: Là hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với các
quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện, thông qua các cảm giác, tri giác,
biểu tượng ở động vật có hệ thần kinh trung ương.
- Phản ánh ý thức: Gắn liền với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người.
Đó là hình thức phản ánh mới, đặc trưng của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất
là bộ óc con người.
Như vậy, sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người là nguồn gốc
tự nhiên của ý thức.
b. Nguồn gốc xã hội
Để ý thức có thể ra đời, những nguồn gốc tự nhiên là rất cần thiết nhưng chưa
đủ. Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở
vai trò của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
- Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng 2 tay. Điều
này cùng với chế độ ăn có thịt đã thực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình
khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý
thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con ngư-
ời cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao
động. Vì vậy, ý thức là cái vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con
người và được cải biến đi ở trong đó”.
Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái
không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra
những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu
tượng và có tính khái quát cao.
Tuy nhiên, sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, bởi vì ý thức bao giờ
cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại.
- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính
xã hội.
3.3. Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm
nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Có thể chia cấu trúc của ý thức theo
hai chiều:
a. Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý
trí, ý chí , trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.
b. Theo chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức.
4. Vai trò tác dụng của ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ
giữa vật chất và ý thức.
Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý
thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải
xuất phát từ thế giới khách quan. Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành
động theo các quy luật khách quan.
12
Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của
mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì như vậy sẽ mắc phải bệnh chủ
- " Dùng để chỉ thực tại khách quan", " tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác":
Vật chất có vô vàn các thuộc tính khác nhau, vật chất là vô cùng, vô tận. Chung
nhất của mọi dạng khác nhau của vật chất là thuộc tính " Thực tại khách quan" tức
là sự tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người chính là tiêu chuẩn để
phân biệt những gì là vật chất ( trong tư nhiên & đời sống xã hội), những gì không
phải là vật chất. Tồn tại khách quan tức là khẳng định thế giới vật chất có thực, tồn
tại tự thân, ko phụ thuộc vào bất kỳ một lực lượng nào." Được đem cảm giác";
V/c là nguồn gốc, nguyên nhân của cảm giác, có trước cảm giác( ý thức), quyết
định nội dung của cảm giác c/v là tính thứ nhất. "được cảm phản ánh": V/c tồn
tại, khách KQ nhưng ko phải vô hình, trườu tượng tồn tại cụ thể khi tác động đến
giác quan con người thì tạo nên cảm giác ở con người & ngược lại con người củng
nhận thức về nó. Vậy, đối với thế giới v/c có thể chưa nhận thức được chứ không
thể không nhận thức được thế giới.
* Ý nghĩa phương pháp luận: Qua định nghĩa c/v của Lenin trên lập trường
chủ nghĩa duy vật biện chứng, có ý nghĩa thế giới quan & phương pháp luận sâu
sắc đối với nhận thức khoa học & thực tiễn, khắc phục tính trực quan, siêu hình
máy móc trong quan niện về c/v của chủ nghĩa duy vật cũ là vũ khí lý luận để
đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm khách quan & chủ nghĩa duy tâm chủ quan như
thuyết ko thể biết Góp phần hoàn thiện thế giới quan & phương pháp luận khoa
học cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới V/c vô cùng phong phú
14
BÀN VỀ PHẠM TRÙ VẬT CHẤT CỦA V.I.LÊNIN (*)
NGUYỄN HUY CANH (**)
Trong bài viết “Phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong
“Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán””, tiến sĩ Phạm Văn
Chung đã cố gắng làm rõ thêm định nghĩa vật chất của V.I.Lênin, song đó mới chỉ
là sự cảm nhận và khi luận giải đã không tránh khỏi những nhầm lẫn, luẩn quẩn
trong việc thể hiện ý tưởng của mình. Với mục đich trao đổi ý kiến của mình với
tiến sĩ Phạm Văn Chung, trong bài viết này, tác giả đã cố gắng vạch ra những
Lấy lại một ví dụ trong toán học mà tác giả đã có ý đưa ra – “Hình thang là
một tứ giác có hai cạnh đối song song”.
Ở những loại định nghĩa này, tác giả mới chỉ nhìn thấy khái niệm là sự phản
ánh, biểu hiện trực tiếp, nói trực tiếp, nhằm chính diện vào đối tượng trong hiện
thực mà không thấy rằng, nội dung ấy còn là lời giải thích cho hình thang với tư
cách sản phẩm của quá trình tư duy, quá trình nhận thức. Hai tư cách này của hình
thang (cũng như của vật chất) có một sự khác biệt nhau - đó là điều ai cũng biết.
Nhưng từ đó, không cho phép chúng ta đánh mất đi tính thống nhất, đồng nhất giữa
chúng. Do chỉ nhìn thấy sự khác nhau, sự đối lập không thể vượt qua được, nên tác
giả (P.V.C) đã không nhìn thấy được cái một trong cách phát biểu mà chúng ta sẽ
phân tích dưới đây.
Có một điều xin được bổ sung. Khi phát biểu về định nghĩa hình thang, người
ta không đưa thêm vào cụm từ “một khái niệm toán học dùng để chỉ”. Điều này,
theo tôi, chỉ làm cho định nghĩa thêm dài dòng, rối rắm và không cần thiết. Bởi vì
hình thang là một vật của trừu tượng toán học, là sản phẩm của tư duy trừu tượng
16
hay là một phức hợp cảm giác, cảm tính, kinh nghiệm là điều không quan trọng đối
với họ và đó cũng không phải là nhiệm vụ mà toán học phải quan tâm giải quyết.
Trở lại định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin, chúng ta dẫn ra ở đây hai định
nghĩa:
- “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác… ” (1).
- “Vật chất là một thực tại khách quan được đem lại cho chúng ta trong cảm
giác” (2).
Tác giả (P.V.C) đã có sự phân chia, tách rời các định nghĩa trên thành hai
dạng. Theo tác giả, ở định nghĩa dạng (1), V.I.Lênin (chỉ) giải thích trực tiếp, nói
trực tiếp về vật chất với tư cách một vật trong tư duy, một trừu tượng triết học. Còn
ở định nghĩa dạng (2) mới là sự giải thích trực tiếp, chính diện về vật chất.
Chúng ta thấy rằng, ở định nghĩa dạng (1), nội dung “… dùng để chỉ thực tại
khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác …, và tồn tại không lệ
tương đối) về sự vật trong vận động, biến đổi thì phải cần đến sự tổng hợp của
nhiều trừu tượng, nhiều khái niệm về chúng. Điều này giải thích vì sao có những
thuộc tính cơ bản của đối tượng không được phản ánh vào trong khái niệm, mà nó
lại phản ánh, biểu hiện vào trong những khái niệm khác, những trừu tượng khác
được thực hiện bằng những con đường khác nhau của quá trình nhận thức.
Ví dụ, trong toán học, khái niệm hình thang đã chỉ ra hai thuộc tính cơ bản của
nó: a) là một tứ giác (lồi); b) hai cạnh đối song song. Nhưng hình thang không chỉ
có hai thuộc tính cơ bản đó. Người ta đã chỉ ra được nhiều thuộc tính có tính bản
18
chất khác, như tính chất về góc, đường trung bình, diện tích của nó được phản ánh
ở trong các định lý.
Trở lại định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin. Có một điều rõ ràng ở định nghĩa
này: nó là sự biểu hiện chủ quan hai thuộc tính cơ bản, phổ biến nhất của vật chất.
Thế nhưng, có lẽ, tác giả (P.V.C) đã có một sự nhầm lẫn nào đó giữa định
nghĩa của khái niệm với tính chất của đối tượng, nên từ định nghĩa này, tác giả đã
đi tới một kết luận chưa đúng: “vật chất có hai thuộc tính căn bản, phổ biến…”.
Chúng ta đã biết, vận động, phát triển, không gian và thời gian cùng nhiều
thuộc tính khác đều là những thuộc tính cố hữu của vật chất mà tính căn bản, phổ
biến của nó cũng chẳng kém gì hai thuộc tính trên.
Vật chất là vô cùng, vô tận và luôn biến đổi. Việc tác giả khuôn chúng lại chỉ
vẻn vẹn có hai phẩm chất thôi là kết quả của một tư duy triết học cứng nhắc. Hậu
quả của việc làm này là đã đem lại cho chúng ta một bức tranh quá nghèo nàn về
thế giới. Nhưng thực ra, sự tìm tòi, sự nhận thức triết học của chúng ta về nó là một
quá trình đầy gian khổ và lâu dài như bản thân sự tồn tại của chúng ta vậy.
() Nhân bài viết của TS. Phạm Văn Chung đăng trên Tạp chí Triết học, số 7,
2007, tr. 49 - 57.
19