Đề tài: “Xu hướng phát triển của thị trường xuất khẩu sản phẩm thủy sản Việt Nam” - Pdf 16

Đề án môn học Trường đại học KTQD
Luận văn
Đề tài: “Xu hướng phát triển của thị
trường xuất khẩu sản phẩm thủy sản
Việt Nam”
1
Đề án môn học Trường đại học KTQD
MỤC LỤC
Phần mở đầu …………………………………………………………… 1
Phần I: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản và thị trường
xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam………………………………………….2
1. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian qua…
…2
1.1. Các sản phẩm thuỷ sản chủ yếu………………………………… …2
1.2. Một số thị trường xuất khẩu thuỷ sản chủ yếu………………………3
1.2.1. Thị trường Nhật Bản…………………………………………………
3
1.2.2. Thị trường Mỹ…………………………………………………….…4
1.2.3. Thị trường Trung Quốc……………………………………… ……6
1.2.4. Thị trường EU……………………………………………….………7
1.2.5. Các thị trường khác……………………………………………….…9
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thuỷ sản……… ………………
9
1.3.1. Yếu tố kinh tế……………………………………………… ………9
1.3.2. Yếu tố địa lý, khí hậu…………………………………………… 10
1.3.3. Yếu tố chính trị, pháp luật……………………………….…………10
1.3.4. Yếu tố văn hoá……………………………………………… ……
10
2. Đánh giá thực trạng………………………………………… ………11
2.1. Những kết quả đạt được 11
2.2. Những hạn chế và nguyên nhân 14

Đề án môn học Trường đại học KTQD
PHẦN MỞ ĐẦU
Sau hơn 15 năm đổi mới cho thấy chiến lược mà Đảng và Nhà nước
đề ra là hết sức đúng đắn. Quan điểm của chúng ta là hướng vào xuất khẩu
tích luỹ nội bộ cho nền kinh tế, phát huy mọi tiềm năng thế mạnh sẵn có để
công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước. Xu thế quốc tế hoá nền kinh tế
ngày càng trở thành một xu hướng quan trọng trong quá trình phát triển của
mỗi quốc gia.
Trong xu thế phát triển đó, Việt nam chúng ta cũng đã từng bước gia
nhập vào nền kinh tế thế giới noi chung và đã xuất đi nhiều nước với nhiều
mặt hàng khác nhau như gạo, cao su, cà phê, dầu mỏ, thuỷ hải sản Xuất
khẩu thuỷ sản được coi là mặt hàng có tiềm năng của nước ta. Hiện nay
nước ta đứng vị trí thứ 17 trên thế giới và về tương lai thuỷ sản xuất khẩu
của ta có khả năng tăng cao hơn nữa vì tiềm năng thuỷ sản của ta rất lớn.
Do vậy các sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã từng bước khẳng định
mình và dần có chỗ đứng trên thị trường thủy sản thế giới. Tuy nhiên, do
một số nguyên nhân nên các sản phẩm thủy sản của Việt Nam đang bị cạnh
tranh hết sức gay gắt và có nguy cơ mất dần chỗ đứng của mình.
Vì vậy em đã chọn đề tài “Xu hướng phát triển của thị trường xuất
khẩu sản phẩm thủy sản Việt Nam” để nghiên cứu các thị trường thủy sản,
nhằm giữ vững, phát triển và mở rộng thị trường thủy sản Việt Nam. B ố
cục bài viết của em được chia làm hai phần:
Phần I: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản và thị trường xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam.
Phần II: Xu hướng và giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu thuỷ
sản.
Do thời gian, trình độ và kinh nghiệm có hạn nên bài viết nay chỉ trình
bày được một vài khía cạnh của vấn đề. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo
Nguyễn Thu Lan đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này
4

Nguồn : Trung tâm thị trường KHKT và kinh tế thuỷ sản-Bộ thuỷ sản
5
Đề án môn học Trường đại học KTQD
Năm 1998 dến 1999, các mặt hàng thuỷ sản giá trị gia tăng mới chiếm
17-18% thì nay đã hơn 30% trong tổng số sản phẩm xuất khẩu. Nhiều
doanh nghiệp tỷ trọng này chiếm 50%. Đây là kết quả của chủ trương đổi
mới công nghệ chế biến thuỷ sản xuất khẩu và tăng cường quản lý chất
lượng sản phẩm theo chương trình HACCP và ISO 9002 của ngành. Hiện
nay đã có trên 60 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu được cấp giấy
chứng nhận xuất khẩu trực tiếp sang EU. Nhiều mặt hàng đã chinh phục
được các thị trường quan trọng như Mỹ, Nhật Bản.
1.2. Một số thị trường xuất khẩu thuỷ sản chủ yếu
1.2.1 Thị trường Nhật Bản.
Nhật Bản là quốc gia có mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người
cao nhất thế giới (67kg/người /năm). Người Nhật Bản coi trọng nguồn cung
cấp protein từ tôm cá, đặc biệt trong năm, người Nhật có tới hàng trăm lễ
hội và mỗi lễ hội hầu như có một hay vài món ăn chế biến từ thuỷ sản.
Nhưng trong lịch sử phát triển lâu dài của mình, Nhật Bản đã sớm là
một quốc gia biển nên có tiềm năng lớn về đánh bắt và nuôi trồng thuỷ
sản , kim ngạch xuất khẩu những năm gần đây của Nhật Bản trên dưới 3,6
tỷ USD, riêng 6 tháng đầu năm 2001, xuất khẩu đạt 128.377 tấn, trị giá
44,9 tỷ yên. Nhật Bản chủ yếu xuất khẩu mực, cá hồi Thái Bình Dương
sang Trung Quốc với khối lượng rất lớn, trên 90% lượng cá chuồn được
xuất sang Thái Lan làm nguyên liệu cho hải sản đóng hộp.
Mặt hàng thuỷ sản mà Nhật Bản nhập về chủ yếu là tôm, cá ngừ, cá
mực, lươn, surimi, cua…Năm 2000, Nhật Bản nhập 246.627 tấn tôm đông
lạnh, giảm 3% so với năm 1999. Các nước xuất khẩu tôm sang thi trường
Nhật chủ yếu là Ấn Độ, Inđônêxia và Việt Nam , cá ngừ vàng đông lạnh và
cá ngừ mắt to từ Hàn Quốc và Đài Loan, cá hồi từ Nauy và Chi Lê, lươn tư
Trung Quốc.

quân 10 tỷ USD/năm, lớn thứ 2 trên thế giới.
7
Đề án môn học Trường đại học KTQD
Các mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Mỹ rất đa dạng, chủ yếu là thuỷ
sản tươi sống và đông lạnh (khoảng 88% giá trị nhập khẩu), 73% là các mặt
hàng thuỷ sản đóng hộp, còn lại là các mặt hàng thuỷ sản khác. Tôm đông
lạnh là mặt hàng nhập khẩu quan trọng nhất vào Mỹ, chiếm tới 38% giá trị
nhập khẩu của thuỷ sản nước này, chiếm gần 30% giá trị tôm đông lạnh
nhập khẩu của thế giới. Tôm đông lạnh nhập khẩu vào Mỹ chủ yếu là tôm
bóc đầu (chiếm 55% khối lượng và 58% giá trị) và tôm nguyên liệu thô
(chiếm 38% khối lượng và 34% giá trị nhập khẩu tôm đông). Thái Lan tiếp
tục chiếm lĩnh thị trường tôm đông lạnh ở Mỹ nhưng so với năm 1995 thì
khối lượng giảm 7%. Equado lại là nhà xuất khẩu tôm đông lạnh thứ 2 sang
Mỹ nhưng về khối lượng so với năm 1995 cũng giảm 8,5%. Sau nữa là đến
Trung Quốc và một số nước khác có kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh
khá lớn sang thị trường Mỹ. Ngoài tôm đông lạnh, mặt hàng thuỷ sản nhập
khẩu lớn thứ hai là cá philê tươi và ướp đông. Mặc dù Mỹ có khả năng sản
xuất cá philê nhưng do người Mỹ rất ưa chuộng cá philê của Tây Âu và
Canada, vì vậy Mỹ phải xuất khẩu sản phẩm của mình và nhập khẩu sản
phẩm của các nước khác (Canada, Chi Lê, Na uy, Tây Ban Nha ). Sau tôm
đông lạnh và cá philê, các mặt hàng khác như : cá ngừ nguyên con, cá hồi
nguyên con và ướp lạnh, cá ngừ đống hộp được nhập khẩu vào Mỹ với giá
trị hàng năm tương đối lớn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cư dân
nước này và để tái chế rồi xuất sang nước khác.
8
Đề án môn học Trường đại học KTQD
Đối với Việt Nam thỡ thị trường Mỹ là một thị trương rất lớn, rất cần
phải quan tâm. Tuy nhiêu sản lượng thuỷ sản của nước ta xuất sang Mỹ
không đều, năm 2001 đạt sản lượng là 70930,78 tấn, trị giá gần 500 triệu
USD, năm 2002 đạt là 98664.54 tấn, trị giá gần 650 triệu USD, năm 2003

,,
5,82
10,3
3,28
626.000
1.296.000
6,74
11,7
3,92
1.251.000
1.485.000
Nguồn: Trung tâm thị trường KHKT và kinh tế thuỷ sản-Bộ thuỷ sản
9
Đề án môn học Trường đại học KTQD
Tính đến hết tháng 4/2001, khối lượng thuỷ sản mậu dịch của Trung
Quốc dự tính tăng 13% so với cùng kỳ năm 2000.
Hầu hết cá đông lạnh nhập khẩu vào Trung Quốc được lọc xương và tái
xuất. Mực là loài nhuyễn thể thân mềm được giao dịch với khối lượng lớn,
phần lớn mực nhập khẩu vào Trung Quốc được chế biến và tái xuất sang
Nhật, Mỹ và Hàn Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc cũng xuất khẩu một khối
lượng lớn mực sống, tôm đông lạnh, lươn sống và đông lạnh.
Tính đến tháng 11/2000, thuỷ sản Việt Nam đã xuất khẩu sang thị
trường này 252,1 triệuUSD tăng 2,3 lần so với năm1999. Trung Quốc và
Hồng Kông đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của ngành thuỷ sản
Việt Nam, chiếm tỷ trọng 19,3% tổng gía trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản
cả nước, có tốc độ tăng trưởng nhanh, sát nút với thị trường Mỹ, đã khẳng
định vị trí quan trọng của mình. Xuất khẩu cá sang thị trường này đã đạt
36,6 triệu USD, ngang ngửa với thị trường Nhật bản vốn là thị trường
truyền thống lớn nhất của ta. Riêng mực và bạch tuộc đạt 12 triệu USD,
vượt cả 13 nước EU cộng lại. Đặc biệt hơn là hàng khô các loại xuất khẩu

trường Châu Á trung bình khoảng từ 1,1 đến 1,4 lần và có tính ổn định. Thị
trường thuỷ sản EU có tính ổn định cao, với nhiều nhóm cư dân có nhiều
yêu cầu khác nhau trong thói quen tiêu thụ các sản phẩm thuỷ sản.
Trong khi nhu cầu về hàng thuỷ sản đang ngày càng tăng, Uỷ ban nghề
cá của EU mới đây đã ra tuyên bố cắt giảm 1/3 sản lượng khai thác hải sản
từ năm 1997-2010, nhằm để bảo vệ nguồn lợi hải sản. Chính điều này làm
cho nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản của EU đang ngày càng tăng cao. Tuy
nhiên thị trường EU thật sự là một thị trường khó tính, có tính chọn lọc cao
với những yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn
thực phẩm.
Trong những năm vừa qua thỡ Việt Nam cũng đó từng bước đổi mới
công nghệ, dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước
xâm nhập vào thị trường EU. Năm 2001 xuất khẩu thuỷ sản của nước ta
sang thị trường này đạt 26659.04 tấn, trị giá 90745293 USD, năm 2002 sản
11
Đề án môn học Trường đại học KTQD
lượng là 28612.78 tấn, trị giá là 73719852 USD và đến năm 2004 thỡ sản
lượng đạt 73459,12 tấn, trị giá gần 230 triệu USD. Hiện nay, các sản phẩm
xuất sang thị trường này của nước ta là t ôm đông lạnh, mực đông lạnh,
nghêu, ghẹ, sũ, ốc, cua, tụm hựm và một vài năm tới sẽ xuất khấu thêm
một số mặt hàng nữa. Taị thị trường này sản phẩm của ta cũng gặp phải
nhiều đối thủ cạnh tranh rất mạnh như Thái Lan, canada, Ấn Độ…và các
sản phẩm tái xuất của Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc…
U
1.2.5. Các thị trường khác.
Ngoài ra nước ta cũn cú một số thị trường khác như thị trường Nga,
một số nước Đông Âu và một số nước ở châu Mỹ. Các thị trường nay cũng
gia tăng rất nhanh cả về số lượng và giá trị,năm 2001 xuất được 84927,92
tấn, đạt giá trị là 256301785 USD, năm 2002 là 100385,2 tấn, trị giá
258860933 USD, năm 2003 là 132259,39 tấn, trị giá 431417822 USD và

Thị trường cũng chịu tác động của yếu tố địa lý và khí hậu tự nhiên.
Chính yếu tố này mà thị trường của một quốc gia, khu vực khác nhau có
những yêu cầu khác nhau, đòi hỏi sản phẩm đưa vào phải thích hợp. Chẳng
hạn như sản phẩm nào đó sử dụng tốt ở các nước có khí hậu ôn đới có thể ở
khí hậu nhiệt đới lại bị hỏng, hoặc đòi hỏi phải để ở nhiệt độ lạnh hoặc bôi
dầu mỡ bảo quản. Những sản phẩm dễ hỏng do sự tác động của khí hậu
nóng ẩm thì lại yêu , bảo quản cao hơn khi xâm nhập vào thị trường có
nhiệt độ cao, độ ẩm lớn.
1.3.3. Yếu tố chính trị – pháp luật.
Ngoài các yếu tố đã nêu trên, thị trường quốc tế còn chịu sự tác động
bởi chính trị và pháp luật. Thể hiện ở những ưu đãi và cản trở của Chính
phủ đối với các nhà cung ứng khi xâm nhập vào thị trường quốc gia này.
Điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện dễ xâm nhập vào thị
trường hơn, đồng thời có điều kiện mở rộng thị trường của mình. Có thể đó
là những qui chế hàng rào thuế quan, về bảo hộ, hạn ngạch . Nếu mối
13
Đề án môn học Trường đại học KTQD
quan hệ chính trị giữa nước nhập khẩu và xuất khẩu là bất ổn thì xâm nhập
và mở rộng thị trường sẽ là rất khó khăn cho nhà xuất khẩu.
1.3.4. Yếu tố văn hóa.
Khi xét các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường, đặc biệt là thị trường
quốc tế thì không thể bỏ qua yếu tố văn hoá. Chính yếu tố văn hoá đó đã
làm cho khách hàng ở mỗi quốc gia phản ứng khác nhau với cùng một loaị
sản phẩm. Tác động của yếu tố văn hoá đến thị trường thực sự là một vấn
đề rộng, phức tạp, tuỳ cách quan niệm văn hoá theo nghĩa rộng hay nghĩa
hẹp nhưng có một điều, yếu tố văn hoá được hình thành trên điều kiện tự
nhiên, lịch sử dân tôc, tôn giáo . Do đó, thị trường của cùng các loại sản
phẩm vào các quốc gia có nền văn hoá khác nhau thì sẽ khác nhau. Một ví
dụ đơn giản về ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá tới thị trường quốc tế là
việc giới thiệu và bán váy ngắn ở các quốc gia theo đạo hồi là điều không

Giá trị
(USD)
% về
giá trị
sản lượng
(tấn)
giá trị
(USD)
%về
giá trị
Châu Á
(không kể
Nhật)
90503.71 290925817 13.23 123891.1 413861348 17.24
Châu Âu 38186.88 116739138 5.31 73459.12 231527515 9.64
Mỹ 122162.89 777656159 35.35 91380.69 602969450 25.12
Nhật Bản 97953.91 582837870 26.50
121160.4
9 772194720 32.16
Các thị
trường khác
132259.39 431417822 19.61
121434.3
6
380228081 15.84
Tổng số
481066.7
8
219957680
6 100.00

kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản (NAFIQACEN) do bộ thuỷ sản
thành lập với một hệ thống gồm 6 chi nhánh trong cả nước được trang bị
phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế đã có khả năng đáp ứng các
nghiệp vụ chuyên môn và trở thành công cụ đắc lực của ngành trong quản
lý Nhà nước về điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thuỷ sản, tạo thêm một
lực đẩy cho xuất khẩu thuỷ sản ngày càng đạt cao hơn, thị trường mở rộng,
tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng được nâng lên, nhiều mặt hàng đã đáp
ứng được yêu cầu ăn ngay và nấu ngay và đã thâm nhập được các siêu thị
khó tính nhất.
- Nhà nước tích cực đổi mới cơ cấu quản lý, cho phép doanh nghiệp
xuất khẩu tự do đi các nước, tự cân đối ngành.
- Nghề nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục phát triển mạnh theo hướng tăng
sản, ứng dụng tiến bộ sinh học trong chọn và lai tạo giống đi đôi với công
nghiệp hoá sản xuất thức ăn.
16
Đề án môn học Trường đại học KTQD
- Khuyến khích nuôi trồng thuỷ sản ven bờ theo mô hình trang trại ,
những vùng ven biển được Chính phủ cho phép chuyển đất trồng sang nuôi
tôm cá có hiệu quả hơn, quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất và phân công
lại lao động nông thôn từ nông nghiệp thuỷ sản diễn ra rất nhanh, đạt hiệu
quả cao, đã và đang góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân rõ rệt.
- Hiện nay, công nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam đang lớn mạnh
với 200 nhà máy đông lạnh, vùng nguyên liệu lớn đang được hình thành và
theo chiều sâu.
- Tích cực tập trung vốn, ngân sách ưu đãi để đóng mới sửa chữa tàu
đánh cá và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và chế biến đồng
thời tăng cường các trang thiết bị viễn thông dùng cho nghề cá. Hiện nay,
toàn ngành đã có 71500 tầu thuyền các loại.
- Tính đa dạng của các sản phẩm chế biến ngày càng rõ nét trong sản

18
Đề án môn học Trường đại học KTQD
2.2.2. Những nguyên nhân.
Sau những bước phát triển nhảy vọt vào cuối những năm 1980 và đầu
những năm 1990 hoạt động đánh bắt thuỷ sản đã có dấu chững lại do hiệu
quả giảm sút, năng suất khai thác tàu thuyền là 0,92 tấn hải sản/mã lực ,đến
1995 giảm xuống còn 0,62 tấn/mã lực do các nguyên nhân tự nhiên ( khai
thác hải sản ven bờ đã vượt mức cho phép 10% ) và các nguyên nhân chủ
quan (máy móc và trang thiết bị lạc hậu ,thiếu phương tiện và kinh nghiệm
đánh bắt hải sản đại dương, trình độ lực lượng lao động còn thấp )
- Hiện nay, gần 80% số nhà máy chế biến thuỷ sản đã hoạt động trên
10 năm, chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng chế biến sản phẩm xuất
khẩu.
- Hầu hết hàng hoá thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam hiện nay dưới dạng
thô (ướp lạnh, ướp đông .) với giá trị thấp.
-Trong thời gian tới, ngành thuỷ sản sẽ phải dựa nhiều vào khu vực
nuôi trồng mà chủ yếu là nuôi tôm xuất khẩu, trong khi đó diện tích nuôi
thuỷ sản nước mặn và nước lợ hiện chỉ chiếm 35% tổng số 800 ngàn ha eo,
vịnh, đầm phá tự nhiên ở nước ta.
- Khu vực nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn về
các chính sách thuế, luật pháp của Chính phủ vốn, công nghệ nuôi trồng,
giống, chế biến . Thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam tự nuôi trồng chỉ chiếm
63% trong đó hơn 90% là nuôi thâm canh và bán thâm canh có chất lượng
không ổn định và năng suất rất thấp, chỉ băng 15% so với Thái Lan. Vào
đầu năm 2001, riêng tôm giống thiếu khoảng 3-4 tỷ con.
- Còn thiếu nhiều phương tiện đánh bắt cá xa bờ hoặc các phương tiện
này quá nghèo nàn, lạc hậu đã làm hạn chế khai thác luồng cá lớn có giá trị
cao.
- Các thiết bị bảo quản cần thiết cho thuỷ sản trước khi đưa vào bờ
không có đủ làm giảm chất lượng hàng thuỷ sản do khâu bảo quản trên

vẫn là các thị trường nước ngoài. Các nhà doanh nghiệp, các nhà quản lý
chỉ chú trọng vào các thị trường xuất khẩu là chủ yếu. Hàng thuỷ sản xuất
khẩu Việt Nam ngày càng được ưa chuộng ở các thị trường như : Nhật
Bản , Đài Loan , Hông Kông , ôxtrâylia, Hàn Quốc Trung Quốc ,Mỹ ,
EU Từ năm 1997 -2000 trong cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản Nhật
giảm từ 50% xuống còn 33% trong khi Mỹ tăng từ 5% lên 21,5% , Trung
Quốc , Hồng Kông tăng từ 2% lên 19,3% EU giao động từ 10-7%, các
nước châu á từ 19-20%. Năm 2000 về cơ cấu thị trường đã có sự chuyển
biến mạnh mẽ theo hướng chắc hơn với sự gia tăng vaò thị trường Mỹ,
Trung Quốc
Theo xu hướng hiện nay thì thị trường Nhật vẫn là thị trường chiến
lược và là thị trường xuất khẩu chủ yếu của thuỷ sản Việt Nam. Sản phẩm
nhập vào thị trường Nhật đáp ứng tiêu chuẩn cao về chất lượng , chất lượng
đồng đều và hình dáng đẹp là hai tiêu chuẩn chính đối với thị trường này.
Mục tiêu xuất khẩu thuỷ sản đối với thị trường này là đạt được tỷ trọng
xuất khẩu khoảng 30% so với tổng sản lượng xuất khẩu của nước ta. Đồng
thời ngoài việc tăng khối lượng các mặt hàng đã xuất sang Nhật như tôm,
mực…ta còn tiếp tục xuất sang đó một số mặt hàng phi thuỷ sản như ngọc
trai, cá cảnh…
Đối với thị trường Mỹ tôm nhập khẩu tăng nhanh, nhất là mặt hàng
tôm nõn rút gân, cá hồng phi lê , cá rô phi đỏ và đen Theo dự báo, doanh
số xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này sẽ tiếp tục tăng nhanh nhờ quy
21
Đề án môn học Trường đại học KTQD
chế tối hiệu quốc, các nhà đầu tư và các công ty nước ngoài từ Mỹ và các
nước khác sẽ cùng với các đối tác Việt Nam tổ chức các mặt hàng để xuất
khẩu sang thị trường Mỹ .Hiệp định thương mại được ký kết sẽ tạo điều
kiện thuận lợi để chọn lựa khách hàng thích hợp cho từng doanh nghiệp, sẽ
có nhiều doanh nghiệp quan tâm đến hàng thủy sản Việt Nam, góp phần cải
thiện thêm một bước vấn đề giải quyết việc làm trong các hoạt động dịch

Bản các doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh triển khai các chương trình
phát triển những nhóm sản phẩm chủ lực, trong đó chú trọng công tác
nghiên cứu thị trường, nghiên cứu khách hàng tiềm năng để cung cấp cho
thị trường những sản phẩm đạt các tiêu chuẩn chất lượng của Nhật Bản hợp
khẩu vị của người Nhật.
Khi lựa chọn công nghệ chế biến, các doanh nghiệp cần chú ý thị
trường Nhật Bản đang có nhu cầu cần gắn khâu chế biến với việc nâng cao
chất lượng nguyên vật liệu, hình thành các vùng chuyên canh có khả năng
cung cấp một lượng thuỷ sản nguyên liệu lớn với chất lượng ổn định.
Trong khâu bảo quản sau thu hoạch, cần chú ý kỹ thuật bảo quản để
hạn chế tỷ lệ phế phẩm, kiểm soát các yếu tố độc hại, làm ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm trong khâu chế biến.
Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản không
cần phải có hạn ngạch nhập khẩu nhưng phải tuân thủ các qui định, yêu cầu
của luật kiểm dịch và luật vệ sinh thực phẩm của Nhật.
Hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Nhật phải dán nhãn, cung cấp những
thông tin tối thiểu như: tên sản phẩm , hạn dùng, tên và địa chỉ của công ty
sản xuất, tên và địa chỉ công ty nhập khẩu, các phụ gia đã sử dụng (nếu có),
phương pháp bảo quản, phải ghi rõ sản phẩm đã nấu chín hay còn sống, ghi
rõ “rã đông” nếu phải “rã đông” và “nhập khẩu” nếu là hàng nhập khẩu và
xuất xứ.
23
Đề án môn học Trường đại học KTQD
Thực hiện phân phối thông qua giá thị trường bán sỉ ở những mục tiêu
mà doanh nghiệp hướng đến để họ phân phối đến các cửa hàng lớn, của
hàng bán lẻ và các cơ sở phục vụ ăn uống hoặc phân phối trực tiếp đến các
công ty chế biến thực phẩm Các doanh nghiệp có thể liên kết một công ty
nào đó ở Nhật để thực hiện công đoạn này.
Xây dựng các chương trình xúc tiến hỗn hợp phù hợp đối với từng khu
vực thị trường, từng nhóm khách hàng và phải tiến hành trên diện rộng, với

phẩm bao gồm các sản phẩm hoá học gốc thuỷ sản, ngọc trai, agar, cá
cảnh Vì vậy, Nhà nước và các doanh nghiệp cần phải quan tâm phát triển
loại hình kinh doanh sản phẩm này, Nhà nước cần phải có biện pháp
khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, các doanh nghiệp cần phải mạnh dạn và tăng
sản lượng hàng thuỷ sản phi thực phẩm phù hợp các yêu cầu nhập khẩu của
Mỹ đồng thời không bỏ lỡ một thị trường còn rất nhiều tiềm năng.
Do yêu cầu chặt chẽ về chất lượng sản phẩm vì vậy các doanh nghiệp
xuất khẩu cần chú trọng nâng cao trình độ công nghệ chế biến, bảo quản và
công nghệ đông lạnh.
Các doanh nghiệp cần cố gắng để mở văn phòng đại diện tại nước Mỹ
qua đó nắm bắt được kịp thời sự thay đổi về nhu cầu thị hiếu hàng thuỷ sản
cả về số lượng và chất lượng, và nắm bắt được sự thay đổi về thể chế chính
sách luật pháp để kịp thời điều chỉnh kế hoạch xuất khẩu và mở rộng thị
trường cho phù hợp.
Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần xây dựng một hệ thống phân phối
rộng khắp, đưa sản phẩm đến tất cả các thị trường, các khu vực. Thị trường
Mỹ là một thị trường có sức mua lớn đòi hỏi các doanh nghiệp phải đoàn
kết phối hợp để chuẩn bị một khối lượng lớn hàng sang Hoa Kỳ ngay khi
có nhu cầu. Có như vậy, mới có thể thu được lợi nhuận cao, đạt mục tiêu và
mới có thể duy trì quan hệ làm ăn, giữ uy tín và vị thế của thuỷ sản Việt
Nam trên thị trường Hoa Kỳ.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status