BÀI DỰ THI TÌM HIỂU
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ TƯ TƯỞNG,
TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Hoàn cảnh lịch sử và quá trình hình thành Đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, lãnh đạo nhân dân tiến hành
Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc nền
độc lập dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam.
Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động
của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta.
Về chính trị, chúng trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành chính
sách cai trị chuyên chế, biến giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến thành tay sai đắc lực. Đồng
thời chúng thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố hết sức dã man, tàn bạo, làm cho nhân dân mất hết
quyền độc lập, quyền tự do dân chủ.
Về kinh tế, chúng thực hiện chính sách độc quyền, kìm hãm sự phát triển kinh tế độc lập của nước
ta, vơ vét tài nguyên và bóc lột nặng nề, làm cho nhân dân ta, trước hết là công nhân và nông dân bị bần
cùng hoá, nền kinh tế bị què quặt, lệ thuộc vào kinh tế Pháp.
Về văn hoá-xã hội, chúng thực hành chính sách ngu dân, khuyến khích văn hoá nô dịch, vong bản,
tự ti, sùng Pháp, kìm hãm nhân dân ta trong vòng tối tăm, dốt nát, lạc hậu.
Với chính sách khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn, hai giai
cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa
phong kiến, xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản ngày càng gay gắt: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế
quốc Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.Nhiệm
vụ chống đế quốc Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống phong kiến tay sai không tách rời nhau. Đấu tranh giành độc
lập dân tộc và đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, đó là yêu cầu của cách mạng Việt Nam đặt ra.
Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang chìm trong cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, Nguyễn Tất
Thành (Hồ Chí Minh) rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước. Bước ngoặt lớn trong tư tưởng của Nguyễn Ái
Đảng, Điều lệ Đảng và Điều lệ các tổ chức quần chúng. Theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị đã đổi tên
ĐCSVN thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị đã bầu BCHTW chính thức, đồng chí Trần Phú được bầu
là Tổng Bí thư.
- Tháng 3-1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tại một địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao
(Trung Quốc). Trên cơ sở đánh giá tình hình thế giới và trong nước, Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu của toàn
Đảng trong thời gian trước mắt là: Củng cố và phát triển Đảng; tranh thủ quần chúng rộng rãi; chống chiến tranh
đế quốc. Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị và Điều lệ Đảng; thông qua các nghị quyết về vận động công
nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính và các nghị quyết về công tác liên minh phản đế, công tác trong các
dân tộc thiểu số, về đội tự vệ và cứu tế đỏ.
- Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Ban
Chấp hành Trung ương Đảng nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ai Quốc là đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng
sản.Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, với tư cách Trưởng đoàn đại biểu Đảng ta, đồng chí Lê Hồng Phong đã
được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.
- Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng; Đại hội đã đánh dấu sự khôi phục được hệ
thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước, thống nhất phong trào đấu
tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân khác dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Ngày 22-6-1938 Lê Hồng Phong bị bắt tại Sài Gòn, sau 6 tháng tù giam, chúng đưa về quê nhà quản thúc. Lo
sợ trước vai trò của lãnh tụ Lê Hồng Phong ngày 29-9-1939 bọn mật thám Pháp lại bắt giam đồng chí tại Khám
lớn Sài Gòn. Cuối năm 1940 chúng đày Lê Hồng Phong ra Côn Đảo. Trước sự đầy đoạ khắc nghiệt, tra tấn dã
man, tàn bạo của kẻ thù, đồng chí vẫn nêu cao khí tiết của người cộng sản. Đồng chí bị kiệt sức và trút hơi thở
cuối cùng vào trưa ngày 5-9-1942.
- Sau Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiều đồng chí Trung ương bị bắt; công tác của Ban Chấp hành Trung ương
do Ban chỉ huy ở nước ngoài đảm nhiệm. Đồng chí Hà Huy Tập-Trưởng Ban lãnh đạo hải ngoại kiêm chức Tổng
Bí thư của Đảng đến tháng 3-1938. Để kiện toàn cơ quan lãnh đạo của Đảng, Hội nghị Trung ương tháng 3-1938
bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào Ban thường vụ Trung ương và được cử giữ chức Tổng Bí thư của Đảng. Sau
Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn và một số đồng chí uỷ viênTrung ương
bị bắt, các đồng chí còn lại cùng đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt (Xứ uỷ Bắc Kỳ) tổ
chức lại Ban Chấp hành Trung ương của Đảng, đồng chí Trường Chinh được cử giữ chức quyền Tổng Bí thư của
Đảng.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm
Việt Nam và chỉ rõ “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình
thống nhất nước nhà”. Sau lời khai mạc, đồng chí Lê Duẩn, Uỷ viên Bộ Chính trị đọc Báo cáo Chính trị trước Đại
hội. Báo cáo Chính trị nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống
trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước
Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh. Vì vậy nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền
Nam là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn
thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền
Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hoà bình, thực
hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông-Nam-Á và
trên thế giới. Báo cáo nhấn mạnh tính chất lâu dài, gian khổ và phức tạp của cách mạng miền Nam và quá trình
giành thắng lợi của cách mạng miền Nam là quá trình phát triển từ thấp đến cao, kết hợp nhiều hình thức đấu
tranh, lấy việc xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng cách mạng của quần chúng làm cơ sở.
- Tiếp theo Báo cáo Chính trị, đồng chí Lê Đức Thọ đọc báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ Đảng. Báo cáo chỉ rõ
trước tình hình mới, yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Đảng là phải ra sức củng cố Đảng về mặt tư tưởng và tổ
chức, phải giữ vững và nâng cao hơn nữa tính chất giai cấp và tính chất tiên phong của Đảng để nâng cao sức
chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng có khả năng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo quản lý
kimh tế và văn hoá, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm tròn nghĩa vụ lãnh đạo cuộc đấu
tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
- Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 uỷ viên chính thức và 31 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp
hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết; Ban Bí thư Trung ương
Đảng có 7 đồng chí. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Lê Duẩn được bầu làm
Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng
- Trong diễn văn bế mạc Đại hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người khẳng định: Đại hội lần thứ hai đã đưa kháng
chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn
Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất
nước nhà.
Câu 2: Hoàn cảnh lịch sử và nội dung của Đại hội Quốc dân ở Tân Trào(8/ 1945)
- Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta. Ngay từ khi Pháp nổ súng xâm lược, nhân
dân ta đã liên tục đứng lên kháng Pháp, kẻ trước ngã, người sau kế tiếp. Song, tất cả phong trào yêu nước chống
Pháp lúc bấy giờ đã lần lượt thất bại.
- Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế và các đô thị khác, cơ sở Việt Minh đã được tổ chức ở trong
nhiều nhà máy, trờng học, đường phố Phong trào thanh niên, học sinh, trí thức được khởi dậy mạnh mẽ. Đảng
dân chủ Việt Nam ra đời (6-1944). Hội Văn hoá cứu quốc được thành lập. Mặt trận Việt Minh có thêm các thành
viên mới. Các căn cứ địa và lực lượng vũ trang cách mạng được hình thành.
- Tháng 3-1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương, tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị
sâu sắc. Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng và đã ra bản chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và
hành động của chúng ta" vạch ra những nhiệm vụ và chủ trương, biện pháp cách mạng mới để chỉ đạo phong trào
cách mạng trong cả nước phù hợp với tình hình lúc này. Một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề
cho cuộc tổng khởi nghĩa đã phát triển trong toàn quốc. Phong trào chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần đã
diễn ra trong nhiều địa phương, nhất là ở thượng du và trung du Bắc Kỳ. Hàng loạt xã, châu, huyện thuộc các tỉnh
Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang được giải phóng.
- Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị tổ chức Uỷ ban dân tộc giải phóng. Chỉ thị nêu rõ: "Trong tình
thế chính quyền đế quốc có chỗ tan rã, có chỗ không được ổn định như ở nước ta ngày nay, Uỷ ban dân tộc giải
phóng là hình thức tiền chính phủ, trong đó nhân dân học tập để tiến lên giữ chính quyền cách mạng". Uỷ ban dân
tộc giải phóng được thành lập ở các cấp từ cơ sở đến Trung ương. Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức là
Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.
- Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh về Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang. Ngày 4-6-1945, Hội nghị cán bộ Việt
Minh đã quyết nghị thành lập khu giải phóng. Khu giải phóng chính thức được thành lập gồm hầu hết các tỉnh
Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang và một số vùng lân cận thuộc Bắc Giang,
Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Uỷ ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng gồm 5 người. Uỷ ban có nhiệm vụ lãnh
đạo toàn Khu về các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội. Chính sách chung của Uỷ ban lâm
thời dựa vào ba điểm chính sau:
1 - Tổng động viên nhân dân trong khu để kháng Nhật.
2 - Căn cứ vào điều kiện cụ thể và nhu cầu của cuộc kháng chiến mà thực hiện chương trình Việt Minh, kiến lập
nền dân chủ cộng hoà và ban bố các quyền phổ thông đầu phiếu, tự do dân chủ, dân tộc tự quyết, nam nữ bình
quyền.
3 - Cải thiện sinh hoạt cho nhân dân: bỏ sưu, bỏ thuế thân, vận động sinh sản, v.v Tân Trào được chọn là Thủ đô
lâm thời của Khu giải phóng. Hơn một triệu đồng bào trong Khu giải phóng bắt đầu được hưởng thành quả cách
4
mạng.Khu giải phóng là căn cứ địa chính của cách mạng cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của Nước Việt Nam
thành công, với một giọng nói hiền từ mà kiên quyết, các đại biểu ai nấy đều có cảm tưởng đã được thoả mãn
trong ước vọng bình sinh của mình, lòng tin tưởng vào tương lai càng cao". Trường Chinh, Tổng bí th ư Đảng
Cộng sản Đông Dương, đọc bản báo cáo trước Đại hội nêu ra hai vấn đề lớn: Tổng khởi nghĩa và bầu Uỷ ban dân
tộc giải phóng. Đảng cộng sản Đông Dương chủ trương lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của
Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai
của Nhật, đứng địa vị cầm quyền mà tiếp đón quân Đồng Minh vào giải ngũ quân Nhật trên đất Đông Dương .
- Đại Hội đã nghe Hoàng Quốc Việt báo cáo về phong trào công nhân, Trần Đức Thịnh về nông dân, Nguyễn
Đình Thi về văn hoá, Hoàng Đạo Thuý về hướng đạo, v.v Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi
nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và hiệu triệu nhân dân toàn quốc, các đoàn thể cách mạng phải kịp thời
đứng lên phấn đấu, thi hành 10 điểm sau:
"1- Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc
lập.
2- Võ trang nhân dân. Phát triển Quân giải phóng Việt Nam.
3- Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay
chia cho dân nghèo.
4- Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
5- Ban bố những quyền của dân, cho dân: nhân quyền; tài quyền (quyền sở hữu); dân quyền; quyền phổ
thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân
tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.
6 - Chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.
7 - Ban bố Luật lao động: ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.
8 - Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở mang Quốc gia ngân hàng.
5
9 - Xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ
cấp, kiến thiết nền văn hoá mới.
10 - Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng mình và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng
tình và sức ủng hộ của họ" .
Đại hội đã quyết định lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy
Liệu, Phó Chủ tịch và các Uỷ viên là Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng,
Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí
Nội dung cơ bản của Bản Tuyên ngôn độc lập
Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự
do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và
bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do,
bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và
chính nghĩa.Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.Chúng thi hành
những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước
6
nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém
giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.Chúng
ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy
nhược.Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác,
tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và
nhập cảng.Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần
cùng.Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
- Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực
dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ
đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn
hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
- Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là
đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai
lần cho Nhật.Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn
thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng
còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
- Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghi hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc)
dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng
sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của
Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng.
7
-Sau thời gian học tập ở Liên Xô, tháng 4-1930 đồng chí Trần Phú trở về nước hoạt động. Theo đề nghị của
Nguyễn Ai Quốc, Trần Phú tham gia Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và được phân công cùng Ban Thường
vụ chuẩn bị kỳ họp thứ nhất của BCHTW và dự thảo Luận cương chính trị.
Câu 5: Nhân kỉ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 79
năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam Đảng ta đã mở cuộc vận động xây dựng chỉnh
đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng. Bạn hãy cho biết cuộc vận động
trên đựơc Đảng ta đề ra từ Hội nghị TW Đảng lần thứ mấy? Khóa mấy? Nêu lên nội dung
cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng.
Cuộc vận đông trên đựơc Đảng ta đề ra từ Hội nghị TW Đản lần thứ 6(Khóa VIII) đã đề ra nhiệm vụ”
Toàn Đảng tiến hành cuộc vận động xây dựng, chính đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình Đảng, toàn dân
ta.
Nội dung cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên cả ba mặt tư tưởng,
chính trị và tổ chức làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh đang là một yêu cầu bức xúc của toàn Đảng, toàn dân
ta.
+ Xây dựng chỉnh đốn Đảng về tư tưởng là làm cho hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tửong
Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân ta, giữ vững và
tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Tại lớp huấn luyện Đảng Viên mới của Thành ủy Hà Nội,
ngày 14/ 5 /1966 Bác Hồ nói: “ Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt
là do các đảng viên đều tốt. Muốn có lập trường vô sản vững chắc thì Đảng viên phải có ý thức giai cấp, đồng
thời phải có lý luận cách mạng. Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai
cấp vững vàng.
+ Xây dựng chỉnh đốn Đảng về chính trị là kiên định con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, giữ
vững mục tiêu độc lập và chủ nghĩa xã hội. Trong những bài học mà Đại Hộ VIII của Đảng đã tổng kết sau mười
năm đổi mới, bài học về giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được đưa lên hàng đầu. Độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bài học xuyên suốt trong lịch sử lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.
cần tiết kiệm và có thể tiết kiệm.
1. Tiết kiệm thời gian và tài lực, vật lực.
Theo Hồ Chí Minh, tiết kiệm là để tích lũy vốn, đầu tư cho sản xuất, làm cho sản xuất phát triển, trên cơ
sở đó cải thiện dần đời sống nhân dân. Trả lời câu hỏi “Tiết kiệm là gì?”, Người nói: “tiết kiệm cốt để giúp vào
tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo
lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực”. Trong kháng chiến chống Pháp, khi kêu gọi
mọi người tiết kiệm, Người giải thích: kinh tế của ta nghèo nàn, lạc hậu, chúng ta cần phải có một nền kinh tế
khá, để kháng chiến và kiến quốc. Muốn xây dựng kinh tế, thì phải có tiền của để làm vốn. Muốn có vốn, thì các
nước tư bản dùng 3 cách: vay mượn nước ngoài, ăn cướp của các thuộc địa, bóc lột công nhân, nông dân. Những
cách đó chúng ta đều không thể làm được. Chúng ta chỉ có cách là một mặt tăng gia sản xuất, một mặt tiết kiệm
để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta. “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, gặp
việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân
nhịn ăn, nhịn mặc”.
Khi miền Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh vẫn
khẳng định ý nghĩa to lớn của việc tiết kiệm. Theo Người, chúng ta phải tiết kiệm sức lao động. Thí dụ: “việc gì
trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của mỗi người, nhờ
vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được”. Chúng ta phải tiết kiệm thời giờ. Việc gì trước kia phải làm 2 ngày,
nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong 1 ngày. Chúng ta phải tiết kiệm tiền của.
Việc gì trước phải dùng nhiều người, nhiều thời giờ, phải tốn 2 vạn đồng. Nay vì tiết kiệm được sức người và thời
giờ, nguyên liệu, cho nên chỉ tốn 1 vạn là đủ. Theo Người, cần tìm cách tổ chức sắp đặt cho hợp lý, để một người
có thể làm việc như hai người, một ngày có thể làm việc của hai ngày, một đồng có thể dùng bằng hai đồng.
2. Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm, trước hết là các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp.
Hồ Chí Minh quan niệm tiết kiệm là công việc của mọi người, ai ai cũng cần tiết kiệm, cơ quan, đơn vị
cũng có thể tiết kiệm được. Không chỉ công nhân, nông dân cần thực hành tiết kiệm mà cả chiến sĩ, các đơn vị bộ
đội không phải là cơ quan sản xuất cũng vẫn có thể tiết kiệm được, các chiến sĩ cũng cần tiết kiệm và cũng có thể
tiết kiệm. Người ví dụ: Trước kia tính đổ đồng mỗi chiến sĩ bắn 50 viên đạn mới hạ một mục tiêu. Nay vì tập
luyện siêng năng, bắn khá, tính đổ đồng mỗi chiến sĩ chỉ bắn 10 viên đạn thì hạ được một mục tiêu. Thế là chiến
sĩ tiết kiệm được 80% đạn. Do đó mà quân giới tiết kiệm được nguyên liệu và nhân công đúc đạn, để chế tạo
những vũ khí khác. Trước kia Cục Vận tải phải chở 100 xe đạn, nay chỉ cần chở 20 xe, tiết kiệm được xe cộ và
dầu mỡ. Xe chạy ít, thì đường sá phải chữa ít, thế là tiết kiệm được dân công, v.v Trong các chiến dịch thu được
bừa kỹ, bón phân nhiều, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi. “Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm
cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu”. Nếu không, thì nó sẽ
làm hại đến công việc của ta.
Tham ô là ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều,
lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô. Dân lấy
cắp của công, khai gian, lậu thuế cũng là tham ô. Còn lãng phí có nhiều cách. Có thể lãng phí sức lao động, lãng
phí thời gian, tiền bạc của tập thể, của nhà nước hay của chính bản thân mình. Theo Người, lãng phí sức lao động
là việc gì ít người cũng làm được mà vẫn dùng nhiều người. Trong các cơ quan, các xí nghiệp, đơn vị thường mắc
khuyết điểm này do bố trí công việc kém, cán bộ không thấy hết khả năng của người lao động, của chiến sĩ. Lãng
phí thời giờ: việc gì có thể làm trong một ngày một buổi, cũng kéo dài đến mấy ngày do những cuộc khai hội, vì
người phụ trách chuẩn bị chương trình không đầy đủ, người đến dự hội thì không chuẩn bị ý kiến, đáng lẽ chỉ một
ngày thì bàn bạc và giải quyết xong vấn đề, song cuộc khai hội kéo dài đến năm, ba ngày. Lãng phí tiền của và
tiêu pha phí phạm, đáng tiêu ít lại tiêu nhiều: Có rất nhiều hình thức lãng phí tiền của, như các cơ quan dùng vật
liệu một cách phí phạm. Các xí nghiệp dùng máy móc và nguyên liệu không hợp lý, giữ gìn xe cộ, tiết kiệm dầu
mỡ không triệt để, làm kho tàng không cẩn thận; người giữ kho kém tinh thần trách nhiệm, để thóc gạo ẩm ướt,
nguyên nhiên, vật liệu hao hụt, hư hỏng. Ngân hàng không khéo sử dụng tiền bạc, để tiền bạc ứ đọng lại, không
bổ ích cho việc tăng gia sản xuất. Cơ quan kinh tế làm kế hoạch không thiết thực, không sát với hoàn cảnh, để
Chính phủ phải lỗ vốn. Bộ đội không biết quý trọng giữ gìn quân trang, quân dụng và chiến lợi phẩm. Nhân dân
bỏ hoang ruộng đất, đốt vàng mã, bán trâu, cầm ruộng để làm đám cưới, đám ma, việc sửa chữa cầu đường lãng
phí nhân công nhiều vì tổ chức không khéo.
Hồ Chí Minh cho rằng “tham ô là trộm cướp. Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng
rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô”. Nguyên nhân của nạn tham ô và lãng phí
là vì bệnh quan liêu. Những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực
tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Đối với công việc thì trọng hình thức mà không
xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không
kiểm tra đến nơi, đến chốn. Thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà
không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô,
lãng phí. Bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô,
lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu.
5. Phải biết giáo dục, lãnh đạo, giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm.
Chai mật ong do Bác tặng
Thường tối thứ bảy, Bác ra xem phim ngắn khoảng gần một tiếng tại Phủ Chủ tịch. Thủ tướng Phạm Văn Ðồng
cùng xem với Bác. Buồng chiếu phim có anh em ở đơn vị bộ đội bảo vệ, anh em bảo vệ và phục vụ Bác. Thỉnh
thoảng anh Vũ Kỳ lại tổ chức buổi hát hoặc ngâm thơ phục vụ Bác.
Tối ngày 31-5-1969 tại Phủ Chủ tịch, Bác và đơng đủ các vị lãnh đạo Ðảng và Nhà nước tới dự buổi ca múa nhạc
nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi. Buổi tối hơm đó đã được ghi lại trên những thước phim, ảnh Bác Hồ ngồi giữa các
cháu như ơng tiên ngồi giữa bầy cháu nhỏ. Sau buổi diễn rất vui, Bác chia kẹo cho các cháu. Lúc ra về, dọc đường
Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ: Dưới hàng ghế có cụ nào ngồi đấy. Ðồng chí Vũ Kỳ trả lời: Dạ, đó là cụ thân sinh của
bác sĩ Mẫn, Bác nói:
- Sao khơng giới thiệu cho mình để mình bắt tay.
Vài ngày sau đồng bào Tây Bắc gửi về biếu Bác một chai mật ong, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ: Chai mật ong này
để biếu ơng cụ chú Mẫn.
Tơi đưa về và kể cho bố tơi, bố tơi cảm động chảy nước mắt và giữ gìn chai mật ong cho tới lúc qua đời (20 năm
sau đó).
Câu 8: Dự đoán có bao nhiêu người tham dự: 24501
11