Thuyết Tân Cổ Điển Và Cải Cách Cận Biên
từ kinh tế chính trị đến khoa học kinh tế
"Cuộc cách mạng" tân cổ điển bao gồm việc từ bỏ học thuyết giá
trị lấy lao động hay công việc làm trọng tâm trong sản xuất vật
chất và việc thay thế học thuyết này bằng một quan điểm về "lợi
ích" đạt được khi của cải vật chất được tiêu thụ. Đồng thời, họ
cũng đã đưa phân tích về cả hai mặt sản xuất và tiêu thụ dưới
dạng "cận biên" và toán học, từ đó có thể lập ra một bảng phân
loại mới hoàn toàn về những phương pháp phân tích và toán học.
Những thay đổi này không chỉ bao gồm sự thay đổi trọng tâm
nghiên cứu của học thuyết mà còn giới hạn lại phạm vi của cái
mà người ta cứ gọi là "kinh tế học" chứ không phải "kinh tế chính
trị".
Heilbronner thể hiện sự giới hạn này bằng cách bắt đầu thay đổi
từ những quan điểm của cả thế giới và cố "làm sáng tỏ cả con
đường dẫn đến một xã hội đang tiến triển tốt đẹp" nhằm chuyên
môn hoá nghề nghiệp và "giải thích" một cách chi tiết hơn về
những công việc làm trong nền kinh tế. Ông ta cho rằng, thay đổi
này diễn ra khi thế giới ngày càng phát triển, làm tăng mức
lương, giảm giờ làm, do đó đây là một thế giới "đầy hy vọng và
hứa hẹn".
Tiếc thay, cũng giống như nghiên cứu của những nhà kinh tế học
tân thời mà ông đang miêu tả, thì phần tính toán của ông lại bỏ
xót đi phần cốt lõi nhất của sự phát triển đó, cái phần đen tối và
nhuốm đầy máu, đó là cuộc đấu tranh giai cấp chống lại công
việc một địa thế về những cuộc đình công, những hành động
phá hoại của công nhân, về cuộc bạo động chống tư bản, sự phát
triển đó sử dụng những kẻ đánh thuê nói riêng và đàn áp của
cảnh sát nói chung. Tình thế xung đột giữa công nhân và tư bản
mang tính địa phương đó ngày càng trãi rộng ra cùng với sự phát
triển của hệ thống xã hội này. Một mặt công nhân tự mình đứng
nhóm tác giả: một là của những tác giả người Ý vào thế kỷ 18 và
hai là những tác giả người Anh nổi tiếng, thuộc trường phái
"thuyết vị lợi"[3], những người rất tin vào tác phẩm của Jeremy
Bentham.
Nhóm tác phẩm của những tác giả người Ý ít được biết đến trong
các nước nói tiếng Anh. Điều này có nhiều nguyên do. Thứ nhất,
trong số đó có rất ít tác phẩm được dịch sang tiếng Anh; thứ hai,
hầu như người ta chỉ biết đến những tác giả trường phái tân cổ
điển bắt nguồn từ Bentham và những tác phẩm của họ được trích
dẫn nhiều trong các tác phẩm khác. Tuy nhiên, tác phẩm trước
đó của Galiani, của Beccaria và Verri cũng đã được biết đến và
bạn có thể tham khảo phiên bản tiếng Anh, bài viết của Cesar
Beccaria về vấn đề tội phạm và mức xử phạt, trong đó những gì
ông ta đưa ra nay đã trở thành cách thức nổi tiếng. Cách thức đó
là chính sách công cộng, chính sách này trực tiếp mang lại "niềm
hạnh phúc lớn lao nhất cho đại đa số mọi người". Lập luận của
Beccaria về việc quy định mức xử phạt ra sao để có được kết
quả như trên cũng mang tính "vị lợi", ông viết: "niềm hạnh phúc
và sự đau đớn là những động cơ hành động của con người duy
nhất được tạo ra bằng cảm giác". Do vậy, việc tính toán mức
phạt ra sao phải tương ứng với mức độ phạm tội để có thể đạt
được sự hợp lý nhất và nhằm giảm thiểu tình hình phạm tội cũng
như tối đa hoá hạnh phúc xã hội, hoặc giả tối đa hoá những cái
mà sau này gọi là "phúc lợi xã hội".
Để biết thêm về những tác phẩm khác của các tác giả người Ý
trong phạm vi "thuyết vị lợi", xin xem bảng tóm tắt tại trang web
cepa hay có thể tra cứu thêm hướng giải quyết vấn đề của
Joseph Schumpeter trong quyển Lịch Sử Phân Tích Kinh Tế.
Việc tìm hiểu thêm về các tác giả người Ý một phần nào đó cũng
mang ý nghĩa thiết thực bởi vì những tác phẩm của Jeremy
lợi, niềm vui , sự hạnh phúc […]."[4] Cùng với sự phát triển của
kinh tế học, khái niệm này cũng đã được sử dụng trong cải cách
hay đưa ra những thuật ngữ toán học.
Augustin Cournot: Nhu Cầu Không Cần Đến Lợi ích
Augustin Cournot (1801-1877), bắt đầu viết từ năm 1838, và
trong suốt hơn 30 năm trước khi "cải cách cận biên" xuất hiện
vào đầu những năm 1870, ông đã có thể đưa ra những ý tưởng
về vấn đề trao đổi, về vấn đề thị trường, và vấn đề cạnh tranh với
mức độ chính xác gần như những nghiên cứu của các sinh viên
kinh tế học vi mô trung cấp của thời đại ngày nay.
Cournot nhận thức rất rõ khi bản thân là một nhà cải cách áp
dụng toán học vào vấn đề kinh tế chính trị. Và đến nổi ông cảm
thấy rằng cần phải chứng minh bằng hành động của mình. Trong
lời mở đầu quyển Những Nguyên Lý Toán Học Về Tài Sản
(1838), ông có nhận xét về những nét mới trong đề xuất của
mình:
"Tôi thừa nhận rằng, việc chỉ trích các học giả nổi tiếng là bắt đầu
từ tôi. Tôi muốn họ phải so sánh đối chiếu những dạng thức toán
học, và chắc chắn ngày nay chúng ta rất khó khắc phục lại những
định kiến mà đã được nhân rộng bởi những nhà tư tưởng như
Smith và những tác giả hiện đại khác.
[…]
Hầu hết những tác giả đã cống hiến hết cho kinh tế chính trị, tất
cả họ dường như đều co chung một cái nhìn sai lầm khi áp dụng
những phân tích toán học vào giả thuyết về tài sản. Họ chỉ nghĩ
rằng việc tính toán ra các con số chỉ bao gồm những ký hiệu và
công thức mà thôi, và chúng ta đều biết rõ rằng đối với việc định
giá trị bằng những con số mà chỉ sử dụng lý thuyết một cách đơn
thuần thì đúng là không thích hợp chút nào, do vậy có thể rút ra
kết luận: nếu việc tính toán chuẩn xác hay không có sai sót gì thì
trong tác phẩm Tài Sản Quốc Gia và Lý Thuyết về Tình Cảm Đạo
Đức của Adam Smith, hay quyển Tư Bản của Karl Marx để tập
trung miêu tả kỷ lưỡng về những vấn đề đó. Trong khi ông không
nói đến những gì mà ông cho là đã quá rõ ràng, thì lập luận của
ông hơi đáng ngờ khi những điều kiện sơ khởi của các loại
hình toán học có thể không phát triển nữa nhưng có liên quan
đến việc phát triển của các biến số của nó, thì việc tái sản xuất
liên tục của một loại hình đặc biệt nào đó trong xã hội cũng có
liên quan đến việc tái sản xuất liên tục của những đặc tính đã tạo
ra nó từ lúc bắt đầu. Do vậy bỏ qua vấn đề này có thể bỏ xót cả
những khía cạnh trung tâm và quan trọng của những mối quan hệ
xã hội hiện hữu cần được phân tích.
Với phạm vi nghiên cứu trong vòng một học kỳ, chúng ta sẽ chỉ
tìm hiểu một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất mà
Cournot đưa ra: nhu cầu thị trường[5].
Như chúng ta đã biết, những nhà quan sát và những học giả
nghiên cứu về thị trường đã tranh cãi nhiều về "nhu cầu" hàng
hoá trong suốt nhiều năm qua. Nhưng không một ai đưa ra được
bản liệt kê nhu cầu hay hàm nhu cầu gì cả. Nhiều người không
biết rằng Cournot đã làm được điều đó cách hàng mấy thập kỷ
trước khi nó được đưa ra lần nữa.
Trong chương 4 quyển Những Nguyên Tắc Toán Học Về Tài Sản
(1838), Cournot bắt đầu tranh luận về nhu cầu với một "tiên đề" là
"một người cố gắng có được những giá trị lớn nhất có thể từ
hàng hoá hay sức lao động của mình". Sau đó vào những năm
1870, những câu phát biểu về thuật ngữ "giá trị" được thay bằng
thoả dụng; nhưng vào năm 1838, ông lại định nghĩa đơn giản hơn
và trưc tiếp hơn: mỗi người cố gắng để có được phần lợi nhuận
từ đồng tiền của mình. Quan điểm về mức cầu của ông xuất phát
từ trực giác bản thân: nếu vật dụng rẻ hơn, người ta sẽ mua
Tuy nhiên, Cournot không đưa ra công thức mức cầu mà chúng
ta vẫn sử dụng ngày nay: D=F(p) trong đó D là mức cầu (hay
doanh số hàng năm), p là mức giá hàng hoá- là ẩn số. Ông gọi
công thức này là luật cầu.
Khi thử vẽ ra đường cong từ giả thuyết bao gồm cả những thói
quen và tập quán, những giá trị sử dụng, phân phối thu nhập và
những nguyên nhân đạo đức, và giả thuyết này được cho là
không khả thi (chính xác là rút ra từ lợi ích), ông cho rằng một
người có thể biết được hình dạng thực của những đường cong
đó bằng cách nghiên cứu quan sát những gì diễn ra trên thị
trường.
Ông nói là ta có thể kẻ ra "một bảng những giá trị tương ứng của
D và p; sau đó dùng những phương pháp nội suy hay vẽ hình thì
có thể vẽ được một đường cong hay viết được một công thức
thực nghiệm thể hiện được hàm số chưa biết đó." Phương pháp
ông đang nghĩ sau này được tiếp nhận trong những nghiên cứu
toán học kinh tế, ví dụ như phương pháp thống kê, như phép
phân tích hồi quy để tìm đường cong nào là "thích hợp" nhất hay
có thể thể hiện được những tình huống quan sát được. Tuy nhiên
do "gặp khó khăn để có được những quan sát thích hợp và chính
xác" nên ông vẫn không chắc lắm về tính khả thi của những
phương pháp nghiên cứu như vậy và lại tiếp tục cho là hình thức
liệt kê chi tiết các số liệu toán học vẫn cho ta những kết quả chính
xác.
Khi ứng dụng những công thức này, ông quan niệm rằng ta có
thể giả định là trong một xã hội tư bản phát triển toàn diện có
nhiều người tiêu thụ và nhiều loại thị trường, thì hàm cầu F(p) đó
sẽ mang tính liên tục. Tính chất liên tục này ám chỉ những thay
đổi "cận biên" chỉ là những thay đổi nhỏ, và ta có một cách tính
mới:
Atlantic mùa hè 2003: nếu chúng ta chia dD/dp hay D/p cho D/p,
chúng ta sẽ có được công thức co giãn giống nhau: (dD/D)/(dp/p)
< hay >1. Phát hiện về tính co giãn này giúp cho Alfred Marshall
đặt tên đó cho nó sau này.
Vậy là chúng ta đã điểm qua những quan điểm của những nhà
kinh tế tân cổ điển, và những bình luận của họ về "mức cầu" của
tầng lớp công nhân có đủ để họ sinh sống hay không hoặc có đủ
để có thể ngăn chặn khủng hoảng kinh tế và tình trạng mức
lương bị giảm.