CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU
1. CÔNG NGHIỆP NĂNG LƯỢNG (CNNL)
a. Vai trò
CNNL bao gồm hàng loạt các ngành khác nhau từ việc khai thác các dạng năng lượng (than, dầu
khí ) cho đến việc sản xuất điện năng nhằm tạo ra cơ sở động lực phục vụ cho quá trình CNH’ & HĐH’ đất
nước. Có thể chia ra 2 nhóm ngành chính (nhóm ngành khai thác các mỏ nhiên liệu và nhóm ngành sản xuất
điện). CNNL được coi như mảng CSHT quan trọng nhất trong toàn bộ kết cấu hạ tầng sản xuất. Phát triển
ngành này sẽ kéo theo hàng loạt các ngành khác như CN cơ khí; SXVLXD; xây dựng cơ bản khác. Đồng
thời nó cũng thu hút những ngành sử dụng nhiều điện năng như luyện kim màu; CB' kim loại; CB'TP; Hoá
chất; Dệt Vì thế, CNNL thường là một tổng thể sản xuất có qui mô lớn, được xây dựng ở nơi có vị trí địa
lý thuận lợi, đầu mối giao thông quan trọng có khả năng tạo vùng rất lớn (tiêu biểu là TTCN Hạ Long, Cẩm
Phả). Ngành này từ lâu đã được Đảng và Nhà nước đã coi trọng và được đi trước một bước, vốn đầu tư cho
ngành thường chiếm trên 1/2 vốn đầu tư cho CN. Về GTSL, chỉ đứng sau CNCB LT-TP.
b. Quá trình phát triển
▪ Thời kỳ Pháp thuộc & kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc
+ Công nghiệp khai thác than. Thực dân Pháp rất chú ý đến việc phát triển ngành này, ngay từ khi
chưa hoàn thành việc xâm lược Bắc Kỳ Pháp đã chú ý đến dải than Đông Triều-Cái Bàn (1882), đến 1884
chúng thành lập Công ty than Bắc Kỳ. Việc khai thác than có sức cạnh tranh lớn, đạt hiệu quả kinh tế cao;
Vì vậy chỉ sau 10 năm xây dựng cơ bản, năm 1895 Công ty than Bắc Kỳ đã đi vào hoạt động với qui mô
lớn. Trong vòng 30 năm sau (1895-1925) sản lượng than đã đứng thứ 5 châu Á, chỉ sau sau Nhật, Trung
Quốc, Ấn Độ (thuộc Anh), Inđônêxia (thuộc Hà Lan). Cho đến khi rút khỏi vùng mỏ, trong vòng 60 năm,
thực dân Pháp đã khai thác khoảng 50-60 triệu tấn, phần lớn là than lộ thiên, chất lượng tốt đưa về chính
quốc. Nguyên nhân dẫn tới việc khai thác than sớm của thực dân Pháp: Trước hết, than ở nước ta là than
antraxit nhiệt lượng cao, phân bố tập trung ở Quảng Ninh, nằm sát biển, dễ vận chuyển, than lộ thiên, ít tốn
kém trong khi xây dựng CSHT, tiết kiêm được vốn đầu tư, thuận lợi trong việc sử dụng lao động thủ công.
Vùng mỏ Quảng Ninh nằm gần kề ĐB sông Hồng, đông dân, việc tuyển mộ công nhân dễ dàng và giá rẻ.
Mặt khác, thời kỳ này thị trường ĐNÁ thiếu than, Pháp đẩy mạnh việc khai thác than để chiếm lấy thị
trường này và ngăn chặn sự xâm nhập của Anh. Những hậu quả xấu khi Pháp khai thác than ở nước ta. Với
nhiều lý do khác nhau, chúng thường hướng vào các mỏ dễ khai thác. Do thiếu qui hoạch cụ thể nên tài
nguyên này bị khai thác bừa bãi, lãng phí. Các bãi thải đất đá đổ lên các khoáng sản chưa khai thác. Môi
trường bị huỷ hoại. Nhân công bị bóc lột nặng nề
thác than được tăng cường như hình thành các đường cung cấp điện, nước, thông tin-bưu chính, các phương
tiện vận tải (xe tải có trọng tải lớn, băng chuyền ), các xí nghiệp sửa chữa, xưởng chế tạo ắc qui, mìn nổ,
băng chuyền, tuyển lựa than, phương tiện bốc xếp, bến cảng. Kết thúc KH 5 năm lần I (1965) sản lượng
than đã đạt 4,23 triệu tấn (gấp 2,2 lần so với 1930). Đã hình thành được một trục đô thị dọc QL18 từ Đông
Triều-Cửa Ông. Trong chiến tranh phá hoại, vùng mỏ cũng bị đánh phá ác liệt, song sản lượng than vẫn đạt
2,6-3,4 triệu tấn/năm. Năm 1975 sản lượng đạt 5,2 triệu tấn (gấp 1,23 lần so với 1965).
+ CN điện lực: Dựa vào nguồn nguyên liệu sẵn có, ở giai đoạn đầu từ (1955-1960) hàng loạt các nhà
máy nhiệt điện có qui mô vừa và lớn được xây dựng như Cao Ngạn (Thái Nguyên), Việt Trì (Phú Thọ), Lào
Cai, Vinh, Hàm Rồng (Thanh Hoá); Cùng với nó là việc mở rộng và nâng cấp các nhà máy điện cũ (Hà Nội,
Hải Phòng, Nam Định). Sau 5 năm khôi phục và phát triển, sản lượng điện của miền Bắc năm 1960 đã đạt
255,8 triệu kwh.
Giai đoạn 1961-1965 và 1966 -1975, các nhà máy điện cỡ lớn được xây dựng như Uông Bí
(153MW), Ninh Bình (120MW), Thác Bà (108MW) đã nâng sản lượng điện năm 1965 lên 633,6 triệu kwh
(bằng 52% sản lượng điện của cả nước). Các nhà máy điện được liên kết với nhau bằng đường dây cao thế
35KV và 110KV phủ khắp đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Để phục vụ cho xây dựng hậu phương lớn lúc
đó, trong cơ cấu sử dụng điện ở M.Bắc, ngoài việc tập trung cho công nghiệp còn dành một phần cho nông
nghiệp (đặc biệt là thủy lợi). Chúng ta đã XD gần 5.000km đường tải điện và gần 2.000 trạm biến thế với
tổng công suất 219.000KV, cũng trong thời kỳ này, Nhà nước đã thăm dò và chuẩn bị khai thác tổng thể
tiềm năng thuỷ điện trên hệ thống sông Hồng, hàng loạt các trạm thủy điện nhỏ được XD ở miền núi (riêng
ở Hòa Bình đã có 200 trạm). Đầu thập kỷ 60 và tiếp theo đến nửa đầu thập kỷ 70, thủy điện Thác Bà
(108MW) mới xây dựng đã thoát khỏi cuộc chiến tranh phá hoại và đưa nguồn điện vào mạng lưới điện
quốc gia. Đây là giai đoạn chuẩn bị cần thiết cho các ch/trình khai thác hệ thống S.Hồng sau này.
Bảng 3.4. Cơ cấu sử dụng điện ở miền Bắc thời kỳ 1966 - 1975
Năm
Cơ cấu phân phối và sử dụng điện năng (%)
Công nghiệp Nông nghiệp Các ngành khác Sinh hoạt
1965 60,5 6,1 20,6 12,8
1975 63,2 12,8 8,0 16,0
- Ở miền Nam: Trong vòng 2 thập kỷ (1955-1975), công nghiệp điện lực chỉ phát triển mạnh khoảng
10 năm khi Mỹ đổ bộ quân vào. Do thiếu cơ sở nhiên liệu độc lập, nên ngành điện phụ thuộc hoàn toàn vào
- Nguồn khoáng uranium với uran thiên nhiên, trữ lượng 18 vạn tấn, ở Lai Châu.
- Nguồn nhiệt suối khoáng (hay nguồn địa nhiệt) cũng có nhiều triển vọng, với 46 lỗ khoan của trên
400 nguồn suối khoáng thiên nhiên ở Tú Lệ, Bản Heo (Văn Chấn - Yên Bái), Kim Bôi (Hoà Bình), Quang
Hanh (Quảng Ninh), Lò Vôi (Lệ Thuỷ - Quảng Bình) thì nhiệt độ nước trên mặt đạt 75 - 100
0
C. Ngay ở
đồng bằng Bắc Bộ, nguồn nước khoáng có trong trầm tích Nêôgen dưới độ sâu 3.000 - 3.500m cũng có
nhiệt độ 195
0
C - 200
0
C.
- Nguồn năng lượng của sóng biển và thuỷ triều khá phong phú, ven biển cứ 10 km/1 cửa sông,
đường bờ biển dài 3260 km. Sóng biển và thủy triều là nguồn năng lượng đáng kể. Theo ước tính năng
lượng sóng triều ở Biển Đông là 250kw (bán nhật triều) và 122kw (nhật triều).
- Năng lượng mặt trời và năng lượng của gió, nếu được sử dụng sẽ rất có lợi cho các vùng đảo xa và
các tỉnh cực Nam Trung Bộ, những vùng có chế độ gió và cường độ chiếu sáng mạnh của mặt trời ổn định
quanh năm.
▪ Tuy nhiên, nguồn năng lượng của nước ta phân bố không đều:Tập trung chủ yếu ở Bắc Bộ, đến
Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Các vùng ven biển Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều hạn
chế. Một sự phân hóa khác là các vùng nằm ở sườn Tây (dãy Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn Nam) có trữ
lượng thuỷ năng lớn. Ngược lại ở phía Đông (kể cả đồng bằng, ven biển và thềm lục địa) lại có cơ sở nhiên
liệu phong phú (dầu - khí).
▪ Chính sách của Nhà nước đối với ngành CNNL. Do sớm nhận thức được vai trò động lực của
ngành CNNL. Ngay từ khi miền Bắc được giải phóng, các kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế, cũng
như các kế hoặc 5 năm đều ưu tiên đầu tư cho ngành công nghiệp này. Vì thế, trong bất kỳ tình thế nào cơ
sở năng lượng vẫn đảm bảo, khi chuyển sang cơ chế thị trường, một số ngành công nghiệp mới cần sử dụng
nhiều điện năng, đòi hỏi kỹ thuật cao đã có điều kiện thuận lợi phát triển. Sự phát triển ngành CNNL theo
một chính sách năng lượng độc lập, chủ yếu dựa vào nội lực. Điều này được thể hiện ngay sau khi miền Bắc
được giải phóng, thông qua việc hướng vào nguồn than và thủy năng. Khi đất nước thống nhất (1975), Nhà
1.000 tấn than cần 50 - 60m
2
gỗ chống lò), tỉ lệ hao hụt còn rất lớn 40 - 50%.
Nhu cầu than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện tăng nhanh (ví dụ, nhà máy nhiệt điện Phả Lại I,
Uông Bí, Ninh Bình tiêu thụ 2,5 triệu tấn/năm), chưa tính hàng loạt các nhà máy nhiệt điện đang hoạt động
và xây dựng cùng với việc tăng nhanh của sản xuất xi măng, VLXD cũng đòi hỏi nhiều về than. Với khả
năng khai thác như hiện nay thì ngành than cần phải tìm kiếm thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm,
hạ giá thành để đảm bảo cân đối giữa cung & cầu.
Bảng 3.5. Sản lượng than từ 1975 - 2008 (triệu tấn)
Năm 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2008
Sản lượng 5,20 5,20 5,70 4,60 8,35 11,6 34,1 39,7
▪ Ngành khai thác dầu mỏ - khí đốt.
+ CN khai thác dầu mỏ: Đây là ngành còn non trẻ. Năm 1986 khai thác tấn dầu đầu tiên, nhưng từ
đó đến nay ngành này đã trở thành ngành CNTĐ của đất nước. Quá trình tìm kiếm dầu-khí được tiến hành
từ những năm 50 ở cả 2 miền. Theo dự báo thăm dò hiện nay, khu vực có trữ lượng lớn nhất là từ miền
Trung vào đến Nam Bộ trên vùng thềm lục địa. Trên diện tích ~ 318.000km
2
được điều tra bằng phương
pháp địa vật lý đã xác định được 9.000km
2
có triển vọng lớn, và khoảng 20 vạn km
2
có triển vọng vừa và
nhỏ. Bước đầu dự báo trữ lượng dầu mỏ có thể lên vài tỉ tấn và hàng trăm tỉ m
3
khí đốt (Lê Quốc Sử, 1998).
Ở miền Bắc, từ 1954 Nhà nước đã quan tâm đặc biệt đến việc tìm kiếm dầu mỏ. Từ 1960-1975 đã
phát hiện mỏ khí đốt ở Tiền Hải (Thái Bình) tuy không lớn nhưng được coi là giai đoạn mở đầu cho ngành
dầu - khí nước ta. Ở miền Nam, trong giai đoạn này cũng có tiến hành thăm dò ở vùng biển Nam Trung Bộ
và Nam Bộ, nhưng chưa có kết quả cụ thể
399 km, công suất thiết kế là 7 tỉ m
3
/năm. Trước mắt đưa vào đất liền 2,7 tỉ m
3
/năm, cung cấp khí đốt cho
nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2, 3, 4.
Bảng 3.6. Sản lượng dầu thô của nước ta qua các năm 1986 - 2008 (đơn vị: 1.000 tấn)
Năm 1986 1990 1995 2000 2005 2008
Sản lượng 40,0 2700,0 7620,0 16291,0 18519,0 14904,0
+ Những hạn chế của ngành công nghiệp dầu - khí: Đây là ngành non trẻ cho nên mới dừng lại ở
việc xuất khẩu dầu thô, chưa có một cơ sở lọc dầu lớn (trừ một số cơ sở nhỏ như Cát Lái ở ngoại ô TP HCM
công suất ~ 40.000tấn/năm). Một điều bất cập lớn là trong khi chúng ta nhập hầu như tất cả các sản phẩm về
xăng-dầu, nhưng lại xuất khẩu toàn bộ dầu thô sản xuất ra, vì vậy cần xúc tiến xây dựng ngay các nhà máy
lọc dầu, để hạn chế việc nhập khẩu và tạo điều kiện phát triển ngành công nghiệp hoá dầu. Tháng 01/1998,
chúng ta khởi công xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất, công suất 6,5 triệu tấn dầu thô (hoạt
động 02/2009, chậm 7 năm theo kế hoạch), dự kiến sẽ xây dựng ở Nghi Sơn và một vài nơi khác
▪ Công nghiệp điện lực. Hệ thống các nhà máy điện bao gồm thủy điện và nhiệt điện với qui mô
khác nhau được phân bố tương đối rộng rãi ở những khu vực có nhiều tiềm năng. Sau 1975, ngành này phát
triển mạnh trên cơ sở mở rộng, nâng cấp các nhà máy hiện có và xây dựng mới hành loạt các nhà máy điện
với công suất lớn. Về sản lượng điện, năm 1975 chỉ mới đạt 2,4 tỉ kw/h, năm 2000 là 26,6 tỉ kw và đến năm
2008 đã lên trên 72,0 tỉ kw/h. Về cơ cấu: thuỷ điện (3/4), nhiệt điện (16,8%), tuốc bin khí (7,8%), điêzen
(2,7%), các nguồn khác (0.2%). Trong cơ cấu, thuỷ điện sẽ còn tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo.
Bảng 3.7. Sản lượng điện phát ra của cả nước thời kỳ 1975 - 2005 (triệu KW/h)
Năm 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2008
Sản lượng 2428,0 3680,0 5230,0 8790,0 14655,0 26683,0 52078,0 72100,0
▪ Các nhà máy thuỷ điện
- Ở phía Bắc: Lớn nhất là nhà máy thuỷ điện Hoà Bình công suất 1.920MW (1979 - 1994), đây là
“Công trình thế kỷ”của nước ta, công trình này tạo một hồ chứa dài 200km. Nhà máy nằm ở TX Hòa Bình
trên sông Đà, cách Hà Nội 70km. Thuỷ điện Thác Bà (110MW), trên sông Chảy thuộc H.Yên Bình (Yên
Bái), XD 1962-1970, nhà máy có 3 tuốc bin (công suất mỗi tuốc bin 38.000KW), đã tạo ra một hồ chứa
Bản Vẽ 320 Sông Cả Đang xây dựng
Vĩnh Sơn 66 Sông Côn Hoạt động 1994
Sông Hinh 70 Sông Hinh Hoạt động 1999
Hàm Thuận - Đa Mi 475 Sông La Ngà Hoạt động 2000
Nam
Bộ
Thác Mơ 150 Sông Bé Hoạt động 1994
Trị An 400 S.Đồng Nai
Hoạt động 1988
Tây
Nguyên
Đa Nhim 160
Lưu vực
S.ĐồngNai
Hoạt động 1974
Đại Ninh 300
Lưu vực
sông Đồng Nai
3 nhà máy này
đang XD, dự
kiến hoạt động
vào 2008-2010
Đồng Nai 3 180
Đồng Nai 4 340
Yali 720 Sông Xê Xan Hoạt động 2002
Xê Xan 3
780
(tính cả Yali là
1500)
Lưu vưc
Bảng 3.9. Một số nhà máy nhiệt điện đã hoạt động và đang xây dựng
Tên nhà
máy
Công suất
(MW)
Địa điểm Tên nhà máy
C.Suất
(MW)
Địa điểm
Phả lại 1 440 Hải Dương Phú Mĩ 1,2, ,4 4164 BRịa-VT
Phả Lại 2 600 Hải Dương Bà Rịa 328 BRịa-VT
Uông Bí 300 Q.Ninh Cà Mau 750
Cà Mau đang
xây dựng
Na Dương 110 Lạng Sơn Thủ Đức 165
Tp HCM
Cao Ngạn 116 Th.Nguyên Hiệp Phước 375
Ninh Bình 110 Ninh bình Chợ Quán 20
Cẩm Phả 600 (Dự kiến) Trà nóc 35 Tp Cần Thơ
Đã hình thành ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện và tự giải quyết trang thiết bị, tuốc bin cho
các nhà máy thủy điện từ 0,4 - 250MW với áp lực cột nước từ 10 - 130m. Nhà máy công cụ số 1 Hà Nội đã
chế tạo thành công tuốc bin nước 1.000KW cho các trạm thủy điện vừa như Bản Hoàng, Thông Gót (Cao
Bằng); S.Cùng, Đại Quang, Duy Sơn 2, Phú Ninh (Quảng Nam); Hảo Sơn (Phú Yên); Ea Tiêu (Đắc Lắc)
Đã chế tạo các loại biến áp từ 3.500 - 10.000KVA. Đã thiết kế và xây dựng qui hoạch điều phối điện trên
phạm vi cả nước, hình thành mạng lưới điện quốc gia thống nhất, khắc phục tình trạng mất cân đối về điện
năng giữa các vùng.
Về mạng lưới điện: chúng ta đã XD đường dây tải điện 500kv1 và 2. Đường dây tải điện 500kv I
Bắc - Nam dài 1.488km từ Hoà Bình – Plâycu - Đà Nẵng - Phú Lâm. Khởi công 5/4/1992 - 11/1994. Hàng
năm đã chuyển tải khoảng 3,0 - 4,0 tỉ kwh điện cho miền Trung - Tây Nguyên và Nam Bộ. Đây là công
trình đồ sộ, với tổng số vốn 5.714 tỉ đồng, sử dụng 2,5 vạn lao động là kỹ sư, công nhân kĩ thuật (trong đó,
Sao (Lạng Sơn); Đầm Hà (Quảng Ninh); Sa Pa (Lao Cai); Phong Thổ, Thác Bay, Nậm Cẳn (Lai Châu)
tương lai có thêm thủy điện Sơn La và Na Hang sẽ tạo thêm nguồn điện phục vụ sự nghiệp CNH’ và HĐH’
đất nước.
▪ Vùng CNNL Trung - Trung Bộ
Một dải từ Nghệ An đến Khánh Hoà và 5 tỉnh Tây Nguyên đều có tiềm năng lớn về thuỷ điện, nhưng
mức độ khai thác lại khác nhau. Ở Tây Nguyên, tiềm năng khá lớn có thể cho công suất lắp đặt 2000MW.
Có đường dây 500kv chạy qua 3 sông là S.Xêsan, Xrêpốc, Aydun. Hiện tại cũng chỉ có Đ’rây-H’Linh
(12MW) đã mở rộng lên 28MW trên S.Ea Krông; Yaly (720MW) trên S.Xêsan Các tỉnh miền Trung ở
sườn Đông Trường Sơn, sông ngắn, dốc nên chỉ khai thác được thuỷ điện vừa và nhỏ (10-500kw). Chỉ có
vài nơi có thể đặt máy từ 1.000-2.500 KW. Sự cực đoan của khí hậu (mùa khô-mưa) đã hạn chế mực nước ở
các hồ chứa. Ngoài nguồn thủy năng trên, cơ sở nhiên liệu độc nhất hiện có là mỏ than Nông Sơn, nhưng
khả năng phục vụ liên vùng hạn chế. Việc thăm dò, tìm kiếm dầu-khí mới đang bắt đầu, chưa có kết quả cụ
thể. Hiện nay, trong vùng chỉ mới có một vài nhà máy nhiệt điện (25 - 30 MW) ở Đà Nẵng, Đông Hà, Nha
Trang, và chừng 200 tổ máy nhỏ chỉ đáp ứng 60 - 70% nhu cầu cho sản xuất. Để đảm bảo cho nhu cầu sản
xuất, vùng cần sự hỗ trợ lớn của mạng lưới điện quốc gia qua đường dây 500kv tải điện từ Hòa Bình, Yaly
và một số nhà máy mới như Xêsan 3 và Xêsan 4
▪ Vùng CNNL Nam Bộ
Thế mạnh của vùng là thuỷ điện trên hệ thống S.Đồng Nai và dầu khí ở vùng thềm lục địa. Đây là
vùng có thị trường tiêu thụ cực lớn, nhưng vùng đang gặp hạn chế lớn giữa cung - cầu. Đó là, trong vùng có
hàng loạt các ngành CNCB’sử dụng nhiều điện (CN hoá chất, CBTP, cơ khí, SX HTD, khai thác và dịch vụ
dầu khí); Nhu cầu điện sinh hoạt (trong đó có TP HCM), dịch vụ, bưu chính viễn thông,.v.v. Gần kề đó,
ĐBSCL là vùng cung cấp trên 1/2 SLLT và trên 80% sản phẩm gạo xuất khẩu nhu cầu về điện cũng rất lớn.
Như vậy, nhu cầu về điện còn quá thiếu để thực hiện CNH’. Trong khi đó, từ năm 1986 bắt đầu khai thác
dầu thô, tuy tốc độ ngày càng tăng, nhưng chưa có cơ sở lọc dầu lớn để bổ sung cho nhu cầu. Việc khai thác
thuỷ năng trên sông Đồng Nai chủ yếu của các nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, Trị An, Thác Mơ, Hàm Thuận -
Đa Mi (riêng thuỷ điện Trị An đôi khi không đủ nước do rừng đầu nguồn bị tàn phá mạnh). Việc khai thác
khí đồng hành từ các mỏ ngoài thềm lục địa vào Bà Rịa và Thủ Đức cung cấp cho các nhà máy điện tuốc
bin khí (Phú Mĩ, Bà Rịa, Thủ Đức) cũng chỉ khai thác vài tỉ kwh. Trước tình hình trên, vùng vẫn phải sử
dụng nguồn năng lượng từ Hoà Bình tải vào và tiếp tục xây dựng thêm nhiều nhà máy mới và hoàn thiện
các đường dây tải điện đến các vùng.
Đông Sơn). Thời Hùng Vương có những bước tiến mới về kỹ thuật đúc đồng, sắt (di sản để lại là các loại
trống đồng Ngọc Lũ). Thời An Dương Vương (từ nửa sau TK III trước Công nguyên) là thời đại đồ sắt bên
cạnh những công cụ, vũ khí bằng đồng, vũ khí nỏ thần đã đi vào truyền thuyết và trên thực tế cũng đã tìm
thấy một số kho vũ khí mũi tên làm bằng đồng hàng vạn chiếc ở cầu Vực, P.Nam thành Cổ Loa vào năm
1959 (Lê Quốc Sử, 1998). Thời kỳ phong kiến, nghề này tiếp tục phát triển phục vụ cho xây dựng & bảo vệ
tổ quốc.
- Thời Pháp thuộc, các mỏ quặng được khai thác mạnh hơn, quặng sau khi khai thác chỉ qua 2 khâu
làm giàu và sơ chế rồi đem xuất. Năm 1903, Pháp tiến hành khai thác hàng loạt các mỏ (thiếc Tĩnh Túc, bạc
ở Ngân Sơn, đồng ở Vạn Sài, sắt ở Linh Nham, Cù Vân, vàng ở Bảo Lạc, Bồng Miêu, ). Riêng mỏ vàng ở
Bồng Miêu từ 1895-1914, mỗi năm Pháp đã lấy khoảng 100 kg. Một khối lượng tài nguyên lớn của nước ta
đã bị thực dân Pháp vơ vét (chỉ riêng năm 1911, Pháp đã lấy từ trong lòng đất khoảng 28.314 tấn quặng
kẽm, 199 tấn quặng thiếc, 100 tấn đồng, 112,5 tấn vàng và 42,2 tấn bạc )
- Sau 1954, công nghiệp khai thác và luyện kim có điều kiện để phát triển. Một số mỏ kim loại đen
được khôi phục và mở rộng việc khai thác. Để đáp ứng cho nhu cầu về gang và thép, chúng ta xây dựng một
số lò luyện gang và thép nhỏ ở Hà Nội, Hải Phòng, Hàm Rồng. Bên cạnh đó, về khai thác thiếc cũng được
mở rộng và hiện đại hoá, với sản lượng ~ 400 tấn thiếc/năm CNLK chỉ thực sự ra đời khi chúng ta xây
dựng khu LH gang thép Thái Nguyên vào năm 1962. Công suất thiết kế ban đầu là 20 vạn tấn gang, 10 vạn
tấn thép. Hỗ trợ cho việc luyện gang-thép là các xí nghiệp khai thác than Phấn Mễ, Làng Cẩm, Quán Triều,
Trại Cau; Điện Cao Ngạn, cơ khí Bắc Thái, VLXD, hóa chất Sau 1970, khu cán thép Gia Sàng và cơ khí
nông nghiệp Sông Công đã hoà nhập vào lãnh thổ này.
- Ở miền Nam, do thiếu cơ sở nguyên liệu, vì vậy ngành này chủ yếu dựa vào nguồn nguyên liệu
nhập, hoặc sắt phế thải trong chiến tranh, hàng năm đã sản xuất ~ 5 vạn tấn thép thép các loại. Trong đó
đáng kể nhất là 3 hãng: Vietnam Steel (1,0vạn tấn/năm), Công ty Visaca (2,5 vạn tấn/năm) và hãng Đông
Nam Á (1,2 vạn tấn/năm). Xuất hiện một số xưởng cán đồng từ nguyên liệu nhập, sản xuất tôn tráng kẽm
qui mô nhỏ
- Sau 1975, đặc biệt là từ sau công cuộc đổi mới, ngành này được quan tâm và chú trọng phát triển.
Việc phát triển tập trung vào một vài hướng chính: Thăm dò, đánh giá trữ lượng, đưa vào khai thác các mỏ
mới; mở rộng, hiện đại các mỏ cũ (như thiếc, crôm, bôxít, titan sa khoáng ). Trang bị công nghệ, kĩ thuật
tiên tiến thông qua việc chuyển giao kĩ thuật, hợp tác đầu tư với nước ngoài trong các lĩnh vực có liên quan
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước, hạn chế nhập khẩu. Sắp xếp lại tổ chức, quản lý nhằm
20,0 vạn tấn thép/năm. Sự phân bố tổng hợp theo hướng thứ 2 đã tạo ra mạng lưới CB' thép rộng khắp cả
nước.
3. CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ
a. Vai trò. Công nghiệp cơ khí có nhiệm vụ cung cấp toàn bộ trang - thiết bị phục vụ cho nền
KTQD, AN-QP và đời sống nhân dân. Nó đảm bảo việc SX công cụ, thiết bị, máy động lực cho tất cả các
ngành sản xuất, kể cả sản xuất HTD cho nhu cầu của xã hội. Vì vậy, cùng với ngành công nghiệp luyện kim,
công nghiệp cơ khí được coi là ngành trung tâm-chủ đạo-then chốt trong ngành công nghiệp, là “Máy cái
của nền sản xuất xã hội”. Với nước ta, trước yêu cầu của sự nghiệp CNH và HĐH, công nghiệp cơ khí phải
đủ mạnh để thực hiện các nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp, phải từng bước trang bị kỹ thuật tiên
tiến, hiện đại, tăng nhanh NSLĐ, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế.
b. Tình hình phát triển và phân bố
▪ Sự phát triển.
- Tiền thân của ngành công nghiệp cơ khí là các nghề thủ công tạo ra công cụ sản xuất, các binh
khí phục vụ công cuộc dựng nước và giữ nước. Nếu hiểu theo cách này, thì nghề rèn, đúc đã xuất hiện từ
rất lâu đời, dưới thời Hùng Vương. Đây là thời “Văn minh sông Hồng” của nước Văn Lang. Mở đầu là thời
kỳ này là giai đoạn Phùng Nguyên (cách đây 4.000 năm). Tiếp theo là giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, Đông
Sơn (cách đây gần 3.000 năm). Đặc trưng của nó là chuyển từ thời kỳ đồ đá sang sơ kỳ đồng thau, rồi trung
kỳ và hậu kỳ đồng thau phát triển rực rỡ với đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn (tiêu biểu là trống đồng Ngọc
Lũ). Các công cụ bằng đá nhường chỗ cho đồng thau, dẫn đến những biến đổi sâu sắc về sản xuất, xã hội,
chấm dứt thời kỳ nguyên thủy và bước sang thời kỳ có giai cấp và nhà nước.
- Dưới thời Pháp thuộc. Mặc dù trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, tuy các nghề này được phát
triển, nhưng chưa thể tạo ra được ngành cơ khí (theo đúng nghĩa của nó). Cũng trong thời Pháp thuộc, khi
mà ngành công nghiệp cơ khí trên TG đã phát triển ở trình độ cao, thì ở nước ta do chính sách đô hộ của
thực dân, ngành cơ khí rất nhỏ bé, chưa có chức năng chế tạo máy móc, thiết bị; chỉ đóng khung ở mức độ
sửa chữa, lắp ráp một số phương tiện nhỏ như nhà máy xe lửa Gia Lâm (Hà Nội), Tràng Thi (Nghệ An), Dĩ
An (phụ cận Sài Gòn), sửa chữa tàu biển ở Ba Son (Sài Gòn). Lớn nhất là xưởng Ba Son với trang thiết bị
tương đối khá và đội ngũ công nhân tương đối lành nghề.
- Sau 1954, ở miền Bắc: Dựa vào cơ sở cơ khí từ căn cứ kháng chiến chuyển về, được sự giúp đỡ
của Liên Xô (cũ), năm 1958 chúng ta xây dựng ở Hà Nội nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo (chuyên sản xuất
động cơ các loại), sau đó là nhà máy cơ khí công cụ số 1 (chuyên sản xuất các máy công cụ hạng nhẹ và
Động cơ điêzen Cái 4217 30329 201593 275236
Máy nông cụ Cái 1358 4121 3839 3045
Máy xay xát Cái 2043 12484 2734 5685
Máy biến thế Cái 6186 13535 45540 46915
Quạt điện
Nghìn cái 369,2 328,4 1751,7 3609,0
Ô tô lắp ráp Cái 3524 13547 59152 100076
Xe máy lắp ráp Nghìn cái 62,0 463,4 1982,1 2880,2
Ti vi lắp ráp Nghìn cái 770,0 1013,1 2515,3 366,7
Radio lắp ráp Nghìn cái 111,0 144,7 24,9 40
Tuy nhiên, trong những năm đầu đổi mới, ngành gặp nhiều KK do chưa thích nghi được với cơ chế
thị trường, SX có chiều hướng giảm sút, một số SP không tiêu thụ được (do chất lượng kém và không đủ
sức cạnh tranh với hàng nước ngoài), SP làm ra chỉ phục vụ thị trường trong nước. Nguyên nhân chính là do
chúng ta còn chậm đổi mới trong công nghệ, máy móc thiết bị cũ, sản phẩm làm ra từ cơ chế bao cấp, không
kích thích sự sáng tạo, chưa quan tâm đến nhu cầu tiêu thụ từ thị trường trong và ngoài nước, chương trình
đào tạo và đào tạo lại đã xơ cứng, không thích hợp với nhu cầu và sự phát triển của kỹ thuật, chính sách phát
triển chưa phù hợp, thiếu cụ thể. Nhưng với sự mở cửa của cơ chế thị trường, ngành cơ khí đã dần dần thích
nghi và tận dụng được những thế mạnh vốn có của mình. Một trong những lợi thế đó là LLLĐ có tay nghề
và giá lao động tương đối rẻ. Đội ngũ cán bộ kĩ sư và công nhân kỹ thuật trong ngành đã được nâng cao về
trình độ đã qua thử thách trong chiến tranh và trong thực tiễn XD đất nước. Mặt khác, ngành cũng đã liên
doanh với nước ngoài trong các lĩnh vực lắp ráp máy điện tử phục vụ nhu cầu truyền thông cho nhân dân,
SX máy động lực, máy nông nghiệp, lắp ráp xe hơi, xe máy, các loại máy dân dụng, Tuy vậy, cho đến nay
việc phát triển của ngành này vẫn chưa tương xứng với vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân, mặc dù có
sự gia tăng về GTSL, nhưng vị trí của ngành trong cơ cấu CN có chiều giảm sút.
▪ Sự phân bố. Nhìn chung, sự phân bố của ngành công nghiệp cơ khí đã có nhiều chuyển biến và có
xu hướng hợp lý hơn. Quá trình phát triển của ngành đã để lại một mạng lưới xí nghiệp được phân bố theo 2
xu hướng:
- Xu hướng (1) XD những trung tâm cơ khí mạnh, đóng vai trò hạt nhân trang bị KT cho một lãnh
thổ nhất định, giữa các trung tâm này đã hình thành các mối liên hệ về sản xuất. Cụ thể:
cho cây trồng-vật nuôi).
b. Tình hình phát triển và phân bố
▪ Về nguồn nguyên liệu, bao gồm cả nguồn nguyên liệu cơ vô cơ & hữu cơ. Nguồn nguyên liệu từ
nguồn gốc vô cơ, đó là các loại khoáng sản và nguyên liệu có trên đất liền, thềm lục địa như Apatit, có ở
Cam Đường (Lào Cai), là mỏ có trữ lượng lớn, kéo dài trên 100km, hàm lượng P
2
O
5
cao, dễ khai thác. Các
mỏ phốt phát có ở Vĩnh Thịnh (Lạng Sơn), Núi Vân (Thái Nguyên), Ngân Sơn (Nghệ An), tuy trữ lượng
nhỏ, nhưng cũng là nguyên liệu tốt để sản xuất phân bón. Pyrit, là nguyên liệu để sản xuất H
2
SO
4
, rất cần
thiết cho công nghiệp hoá chất, ở miền núi phía Bắc có khá nhiều mỏ nhưng hạn chế về trữ lượng như Quản
Bạ (Hà Giang), Bình Nhai, Lũng Hoài (Thái Nguyên), Bó Sinh (Sơn La), Nà Phèo (Lai Châu), Kim Bôi
(Hoà Bình), Giáp Lai (Phú Thọ). Muối biển ở miền Trung có tiềm năng rất lớn, hạt to, độ tinh khiết cao là
nguyên liệu cơ bản để sản xuất clo Nguồn nguyên liệu từ nguồn gốc hữu cơ: Dầu khí là cơ sở cho công
nghiệp năng lượng, đồng thời nó là tiền đề để phát triển ngành hoá dầu. Thảm thực vật phong phú là điều
kiện để hình thành ngành hoá chất hữu cơ và dược liệu nhiệt đới.
▪ Tình hình phát triển.
- Thời Pháp thuộc: ngành này chậm phát triển, chỉ có một vài xưởng ôxy và hàn hơi (Hải Phòng).
Sau đó là xưởng sản xuất đất đèn ở Lạng Sơn (1940), xưởng SX thuốc nổ (1941). Năm 1945 xây dựng
xưởng SX clorat pôtát và điều chế axit axêtic (từ gỗ), xilicat alumin (từ cao lanh) phục vụ cho công nghiệp
dược phẩm, đồng thời bắt đầu SX hoá chất cơ bản như NAOH (xút) và clo ở Hải Phòng. Ngoài ra có 2 nhà
máy nghiền phốt phát tự nhiên ở Hải Phòng và Mỹ Tho.
- Sau 1954: Ở miền Bắc: ngành này phát triển khá nhanh dựa trên cơ sở nguồn nguyên liệu tại chỗ
và nhu cầu to lớn trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Hàng loạt các nhà máy được xây dựng như về hóa
chất cơ bản có nhà máy hoá chất Việt Trì, sản xuất NaOH, CL, HCL, thuốc trừ sâu, bột PVC; Thành phố
206177,
0
200.491
c. Định hướng phát triển
▪ Về phân bón: Tăng cường SX phân đạm từ khí thiên nhiên (đến 2010 phải đạt 1,5 triệu tấn urê).
Mở rộng nhà máy phân đạm Bắc Giang lên 35 vạn tấn/năm. XD nhà máy SX phân đạm từ khí thiên nhiên ở
Bà Rịa-Vũng Tàu công suất 60 vạn tấn/năm. Xây mới 1-2 nhà máy phân lân.
▪ Về hoá chất: Dự kiến xây dựng nhà máy SX sôđa công suất 8,0 vạn tấn/năm liên doanh với
Ôxtrâylia ở KCN Tuy Hạ. Sau năm 2000 sẽ xây dựng nhà máy SX xút (NaOH) công suất 4 vạn tấn/năm,
XD nhà máy lọc dầu gắn với hoá dầu. Các hoá chất cơ bản (xút, sôđa, các loại axit ) sẽ tập trung ở các
KCN đã có như (Việt Trì, Lâm Thao, Bãi Bằng), hoặc gần nguồn nguyên liệu đá vôi (Tràng Kênh), không
đưa các nhà máy vào các TP và có biện pháp chống gây ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh sản xuất hoá chất
tiêu dùng (xà phòng, bột giặt, chế biến cao su, săm lốp xe đạp, xe máy, sơn ) ở từng vùng tiêu thụ. Tiến tới
sản xuất các loại hoá chất phục vụ công nghiệp quốc phòng (thuốc nổ, thuốc phóng, cao su kỹ thuật và các
loại nhựa chuyên dụng).
5. CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG (CN VLXD)
a. Vai trò. Trong toàn bộ lĩnh vực XD kết cấu hạ tầng, thì VLXD có vai trò quan trọng hàng đầu.
Đây cũng là lĩnh vực mà từ bao đời nay, con người luôn nghiên cứu, tìm tòi, sản xuất để tạo ra các vật liệu
bền, chắc đẹp trong xây dựng. Nước ta đang trong quá trình CNH’- HĐH, việc mở rộng các TTCN, các
KCX, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng (đường sá, cầu cống, đê điều, đập nước, kho tàng, nhu cầu dân dụng
thành thị-nông thôn) Vì vậy nhu cầu về VLXD là rất lớn.
b. Tình hình phát triển và phân bố
▪ Nguồn nguyên liệu
CNSX VLXD bao gồm ngành SX xi măng, gạch ngói, vôi, thuỷ tinh, gốm, sứ, khai thác đá các loại,
cát, sỏi, Nhìn chung đều có ở các địa phương.
Đá vôi để sản xuất xi măng có nhiều ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, diện tích ~ 6 vạn km
2
, ở miền Nam có
ở một số nơi trữ lượng hạn chế. Các khu vực tập trung đá vôi với đất sét nguyên liệu là cơ sở cho việc hình
thành các nhà máy xi măng lớn như Hải Phòng-Quảng Ninh (đá vôi Tràng Kênh), khu vực phía nam Đồng
vùng nguyên liệu trù phú của dãy núi Tam Điệp và trên tuyến giao thông xuyên Việt, Hoàng Thạch do Đan
Mạch giúp đỡ nằm ở khu vực đá vôi Đông Triều, rất gần cảng Hải Phòng, tiếp theo lần lượt các nhà máy xi
măng cỡ lớn ra đời như Chinh Fong (Hải Phòng), Bút Sơn (Hà Nam), Sao Mai (Kiên Giang).v.v.
- Ngành sản xuất kính cũng phát triển mạnh dựa vào nguồn nguyên liệu dồi dào. Các xí nghiệp kính
phân bố ở Hải Phòng, Hải Dương, Đáp Cầu (lớn nhất là nhà máy kính Đáp Cầu). Ở miền Nam có ở Biên
Hoà và TP HCM.
- Ngành gốm-sành-sứ, là ngành truyền thống được phát triển khá sớm. Trong cơ chế thị trường
ngành gốm-sành-sứ xây dựng và trang trí phát triển khá nhanh. Các cơ sở phân bố chủ yếu ở Bát Tràng (Hà
Nội), Hải Dương, Móng Cái, Đồng Nai, Sông Bé (cũ).
- Gạch chịu lửa (là loại vật liệu mới) có ở Cầu Đuống, Tuyên Quang, Quảng Ninh). Bê tông đúc sẵn
ở Xuân Mai, Việt Trì và nhiều loại gạch men, đá ốp lát, tấm lợp ở nhiều nơi.
Bảng 3.13. Tình hình sản xuất một số sản phẩm của ngành công nghiệp VLXD từ 1995 - 2008.
ĐV tính 1995 2000 2005 2008
Thủy tinh Nghìn tấn 77,0 113,1 163,1 257,5
Sứ dân dụng Triệu cái 187,0 247,1 513,6 418,1
Sứ công nghiệp Nghìn cái 6000,0 6000,0 3581,0 4946,0
Gạch nung Triệu viên 6892,0 6892,0 16530,0 18278,0
Ngói nung Triệu viên 561,0 561,0 526,6 480,9
Xi măng Nghìn tấn 5828,0 5828,0 30808,0 40047,0
Tấm lợp Nghìn m
2
14791,
0
14791,
0
203411,
0 92830,0
Kính xây dựng Nghìn m
2
4751,0 4751,0 74767,0 74977,0
(30 - 50 vạn sản phẩm/năm), 5 xí nghiệp gạch gốm (TB/nhà máy > 1,0 triệu m
2
). Riêng nhà máy gạch Giếng
Đáy (Quảng Ninh) 3,0 - 4,5 tỉ viên/năm và xí nghiệp kính Đáp Cầu 28 triệu m
2
/năm.
▪ Vùng SXVLXD Trung Bộ (Nghệ An – Bình Thuận): Về nguồn nguyên liệu vùng có thế mạnh lớn
về cát thuỷ tinh. Về sản xuất xi măng, hiện nay mới chỉ có xi măng Hoàng Mai (Nghệ An), là lớn nhất, tiếp
đến là Thành Mỹ (Đà Nẵng) 1,5 triệu tấn/năm và Vân Xa (T-T- Huế) 0,5 triệu tấn/năm. Số còn lại là 5 trạm
nghiền clanhke, qui mô nhỏ, có ý nghĩa địa phương. Gạch men ceramic và sứ vệ sinh có ở Đà Nẵng, Huế.
Trong đó, gạch gốm-sứ (công suất ~3 triệu m
2
/năm). Sứ vệ sinh (~30 vạn sản phẩm).
▪ Vùng SXVLXD Nam Bộ. Về xi măng: Từ 2 cơ sở cũ SX clanhke và nghiền xi măng ở cách xa
nhau, từ Hà Tiên (Kiên Giang) về Thủ Đức (TP HCM), vùng đang nâng cấp các nhà máy cũ và XD thêm
một số nhà máy mới: Kiên Lương 1 (từ 1,0 triệu tấn lên 1,3 triệu tấn/năm) và XD mới nhà máy xi măng Sao
Mai (Kiên Giang) công suất 1,76 triệu tấn/năm (liên doanh với Thuỵ Sĩ), một phần clanhke được đưa về
nghiền ở Vĩnh Long (0,1 triệu tấn), Cần Thơ (0,2 triệu tấn), Phước Thắng (Vũng Tàu) 0,5 triệu tấn, Thủ Đức
1,2 triệu tấn, Bình Diễn (TP HCM) 0,2 triệu tấn. Hạn chế lớn nhất của vùng là nguồn nguyên liệu (đá vôi)
rất ít, chỉ có ở Hà Tiên. Sản xuất gạch, gốm, sứ vệ sinh, dựa vào nguồn nguyên liệu tại chỗ, kết hợp với việc
du nhập kĩ thuật, trong vùng có một số cơ sở SX gạch gốm, sứ vệ sinh và phân bố chủ yếu ở TP HCM, Bình
Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Long An, Cần Thơ (mỗi tỉnh có 1 xí nghiệp).
d. Định hướng phát triển. Theo Qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến 2010, ngành sản xuất
VLXD cần tập trung vào một số điểm sau
- Phát triển rộng rãi các VLXD thông thường ở các địa phương và tiến tới SX các VLXD cao cấp.
Xây dựng mới một số nhà máy xi măng ở những nơi có điều kiện thuận lợi, nâng sản lượng (2010) lên 30
triệu tấn/năm (chú ý đến nhu cầu của thị trường và chất lượng sản phẩm).
- Về phân bố: công nghiệp SX xi măng đòi hỏi khối lượng nguyên liệu lớn (gấp 1,8-2,0 lần sản
phẩm). Vì thế, các nhà máy có công suất từ
≥
Nguyên, Mộc Châu (Sơn La), Hà Giang, Tuyên Quang, và tây Thanh Hoá-tây Nghệ An. Các vùng lạc ở
Nghệ An, Hà Bắc. Các vùng thuốc lá ở Thanh Hoá, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Bắc. Các xí nghiệp chăn nuôi
kiểu công nghiệp cũng ra đời chủ yếu ở xung quanh các thành phố lớn như Đông Anh, Cầu Diễn, Từ Liêm
cùng với các khu vực trồng rau-hoa-cây ăn quả tại vùng này, ít nhiều đã tạo ra các vành đai thực phẩm ngoại
thành.
- Từ 1975 - nay, đặc biệt là từ sau đổi mới, các vùng chuyên canh, các ngành chăn nuôi gia súc, gia
cầm, thuỷ hải sản phát triển mạnh, đạt hiệu quả kinh tế cao, phân bố rộng khắp các vùng lãnh thổ. Chất
lượng các mặt hàng đã được nâng cao, cùng với mạng lưới các xí nghiệp CB’ LT-TP từ trồng trọt, chăn nuôi
và thủy sản được hình thành. Sự phân bố đã trải rộng ra nhiều khu vực khác gắn với vùng nguyên liệu và thị
trường tiêu thụ.
Nhìn chung, sản phẩm của ngành tuy có tăng nhưng mức độ tăng có khác nhau. Ngành CNCB’ phát
triển vẫn chưa tương xứng với việc mở rộng các vùng nguyên liệu. Cơ cấu ngành vẫn tập trung chủ yếu
trong các ngành truyền thống, kỹ thuật chưa thật sự đổi mới.
▪ Về phân bố: Ngành này được phân bố mang tính qui luật nhưng việc phân bố cũng tương đối linh
hoạt tùy thuộc vào tính chất của nguồn nguyên liệu (nhất là nguyên liệu tươi sống, dễ hư hỏng). Vì thế, số
đông các xí nghiệp sơ chế đều bám vào vùng nguyên liệu; Trong khi đó, các xí nghiệp chế biến thành phẩm
lại có xu hướng phân bố ngay trong vùng tiêu thụ (kể cả những ngành dựa vào nguồn nguyên liệu nhập). Về
phương diện tổ chức lãnh thổ, thì chất lượng của sản phẩm CB' là tiêu chuẩn để đặt hàng với bên SX nguyên
liệu.; hiện nay các hình thức liên kết nông-công nghiệp (giữa một bên sản xuất nguyên liệu với một bên là
các XNCB') ngày càng phát triển đã đảm bảo chất lượng cao của sản phẩm. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa
vùng nguyên liệu và nơi chế biến là tương đối linh hoạt, có thể ở ngay vùng nguyên liệu, hoặc chỉ sơ chế ở
vùng nguyên liệu, còn chế biến thành phẩm cuối cùng ở ngoài vùng nguyên liệu.
c. Các ngành CNCB’LT -TP
- CNCB’ sản phẩm trồng trọt: Bao gồm các ngành xay xát gạo và chế biến các loại nguyên liệu
khác thành đường, bánh kẹo, rượu bia, nước giải khát, chè, thuốc lá, trong đó ngành xay xát gạo có qui mô
lớn và phân bố rộng khắp.
+ Ngành công nghiệp xay xát phát triển mạnh mẽ và có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh. Năm
1985, sản lượng gạo, ngô xay xát chỉ đạt 6,3 triệu tấn, thì đến 1990 đã tăng lên 8,0 triệu tấn, năm 1995 là
15,6 triệu tấn và năm 2005 tăng lên 29,62 triệu tấn. Hiện nay cả nước có trên 30 xí nghiệp xay xát quốc
doanh qui mô lớn (không kể các trạm xay xát nhỏ). Ở miền Nam, các cơ sở này phân bố rộng khắp, song
tấn), 1999 (13.868 tấn), năm 2005 (72.789 tấn), năm 2008 (89.298 tấn)
- CNCB’ sản phẩm chăn nuôi. Đây là ngành chưa được phát triển, nó vẫn là ngành thứ yếu so với
ngành trồng trọt trong cả nước hiện nay. CNCB’ sản phẩm của ngành chăn nuôi kém hơn về sự đa dạng của
các loại sản phẩm cuối cùng và mức độ phát triển. Hiện nay đã có các xí nghiệp CB' thịt hộp ở Hà Nội và
TP HCM. Các xí nghiệp CB' sữa tập trung ở một số khu vực như Mộc Châu, Ba Vì (nơi có cơ sở chăn
nuôi bò sữa). Sản lượng sữa hộp năm 1985 (24 triệu hộp), 1990 (58,2 triệu), năm 1995 (173 triệu), 1999
(207 triệu), 2005 (364,1 triệu), năm 2008 (388,4 triệu hộp). Ngoài ra, còn có các cơ sở nhỏ CB' các SP từ
thịt (lạp sườn, dăm bông, bít tết ).
- CNCB’ thủy, hải sản. Đây là ngành truyền thống đã có từ lâu đời nhằm cung cấp nguồn đạm động
vật từ sông biển. Cơ sở nguyên liệu của ngành dựa vào nghề đánh bắt - nuôi trồng thủy hải sản. Sản lượng
thủy sản các loại tăng rất nhanh: năm 1995, sản lượng thuỷ sản là 1584,3 ngàn tấn (cá biển đạt 722,1 ngàn
tấn, tôm nuôi 55,3 ngàn tấn, cá nuôi 209,1 ngàn tấn), năm 2005 sản lượng tương ứng là: 3.465,9 ngàn tấn
(1.367,5 ngàn tấn - 327,2 ngàn tấn - 971,1 ngàn tấn), năm 2008: 4,6 triệu tấn (1,47 triệu tấn - 388,4 ngàn tấn
- 1,86 triệu tấn), đây chính là nguồn nguyên liệu đủ để cung cấp cho ngành CNCB’ phát triển. Trước đây
ngành này chỉ xoay quanh việc SX nước mắm, cá khô, tôm, cá mắm; nay đã phát triển thêm nhiều loại hình
sơ chế và CB’ thủy sản theo phương pháp công nghiệp như cá hộp, sản phẩm đông lạnh, bột cá.
Nghề làm nước mắm và mắm các loại, sản phẩm đặc trưng của Việt Nam, phổ biến từ Bắc-Nam.
Hầu hết những vùng đánh cá, có nghề muối đều sản xuất nước mắm. Những vùng sản xuất mắm ngon nổi
tiếng trên thị trường nội địa và quốc tế như Cát Hải (Hải Phòng), Phan Thiết (Bình Thuận) và Phú Quốc
(Kiên Giang). Sản lượng (2008) 212,5 triệu lít, một phần đã được xuất khẩu (nhất là thị trường Tây Âu với
nước mắm cá cơm). Ngành CB’ tôm đông lạnh và các đặc sản biển khác (bào ngư, hải sâm, sò huyết ) mới
phát triển, nhưng có tốc độ nhanh nhờ khai thác được thị trường trong và ngoài nước. Hiện nay cả nước có
vài chục xí nghiệp đông lạnh trải dọc vùng duyên hải suốt từ Bắc vào Nam. Nghề làm muối, có ở hầu hết
các tỉnh ven biển. Các cơ sở lớn Cà Ná (Ninh Thuận), Văn Lý (Nam Hà) Sa Huỳnh (Quảng Ngãi); sản
lượng lên - xuống thất thường, cao nhất năm 1988 (85,0 vạn tấn), thấp nhất năm 2000 (59,0 vạn tấn), gần
đây dao động ở mức gần 90,0 vạn tấn/năm
Bảng 3.14. Sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp chế biến lương thực – thực phẩm
Đơn vị tính 1995 2000 2005 2008
Bia Triệu lít 465,0 779,1 1460,6 1849,9
Bột ngọt (ĐTNN) Nghìn tấn 65,0 454,4 244,7 285,8
thành các điểm công nghiệp sơ chế ở nông thôn để cung cấp bán thành phẩm cho công nghiệp tinh chế ở các
đô thị vừa và lớn. Chọn 1 - 2 địa điểm có thể phát triển CNCB’ hải sản qui mô lớn để liên doanh với nước
ngoài.
7. CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG (CN SXHTD)
a. Ưu thế của ngành. Công nghiệp sản xuất HTD được coi là ngành CNTĐ của nước ta với 2 thế
mạnh chủ yếu là lao động và thị trường tiêu thụ rộng lớn cả trong và ngoài nước. Ngành này được phát triển
trên cơ sở phát huy mọi khả năng của các thành phần kinh tế, với nhiều hình thức, qui mô và công nghệ
thích hợp, gắn một phần với nguồn nguyên liệu tại chỗ, nhằm thỏa mãn nhu cầu về các loại hàng hóa thông
thường, thay thế các mặt hàng nhập nội, góp phần thúc đẩy xuất khẩu. Tên gọi của ngành đã chỉ rõ, CNSX
HTD làm ra nhiều loại hàng hóa thông dụng trước hết phục vụ cho cuộc sống thường nhật của mọi tầng lớp
nhân dân. Đây là ngành quan trọng, không thể thiếu được trong hệ thống các ngành công nghiệp ở nước ta.
Khi chúng ta xóa bỏ cơ chế cũ, thì nhu cầu của nhân dân tăng lên rõ rệt cả về số lượng và chất lượng (mẫu
mã, chủng loại). Điều này càng làm tăng thêm vai trò của ngành đối với thị trường tiêu thụ trong nước.
Trong một chừng mực nhất định, công nghiệp sản xuất HTD còn có giá trị xuất khẩu (nếu như sản phẩm của
nó thỏa mãn nhu cầu của thị trường nước ngoài). Trong số các sản phẩm của ngành công nghiệp sản xuất
HTD, thì dệt, may đã có mặt trên thị trường nhiều nước và đóng góp cho xuất khẩu lớn (chiếm 16,4% tổng
giá trị xuất khẩu của cả nước).
b. Tình hình phát triển và phân bố
▪ Tình hình phát triển
Ngành này ra đời từ rất sớm nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Ngay từ thời xa xưa cư dân Văn
Lang đã làm ra nhiều loại vải được dệt từ sợi gai, đay, bông, tơ tằm (di tích còn để lại là những hình người
với trang phục độc đáo (áo, váy, khố) trên trống đồng Đông Sơn), rồi đến thời Bắc thuộc, vải “cát bá” rất
được ưa chuộng đã có từ lâu trên đất Giao Chỉ. Dưới thời phong kiến, nghề dệt khá phát đạt với nhiều loại
lụa-gấm-đoạn nhiều màu sắc. Năm 1040 Lý Thái Tông đã quyết định không mua gấm vóc của nước ngoài
mà sử dụng hàng trong nước để may lễ phục cho quan lại. Một nghề khác như thuộc da, đóng giày, làm
giấy, cũng được phát triển ở nhiều nơi.
Dưới thời Pháp thuộc, các xí nghiệp sản xuất HTD ra đời với qui mô nhỏ. Cùng với nó là xuất hiện
một số làng nghề thủ công truyền thống phục vụ cho cuộc sống của nhân dân.
Giai đoạn sau 1954 đến nay, ngành này đã có nhiều chuyển biến, đặc biệt là từ sau đổi mới. Nhưng
nó cũng trải qua nhiều bước thăng trầm, sản lượng lên xuống thất thường.