Báo cáo "Vai trò của lãi suất trong phát triển kinh tế" - Pdf 16

Tiểu luận
Vai trò của lãi suất
trong phát triển kinh tế
Mục Lục
Ti u lu nể ậ 1
Vai trò c a lãi su t trong phát tri n kinh tủ ấ ể ế 1
M c L cụ ụ 2
L I M UỜ ỞĐẦ 4
Ph n I : LÝ LU N CHUNG V LÃI SU T VÀ VAI TRÒ C A LÃI SU T I ầ Ậ Ề Ấ Ủ Ấ ĐỐ
V I QUÁ TRÌNH PHÁT TRI N KINH T .Ớ Ể Ế 5
I - LÃI SU T – KHÁI NI M VÀ B N CH T.Ấ Ệ Ả Ấ 5
1. Các lý thuy t kinh t v b n ch t c a lãi su t ế ế ề ả ấ ủ ấ 5
2 - Các phép o lãi su tđ ấ 7
3. Phân bi t lãi su t v i m t s ph m trù kinh t khác:ệ ấ ớ ộ ố ạ ế 8
Lãi su t th c = lãi su t danh ngh a – t l l m phát d tínhấ ự ấ ĩ ỷ ệ ạ ự 9
II. CÁC NHÂN T NH H NG N LÃI SU T ỐẢ ƯỞ ĐẾ Ấ 9
1. C a c i – t ng tr ng.ủ ả ă ưở 10
2. Kh n ng sinh l i d tính c a các c h u tả ă ờ ự ủ ơ ộ đầ ư 10
3. L m phát d tính:ạ ự 11
4. Thay i m c giáđổ ứ 12
5. Ho t ng thu, chi c a Nh n c ạ độ ủ à ướ 12
6. T giá h i oáiỷ ố đ 12
7. L ng ti n cung ngượ ề ứ 13
III. VAI TRÒ C A LÃI SU T TRONG N N KINH TỦ Ấ Ề Ế 14
1. Lãi Su t v i quá trình huy ng v n.ấ ớ độ ố 14
2. Lãi su t v i quá trình u tấ ớ đầ ư 15
3. Lãi su t v i tiêu dùng v ti t ki m:ấ ớ à ế ệ 15
4. Lãi su t v i t giá h i oái v ho t ng xu t nh p kh uấ ớ ỷ ố đ à ạ độ ấ ậ ẩ 16
5. Lãi su t v i l m phátấ ớ ạ 17
6. Lãi su t v i quá trình phân b các ngu n l c.ấ ớ ổ ồ ự 17
7. Lãi su t vai trò c a nó i v i Ngân H ng Th ng m iấ ủ đố ớ à ươ ạ 17

Như chúng ta đã biết, lãi suất là một trong những biến số dược theo dõi một
cách chặt chẽ nhất trong nền kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hàng ngày
trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sự dao động của lãi suất ảnh hưởng
trực tiếp đến các quyết định của cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của
các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế. Bài viết này sẽ cho người đọc thấy
được và hiểu được một số vấn đề cơ bản về lãi suất, phân biệt lãi suất với một
số phạm trù kinh tế, các nhân tố tác động đến lãi suất, và vai trò của lãi suất đối
với nền kinh tế. Từ đó người đọc sẽ thấy được vai trò, sự cần thiết của lãi suất.
Từ việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lãi suất, thấy rõ tầm quan trọng
của lãi suất,từ đó vận dụng vào thực tiễn vào Việt nam nhận thấy lãi suất được
điều hành dưới hình thức các chính sách lãi suất trong từng thời kỳ. Chính sách
lãi suất là một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia,
nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát.lãi suất được sử dụng
linh hoạt sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế. Ngược lại lãi suất được giữ
một các cố định, có thể kích thích tăng trưởng kinh tế những sang thời kỳ khác,
nó trở thành vật cản cho sự phát triển kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này tác giả chọn đề tài “ … ”
để viết đề án. Bố cục gồm 2 phần chính
Phần I: Lý luận chung về lãi suất và vai trò của lãi suất đối với quá trình
phát triển kinh tế.
Phần II: Các chính sách lãi suất được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian
qua.
Phần I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LÃI
SUẤT ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ.
I - LÃI SUẤT – KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT.
Trong nền kinh tế thị trường lãi suất là một trong những biến số được theo
dõi một cách chặt chẽ nhất bởi nó quan hệ mật thiết đối với lợi ích kinh tế của
từng người trong xã hội. Lãi suất tác động đến quyết định của mỗi cá nhân: chi
tiêu hay tiết kiệm đề đầu tư. Sự thay đổi lãi suất có thể dẫn tới sự thay đổi
quyết định của mỗi doanh nghiệp: vay vốn để mở rộng sản xuất hay cho vay

tín dụng, sự tồn tại của lãi suất và tác động của nó do mục đích khác quyết
định, đó là mục đích thoả mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của tất cả các thành
viên trong xã hội. Lãi suất không chỉ là động lực của tín dụng mà tác dụng của
nó đối với nkt phải bám sát các mục tiêu kinh tế. Trong XHCN không còn
phạm trù tư bản và chế độ người bóc lột người song điều đó không có nghĩa là
ta không thể xác định bản chất của lãi suất. Bản chất của lãi suất trong xã hội
chủ nghĩa là “giá cả của vốn cho vay mà nn sd với tư cách là công cụ điều hoà
hoạt đọng hạch toán kinh tế ”
Qua những lãi suất luận trên ta thấy các nhà kinh tế học Mác xít đã chỉ rõ
nguồn gốc và bản chất lãi suất. Tuy nhiên quan điểm của họ không thể hiện
được vai trò của lãi suất và các biến số kinh tế vĩ mô khác. ngày nay trước sự
đổ vỡ của hệthống XHCN, cùng với chính sách làm giàu chính đáng , chính
sách thu hút đầu tư lâu dài… đã không phù hợp với các chính sách trước đây vì
nó tôn trọng quyền lợi người đầu tư, người có vốn, thừa nhận thu nhập từ tư
bản.
1.2 Lý thuyết của J.M. Keynes về lãi suất:
J.M. KEYNES (1833-1946) nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh cho rằng
lãi suất không phải là số tiền trả công cho việc tiết kiệm hay nhịn chi tiêu vì khi
tích trữ tiền mặt người ta không nhận được một khoản trả công nào, ngay cả khi
trường hợp tích trữ rất nhiều tiền trong một khoảng thời gian nhất định nào đó.
Vì vậy: “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở
thích chi tiêu tư bản”. lãi suất do đó còn được gọi là sự trả công cho sự chia
lìcan với của cải, tiền tệ.”
1.3 Lý thuyết của trường phái trọng tiền về lãi suất:
M.Friedman, đại diện tiêu biểu của trường phái trọng tiền hiện đại, cũng có
quản điểm tương tự J.M.KEYNES rằng lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ.
Tuy nhiên quan điểm của M. Friedman khác cơ bản với Keynes ở việc xác định
vai trò của lãi suất. Nừu Keynes cho rằng cầu tiền là một hàm của lãi suất còn
M.Friedman dựa vào nghiên cứu các tài liệu thực tế thống kê trong một thời
gian dài, ông đi đế khẳng định mức lãi suất không có ý nghĩa tác động đến

FP
i
FP
i
FP
TV
+
++
+
+
+
+
+
=
111
1
32

TV: toàn bộ món tiền vay
FP: số tiền trả cố định hàng năm.
N: số năm cho tới mãn hạn
2.3. trái khoán coupon:
( ) ( ) ( )
n
i
F
i
C
i
C

sd của vốn vay - đó chính là khả năng đầu tư sinh lời hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng. Lãi suất cũng biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn như
giá cả hàng hoá thông thường. Nhưng lãi suất là giá cả cho quyền sử dụng mà
không phải quyền sở hữu, hơn nữa không phải quyền sử dụng vĩnh viễn mà chỉ
trong một thời gian nhất định. Thêm vào đó, lãi suất khôg phải là biểu hiện
bằng tiền giá trị vốn vay như giá cả hàng hoá thông thường, mà nó độc lập
tương đối – thường nhỏ hơn nhiều so với giá trị vốn vay.
3.2. Lãi suất với lợi tức.
Đối với một chứng khoán bất kỳ, lợi tức được định nghĩa là tiền lãi trả cho
chủ sở hữu cộng với những thay đổi về giá trị của chứng khoán đó.
Tỷ suất lợi tức là tỷ số lợi tức chia cho giá mua.
Ví dụ: Một người mua một trái khoán chính phủ mệnh giá 1 triệu VND,
thời hạn 5 năm, lãi suất 12% năm. sau một năm anh ta bán trái khoán đó với giá
1,2 triệu VND.
Tiền lãi: 12%*1.000.000 = 120.000 VND
Lợi tức chứng khoán:
(12%*1.000.000) + (1.200.000 – 1.000.000) = 320.000 VND.
Tỷ suất lợi tức: 320.000/1.000.000 = 32%
Qua ví dụ trên ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa lãi suất và lợi tức của
một chứng khoán bất kỳ.
3.3.Lãi suất thực với lãi suất danh nghĩa.
Từ lâu nay chúng ta đã quên mất tác dụng của lạm phát đối với chi phí vay
mượn. Cái mà chúng ta gọi là lãi suất không kể đến lạm phát cần được gọi một
các chính xác hơn là lãi suất danh nghiã để phân biệt với lãi suất thực. Lãi suất
danh nghĩa là lãi suất cho ta biết sẽ thu được bao nhiêu đồng hiện hành về tiền
lãi nếu cho vay một trăm đồng trong một đơn vị thời gian(năm, tháng…). Như
vậy sau khoảng thời gian đó ta sẽ thu được một khoản tiền gồm gốc và lãi. Tuy
nhiên giá cả hàng hoá không ngứng biến động do lạm phát, điều chúng ta quan
tâm là lúc đó số tiền gốc và lãi sẽ mua được bao nhiêu hàng hoá.
Lãi suất thực là lãi suất danh nghĩa được chỉnh lại cho đúng theo những

không đổi) lãi suất sẽ tăng lên và ngược lại”.
2. Khả năng sinh lời dự tính của các cơ hộ đầu tư
càng có nhiều cơ hội đầu tư sinh lợi mà một doanh nghiệp dự tính có thể
làm thì doanh nghiệp sẽ càng có nhiều ý định vay vốn và tăng số dư vay nợ
nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư này. Khi nền kinh tế đang phát triển nhanh có
rất nhiều cơ hội đầu tư được trông đợi là sinh lợi, do đó lượng cầu tiền cho vay
ở mỗi giá trị lãi suất tăng lên.
Lãi suất i
i
2
i
1
Ms
Md
1
Md
2
E
1
E
2
Hình 1.1: Mô tả mối liên hệ giữa tăng trưởng v lãi suà ất. Khi của cải tăng
lên đường cầu tiền dịch chuyển sang phải từ Md
1
đến Md
2
l m lãi suà ất từ i
1

đến i

Lãi suất i
i
2
i
1
Md
1
Md
2
Lượng
tiền
S
Hình 1.2: Mô tả mối liên hệ
giữa lạm phát dự tính v lãi à
suất. Lạm phát dự tính tăng
dần đến cầu về tư bản cho
vay tăng từ D
1
đến D
2
đồng
thời cung giảm từ S
1
đến S
2
,
lãi suất tăng từ i
1
đến i
2

hoặc người dân dự đoán lạm phát sẽ tăng cao do Nhà nước tăng khối lượng
cung ứng tiền tệ, dẫn tới việc găm tiền lại để mua tài sản khác làm cung quỹ
cho vay bị giảm một cách tương ứng và lãi suất tăng lên.
Trường hợp bội thu ngân sách sẽ dẫn đến lãi suất giảm do sự vận động
ngược lại với trường hợp chi ngân sách.
6. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước
khác. Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định và chịu
Ms
Lãi suất i
i
2
i
1
Md
1
Md
2
Lượng
tiền
E
2
E
1
Hình 1.4: Quan hệ giữa mức
giá v lãi suà ất P tăng l m dà ịch
chuyển từ Md
1
đến d
2

D
1
(đ)
Q
S(đ)
D
2
(đ)
E ($/đ)
E
2
E
1
D(đ)
Q
S
1
(đ)
S
2
(đ)
Hình 1.7: Mô
tả khi đồng nội
tệ giảm giá,
e($/đ) giảm
l m xuà ất khẩu
tăng, S($) tăng
hay D(đ) tăng
l m à đồng nội
tệ Tăng giá v à

+ Tỷ lệ lạm phát< lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợi nhuận
bình quân.
+ Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay)
2. Lãi suất với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi
mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ taì sản cố định này nhiều hơn số lãi phải
trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinh
doanh có điều kiện tiến hành mở rộng đâu tư và ngược lại. Trong môi trường
tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có
kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộng
sản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàng nếu lãi
suât của nó cao
Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và xuống
giá, có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vì nguyên
tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư, sự chênh
lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư.
Mối quan hệ giữa đầu tư và lãi suất được thể hiện qua đồ thị sau:
3. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm:
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu
dùng và tiết kiệm. Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu
nhập, vấn đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm
trong đó lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó.
Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho
việc tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn. khi lãi suất cao đem lại
thu nhập từ khoản tiều để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết
kiệm tăng.
Lãi suất
Đầu tư
i
1

1
NX
2
NX
1
NX = NX(i)
i
2
Hình 1.9: Với một mức lãi suất
thực tế thấp, tỷ giá thấp và xuất
khẩu ròng cao với mức lãi suất
cao tỷ giá cao và xuất khẩu ròng
thấp
e(USD/VND)
i
1
Lợi tức dự tính
RET1
i
2
RET2
Hình 1.10: Lãi suất
nước ngoài tăng,
đường lợi tức dự
tính của đồng ngoại
tệ dịch chuyển sang
phải, và TGHĐ
giảm
5. Lãi suất với lạm phát
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm

Lãi suất Ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh
doanh của NHTM và khách hàng. Nừu lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng
thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Bởi vậy lãi suất
Ngân hàng vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước vừa là công cụ điều
hành vi mô của các NHTM.
Do vậy, khi huy động tiền gửi mà với lãi suất thấp thì không khuyến khích
doanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, sẽ dẫn đến hậu quả là
NHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng.
Ngược lại, nếu lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
không có lãi hoặc lãi quá thấp sẽ thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động để gửi
vốn vào ngân hàng.
PHẦN II.: CÁC CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT ĐƯỢC THỰC HIỆN Ở VN
TRONG THỜI GIAN QUA
I . Giai đoạn từ tháng 3/1989 trở về trước.
Đây là thời kỳ điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất thực âm, chính sách lãi
suất cứng nhắc bị áp đặt theo kiểu hành chính. Tuy ngân hàng Nhà nước đã có
những điều chỉnh theo từng thời kỳ những do giai đoạn này có lạm phát phi mã
nên lãi suất luôn trong tình trạng âm. Nghĩa là:
+ Lãi suất tiền gửi < mức lạm phát
+ Lãi suất cho vay < lãi suất huy động < mức lạm phát
Chính sách lãi suất như vậy đã có tác động xấu đến hd của NHTM và doanh
nghiệp.
1. Đối với NHTM
- Chính sách lãi suất cứng nhắc khiến cho các NHTM không linh hoạt trong
hoạt động tín dụng trước mọi biến động của nền kinh tế.
- Lãi suất tín dụng luôn ở mức quy định bắt buộc nên không khuyến khích
cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM.
- Lãi suất tiền gửi < lạm phát nên không khuyến khích người dân và các tổ
chức gửi tiền vào ngân hàng. Do đó chỉ huy động được vốn ngắn hạn mà lại
cho vay trung và dài hạn, kết quả là lỗ.

thiểu bộ phận quản lý cồng kềnh để giảm thiểu chi phí.
2. Tác động tiêu cực
* Đối với NHTM.
Do lãi suất tiền gửi cao dẫn đến lãi suất cho vay cao nên càng khuyến khích
gửi tiền hơn là vay tiền. Bên cạnh đó, lãi suất thực dương cao của ngân hàng
đem lại khả năng thu được lợi nhuận > là đưa tiền vào đầu tư mà rủi ro lại thâp
nên cũng khuyến khích cac doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng vay giảm dẫn
đến tài sản nợ trong bảng cân đối của NHTM lớn hơn tài sản có. Như vậy cho
dùngls thực dương thì chưa chắc chắn NHTM đã hoạt động kinh doanh có lãi.
* Đối với doanh nghiệp.
Lãi suất vay vốn không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mà các
doanh nghiệp tích cực gửi tiền vào ngân hàng hơn. Bên cạnh đó, các doanh
nghiệp cũng giảm quy mô đầu tư dẫn đến một lực lượng lớn thất nghiệp không
có lợi cho sự phát triển chung của nền kinh tế.
Trong tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, một phần lớn là đi vay của
ngân hàng, bởi lãi suất vốn cao dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh lớn do đó
giá thành phẩm cao, giá hàng hoá cao và như vậy hàng hoá sẽ giảm tính cạnh
tranh trên thị trường.
III. Từ 1993 đến 1996
Thời gian này NHNN vừa cần lãi suất trần, vừa cầu lãi suất thoả thuận.
+ Trần lãi suất cho vay đối với DNNN là 1,8% tháng, kinh tế ngoài quốc
doanh là 2,1% tháng.
+ Thoả thuận trường hợp ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay
theo lãi suất quy định phải phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn thì được cầu
lãi suất thoả thuận. Lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng thời
hạn là 0,2%/ tháng và cho vay cao hơn mức lãi suất trần là 2,1%/tháng. chế độ
lãi suất này đã ít nhiều giúp cho hd của NHTM và DN có những chuyển biến
tốt.
1. Tác động tích cực
- Nhờ những định mức trần lãi suất mà hạn chế được phần nào tình trạng lãi

- Việc quy định lãi suất trần vẫn mang dáng dấp quản lý hành chính đối với
một công cụ vô cùng nhạy bén và mang đậm tính thị trường và do đó vấn hạn
chế tình linh hoạt của NHTM trong hoạt động tín dụng, không tạo ra sự cạnh
tranh lành mạnh giữa các ngân hàng.
- Sự chệnh lệch cao giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay đã đem lại cho
các NHTM một số lợi nhuận đã khiến cho các ngân hàng không chú trọng việc
tiết kiệm chi phí hoạt động.
* Đối với doanh nghiệp.
- Cơ chế lãi suất hiện hành thực sự gây khó khăn cho các doanh nghiệp
trong việc vay vốn sản xuất nhất là đầu tư sản xuất trong trung và dài hạn do
chính các ngân hàng cũng khó huy động và có thể cho vay ở mức lãi suất cao.
- Lãi suất cao llàm cho người kinh doanh chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực
sản xuất có lợi nhuận cao tức thời và thu hồi vốn nhanh như: dịch vụ , thương
mại, sản xuất nhỏ mất cân đối trong nền kinh tế
IV. Thực hiện chính sách lãi suất trần(96-2000)
Sau khi có qd số 381/QĐNH1 ngày 28/2/1995 của thống đốc NHNN vn, từ
ngày 1/1/1996 chính sách lãi suất trần được đưa vào thực hiện
Cụ thể:
Từ ngày 1/1/1996 lãi suất trần được áp dụng.
*Trần lãi suất cho vay:
- Ngắn hạn: 1,75%
- Địa bàn nông thôn: 2%
- Địa bàn thành thị: 1,75%
Đồng thời khống chế lãi suất chênh lệch lãi suất cho vay và huy động là
0,35% tháng
Sau đó năm 97,98,99 có sự thay đổi cho phù hợp :
+ Trần lãi suất cho vay ngắn hạn 1,2% tháng
+ Trần lãi suất cho vay trung và dài hạn 1,25% tháng.
+ Trần lãi suất tín dụng cho vay thành viên 1,5% tháng.
Bỏ mức lãi suất huy động chênh lệch vốn 0,35%tháng.

- ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn trung và dài hạn
+ Tỷ lệ vốn trung và dài hạn trong tổng số vốn huy động của NHTM hiện
tại là rất nhỏ. Do việc huy động vốn trung và dài hạn cần có lãi suất cao trong
khi NHNN liên tục cắt giảm lãi suất; NHTM sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn
vào trung và dài hạn. Hởu quả là làm suy yếu khả năng an toàn thành toán khi
có một dòng tiền gửi bị rút ra .
+ Khoảng cách chênh lệch lãi suất cho vay tiền gửi chỉ còn không đáng kể
0,15% tháng nơi nào cao lắm 0,2% tháng nên không đảm bảo bù đắp chi phí và
có lãi.
+ Lãi suất cho vay trung hạn > vay ngắn hạn là 0,05% tháng. Mức chênh
lệch tạo động lực khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay trung và
dài hạn.
- Thời kỳ đầu NHNN đã quy định chênh lệch lãi suất 0,35% tháng gây ra
nhiều khó khăn cho NHTM.
+ Mục đích khống chế chênh lệch lãi suất 0,35% đối với NHTM là nhằm
quản lý chặt chẽ chi phí NHTM nhưng mối quan hệ giữa chênh lệch 0,35% -
chi phí giảm - định lượng lãi suất huy động và cho vay của NHTM hầu như
không có.
+ Lãi suất cho vay bị giới hạn bởi trần và phí bị giới hạn 0,35%. Do đó lãi
suất huy động vốn bị khống chế cứng nhắc, giảm tính cạnh tranh giữa các ngân
hàng
+ Chênh lệch lãi suất thực tế bình quân < 0,35% sẽ không khuyến khích các
NHTM cạnh tranh bằng uy tín và hiệu quả kinh doanh để có được thu nhập và
lợi nhuận cao mà thay vào đó là cạnh tranh bằng nâng lãi suất huy động vốn.
- Các NHTMQD đang còn phải bao cấp lãi suất cho vay.
Các NHTMQD vừa thực hiện cho bay bình thường với lãi suất kinh doanh
vừa thực hiện cho vay theo chính sách ưu đãi. Do vậy mà không có sự tách
bạch, và có nhiều mức lãi suất chồng chéo đặc biệt là làm mất ý nghĩa của
NHTM.
Nghị định 20/CP của chính phủ qui định việc cho vay đối với các đối tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status