Bệnh cao huyết áp nguyên phát
(tăng huyết áp nguyên phát)
(Kỳ 3)
* Tâm quí:
Nguyên nhân chủ yếu là liên quan đến tâm, thận. Thận âm bất túc thủy bất
tế hoả, hư hoả vong động, thượng nhiễu tâm thần dẫn đến tâm quí. Bệnh lâu ngày,
dương tổn cập âm dẫn đến dương khí bất túc bất năng ôn chiếu tâm mạch tắc tâm
động quí mà bất an. Tỳ thận dương hư, bất năng trưng hóa thủy dịch, đình tụ mà
thành ẩm ; tà thượng phạm, ức chế tâm - dương đều có thể phát sinh tâm quí.
Ngoài ra, bệnh lâu ngày nhập lạc, huyết hành bất thông hoặc tâm - dương bất túc,
không đủ lực huy động huyết dịch vận hành có thể dẫn đến huyết ứ nội trở đều
xuất hiện tâm quí.
* Trúng phong:
Là biện chứng thường gặp ở thời kỳ sau của cao huyết áp. Cơ chế bệnh lý
chủ yếu là can thận âm - dương thất điều. Thận âm bất túc, thủy bất dưỡng mộc,
can không được nuôi dưỡng, can dương cang thịnh lại thêm tình chí quá cực, lao
thương quá độ hoặc uống rượu nhiều, khí hậu đột ngột ảnh hưởng tất cả đều là
nhân tố thuận lợi phát bệnh. Âm hao ở dưới, can dương cang vượng, dương hóa
phong động, khí - huyết thượng xung, tâm thần hôn muội phát chứng trúng phong.
Bạo nộ giận dữ thương cang, can dương bạo động dẫn đến tâm hoả động, phong
hỏa tương liên, khí nhiệt uất nghịch, khí - huyết bình tẩu ở trên tâm thần hôn muội
mà thốt đảo mất trí sinh trúng phong.
Cũng có thể do ăn nhiều chất dầu, chất béo, chất ngọt; thấp tụ sinh đàm,
đàm uất hóa nhiệt, trở trệ kinh lạc, che lấp thanh khiếu; hoặc là can hoả thiêu dịch
thành đàm, can hoả hiệp đàm hoả, hoành xung kinh lạc che lấp thanh khiếu phát
sinh trúng phong.
* Thủy thũng:
Triệu chứng thường xuất hiện ở thời kỳ sau của cao huyết áp. Cơ chế bệnh
lý là tỳ thận dương hư, huyết ứ nội trở, âm tổn cập dương dẫn đến thận dương bất
túc, thận dương hư khai môn bất lợi, bất năng hoá khí hành thủy dẫn đến thủy dịch
nội đình, phạp tư cơ phu phát sinh phù thũng. Thận dương hư bất năng ôn chiếu tỳ
thận âm hư; miệng khô, uống nước không nhiều kèm theo mình nặng quản bĩ, rêu
nhờn là đàm trọc trung trở, miệng đắng là can dương thượng cang, miệng nhạt vô
vị là tỳ khí hư; trong miệng dính nhờn là thấp nhiệt trung trở.
Vấn về giấc ngủ: thất miên đa mộng, mặt hồng, mắt đỏ, miệng đắng sườn
đau là can dương thượng cang. Nếu lưng gối đau mỏi, tâm phiền bất dịch là triệu
chứng tâm thận bất giao, kèm theo tâm quí mệt mỏi vô lực là tâm khí bất túc; nếu
quản bĩ, rêu lưỡi dày nhờn là thấp trọc nội trở.
Vấn đề về điều trị: bệnh cao huyết áp kéo dài không khỏi, hỏi về quá trình
điều trị thuốc để có chỉ định điều trị chính xác hơn.
2.2.4. Thiết chẩn.
Thường gặp mạch huyền có lực là can dương thượng cang; mạch tế
sác là can thận âm hư hoặc là tâm thận âm hư; mạch trầm tế là khí âm lưỡng hư
phần nhiều xung nhâm thất điều; mạch sáp là huyết ứ nội trở; mạch nhu nhược là
trung khí bất túc; mạch trầm trì là thận dương bất túc; mạch huyền hoạt là đàm
thấp trung trở.