Giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” - Pdf 32

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
- Quyết định Số 31/2007/QĐ-BCN Ngày 20 tháng 7 năm 2007,
Quyết định Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp Vùng
Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2015, có xét đến năm 2020..107
DANH MỤC BẢNG BIỂU
- Quyết định Số 31/2007/QĐ-BCN Ngày 20 tháng 7 năm 2007,
Quyết định Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp Vùng
Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2015, có xét đến năm 2020 107
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Nằm trong chiến lược phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa –
hiện đại hóa nền kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ được thành lập và
phát triển với mục tiêu tận dụng được lợi thế của vùng để làm đầu tầu cho
phát triển kinh tế xã hội của cả nước theo mô hình các cực tăng trưởng. Quá
trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa thực hiện lấy công nghiệp làm ngành
phát triển chính, thúc đẩy các ngành khác phát triển từ đó phát triển kinh tế -
xã hội toàn vùng. Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với lợi thế đặc thù của
mình đã lựa chọn trong số các ngành công nghiệp những ngành mà vùng có
lợi thế nhất để tập trung cho phát triển, gọi là các ngành công nghiệp chủ yếu.
Trong thời gian qua, sự phát triển mới chỉ gần chục năm của vùng, chính
sách tập trung phát triển cho các ngành công nghiệp chủ yếu đã thể hiện là
một bước đi đúng đắn trong mong muốn phát triển kinh tế - xã hội nhanh bền
vững, làm một cực tăng trưởng có tác dụng lan tỏa tới toàn nền kinh tế của
vùng. Nhưng bện cạnh đó không phải không tồn tại những bất cập, thiếu hợp
lý của quá trình phát triển.
Việt Nam đã bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế về mọi mặt của
nền kinh tế và sắp bước sang giai đoạn chiến lược phát triển mới, giai đoạn
2010-2020 nên vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ cần phải xem xét lại một
cách đúng đắn quá trình phát triển của mình để từ đó có những giải pháp
nhằm điều chỉnh ngay, hợp lý, thúc đẩy các ngành cho giai đoạn phát triển

- Văn Phòng Ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng
điểm thuộc Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực tập và thu thập số liệu.
- Các thầy cô trong khoa Kế hoạch & Phát triển, các thầy cô trường Đại
học Kinh tế quốc dân đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập.
Được sự quan tâm như vậy em đã hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn !
2
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÁC
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA VÙNG KINH TẾ TRỌNG
ĐIỂM BẮC BỘ
I. Giới thiệu vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
1. Quá trình hình thành và phát triển của vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ.
Một trong những nhân tố đột phá then chốt để đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước là có những chính sách hợp lý nhằm đẩy nhanh tốc
độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần
kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế. Yêu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế của đất nước
là một yêu cầu khách quan cấp thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ nghiên cứu các đặc điểm về vị trí địa lý; điều kiện tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên; đặc điểm và thực trạng kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh,
thành phố trong cả nước; các yếu tố tác động từ bên ngoài đến nền kinh tế
của đất nước như: bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của các nước
trong khu vực và trên thế giới cũng như xu hướng toàn cầu hoá nhằm rút ra
kết luận về những lợi thế, thời cơ phát triển cũng như những hạn chế, thách
thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh, thành phố trong cả
nước nhằm giúp cho việc hoạch định những chính sách phát triển mang tính
đột phá trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế quốc dân.

thành phố trong cả nước nhằm mục tiêu tác động cùng phát triển.
Trong quá trình hình thành và phát triển, vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ đang phát huy lợi thế, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở,
gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, và không chỉ tạo ra động lực
thúc đẩy sự chuyển dịch nhanh cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo chiều hướng
tích cực mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ và
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh lân cận trong vùng. Nhà
nước tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tầu
tăng trưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tư thích đáng hơn cho
vùng nhiều khó khăn. Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa
4
Luận văn tốt nghiệp
các vùng, tỉnh, thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại,
đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật về nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí và đào
tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và
khu vực, gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trường
và quốc phòng an ninh.
Trong Hội nghị các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ngày 14-
15/7/2003, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định mở rộng ranh giới của vùng;
sau đó Văn phòng Chính phủ đã ra thông báo số 108/TB-VPCP ngày
30/7/2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị, trong đó có
quyết định “Đồng ý bổ sung 3 tỉnh: Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc vào vùng
kinh tế trọng điểm Bắc bộ”. Tổng diện tích vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
sau khi bổ sung là 15.277 km
2
, bằng 4,64% diện tích và dân số (tính đến năm
2002) là 13,035 triệu người, bằng 16,35% so với cả nước.
Nhận thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Ngày 13
tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số

Nằm trong vòng cung biển Đông – biển Hoa Nam – biển Nhật Bản, có
đường biên giới đất liền với Trung Quốc, vùng có vị trí địa kinh tế - chính trị
và tiềm năng mở rộng giao lưu quốc tế về kinh tế thương mại, văn hóa và đối
ngoại quan trọng nhất của Việt Nam ở khu vực phía Bắc và Vịnh Bắc Bộ với
các nước thuộc khu vực Đông Bắc Á, đây vừa là khu vực thị trường lớn vừa
có nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển.
Thủ đô Hà Nội là đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng
không trong nước và quốc tế. Khu vực ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh là
hành lang kinh tế ven biển có cụm cảng cửa ngõ ra biển lớn nhất miền Bắc.
Địa bàn cũng là nơi tập trung hầu hết các cơ sở công nghiệp, dịch vụ quan
trọng của khu vực phía Bắc. Hệ thống đô thị phát triển rộng khắp. Đây là
vùng hạt nhân, địa bàn động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đô thị
hóa và công nghiệp hóa của cả khu vực đồng bằng sông Hồng, khu vực miền
núi trung du phía Bắc, khu vực Bắc Trung Bộ, có ảnh hưởng lan tỏa mạnh mẽ
đền quá trình phát triển trên phạm vi cả nước.
6
Luận văn tốt nghiệp
3. Tiềm năng và thế mạnh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
3.1. Nguồn nhân lực.
Thế mạnh nổi trội nhất của vùng là nguồn nhân lực,đặc biệt là đội ngũ
các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà giáo và bác sỹ hàng đầu cả nước về quy
mô và trình độ, có tác dụng thúc đẩy phát triển các dịch vụ nghiên cứu và
triển khai khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, y tế và chăm sóc sức
khỏe chất lượng cao ở trong nước và ra khu vực.
Dân số năm 2006 là khoảng 13,807 triệu người, bằng 16,3% dân số cả
nước với tốc độ tăng dân số thời kỳ 2001-2005 là 1,25%. Quy mô dân số đô
thị của vùng gia tăng đáng kể, từ 3386,6 nghìn người năm 2000 (chiếm
85,55% dân số đô thị của vùng đồng bằng sông Hồng và bằng 18% dân số đô
thị của cả nước) lên 4325,274 nghìn người năm 2005 (chiếm 86,57% dân số
đô thị vùng đồng bằng sông Hồng và bằng 19,1% dân số đô thị của cả nước)

toàn vùng. Trong tổng diện tích của vùng, đền năm 2005 đã sử dụng 58,31%
vào mục đích nông nghiệp; 25,2% vào mục đích phi nông nghiệp; còn lại
16,49% là đất chưa sử dụng, sông suối, núi đá. Bình quân diện tích đất tự
nhiên toàn vùng là 0,115ha/người, bằng 28% mức bình quân chung của cả
nước. Trong những năm gần đây, có xu hướng dân cư nông thôn chuyển nơi
ở từ các làng xã với đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm đến những nơi nằm
ven đường quốc lộ; diện tích các công trình công nghiệp, đô thị tăng mạnh.
Diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn (252148 ha chiếm 16,49% diện tích
đất tự nhiên).
(ii) Tài nguyên nước: Nguồn nước trong vùng khá phong phú, có thể đáp
ứng rất tốt cho quá trình phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và đời
sống của dân cư. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước để đáp ứng các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường của toàn vùng phụ
thuôc chủ yếu vào nguồn nước lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình. Tài
nguyên nước dưới đất khá phong phú ở Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, nhưng
hạn chế ở Hải Phòng, Quảng Ninh. Hiện nay, chất lượng nguồn nước đang có
8
Luận văn tốt nghiệp
nguy cơ bị giảm sút do tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường gia tăng và
do khai thác bừa bãi.
(iii) Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học: Tài nguyên rừng của vùng khá
phong phú, bao gồm cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Một
số khu rừng tự nhiên rất có giá trị kinh tế sinh thái, đa dạng sinh học cao như
Vườn Quốc gia Ba Vì, khu rừng chùa Hương (Hà Tây); Vườn quốc gia Cát Bà
(Hải Phòng); Vườn quốc gia Bái Tử Long (Quảng Ninh), Vườn quốc gia Tam
Đảo (Vĩnh Phúc); vùng núi Chí Linh (Hải Dương), Khu bảo tồn thiên nhiên
Yên Tử (Quảng Ninh). Trong vùng còn có hệ sinh thái đầm nuôi ven biển, là
loại hình thủy vực bán tự nhiên, thường nằm ở vùng cao triều và trung triều,
nơi có thảm thực vật ngập mặn phát triển. Vùng có nguồn lợi thủy sản phong
phú có thể phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biện thủy hải sản.

– Thái Nguyên, Hà Nội – Vinh đã được nâng cấp để rút ngắn thời gian vận
chuyển và đảm bảo an toàn chạy tàu. Tuy vậy, hệ thống đường sắt còn tồn tại
nhiều khổ đường gây trở ngại cho vấn đề tổ chức vận tải liên tuyến; hầu hết
các tuyến đường sắt chưa nâng cấp lại đều là tuyến đơn, năng lực rất hạn chế,
tốc độ khai thác chỉ đạt 30-40 km/h; quy mô ga nhỏ, thiếu các ga đầu mối
quy mô lớn có ý nghĩa toàn vùng.
Vùng có các cảng biển quan trọng và thuận lợi về giao thông đường
biển. Tổng công suất qua các cảng đạt 18 – 19 triệu tấn/năm. Các cảng Hải
Phòng, Cái Lân đang tiếp tục được đầu tư nâng cấp và mở rộng quy mô công
suất để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa đường biển cho khu vực phía
Bắc. Với bờ biển chạy dài gần 300km, có một số vũng, vịnh có thể xây dựng
thêm các cảng biển nước sâu, phát triển khu công nghiệp đóng tàu trọng tải
lớn, phát triển khu kinh tế, du lịch ven biển và biển đảo.
Mật độ mạng lưới sông kênh lớn, nhưng khả năng khai thác bị hạn chế
do chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên và do chưa đầu tư cải tạo, nạo vét luồng
lạch, hiện đại hóa hệ thống phao tiêu, biển báo. Hệ thống cảng sông đã có,
nhưng cở sở hạ tầng còn quá thô sơ, chưa được đầu tư cải tạo cầu bến, đường
ra vào và hiện đại hóa công nghệ bốc xếp tại các cảng sông.
Mặc dù sân bay Quốc tế Nội Bài đã hoàn thành xây dựng nâng cấp giai
10
Luận văn tốt nghiệp
đoạn 1, đang trong giai đoạn 2 xây dựng mở rộng; sân bay Cát Bi cũng đã
được cải tạo một bước; nhưng các cảng hàng không trong vùng có quy mô
nhỏ, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu vận tải trong tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.
Hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình tiếp tục được xây
dựng và phát triển nhanh trong thời gian qua, cơ bản đáp ứng được nhu cầu
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng.
(ii) Hạ tầng kỹ thuật môi trường: Hệ thống cung cấp nước sạch ở đô thị
được phát triển đáng kể (lượng nước sạch chiếm 38% tổng số nước sạch cung

sinh, 17 phòng khám đa khoa, 228 trạm y tế phường, xã. Tại Hải Phòng,
Quảng Ninh và Hải Dương cũng đã có bệnh viện (hợp tác với nước ngoài).
Vùng đạt mức cao về số giường bệnh 19,7 giường/1 vạn dân và số bác sĩ 4,9
bác sĩ/1 vạn dân.
Nhìn chung, không có tình trạng người ốm không được chữa bệnh, trẻ
em ở tuổi đi học không được đến trường. Bên cạnh đó, vùng cũng có thế
mạng đáng kể trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và phát triển thể thao thành
tích cao.
4. Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Nhìn chung, trong những năm qua vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đã
phát triển khá toàn diện, duy trì được mức tăng trưởng tương đối cao, góp
phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Tình hình phát triển chung và kết quả đạt được
của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thể hiện ở các nội dung sau:
4.1. Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
- Tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,3%
trong năm 2006 so với gần 9% trong giai đoạn 1996- 2000, cao gấp 1,5 lần so
với mức bình quân chung của cả nước, trong đó khu vực nông lâm nghiệp và
thuỷ sản tăng 2,9%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 16,4%; khu vực
dịch vụ tăng 13,6%. GDP của Vùng năm 2006 đạt 199330 tỷ đồng (giá hiện
hành) chiếm 20,47% GDP của cả nước. GDP bình quân đầu người đạt 14,5
triệu đồng cao gấp 1,2 lần so với mức bình quân chung của cả nước. Năm
2007, tăng trưởng kinh tế ước đạt trên 13%, GDP bình quân đầu người
khoảng 17 triệu đồng.
12
Luận văn tốt nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá nhanh
theo hướng phi nông nghiệp và sản xuất hàng hóa, năm 2005, tỷ trọng các
khu vực trong cơ cấu kinh tế bao gồm khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản
chiếm 11,7%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 43,1%; khu vực dịch

4.2. Thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển doanh nghiệp.
- Thu hút đầu tư nước ngoài:
Môi trường thu hút đầu tư của vùng được cải thiện thông thoáng hơn
trước, một số tỉnh trong vùng tích cực đổi mới cơ chế chính sách và đơn
giản hoá thủ tục hành chính đã thu hút được nhiều dự án đầu tư, tạo thêm
được nhiều việc làm cho lao động ở địa phương và đạt được tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao hơn so với trước. Từ 1988 đến hết năm 2005, toàn vùng
đã thu hút được 1543 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng
ký là 18049,1 triệu USD chiếm 27,8% so với cả nước trong đó vốn pháp
định đầu tư trực tiếp nước ngoài 6378,6 triệu USD chiếm 26,2% so với cả
nước. Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và Vĩnh Phúc là những địa phương
có nhiều dự án đầu tư nước ngoài nhất trong vùng, trong đó Hà Nội có 816
dự án (vốn đầu tư nước ngoài 4248,6 triệu USD), Hải Phòng 232 dự án
(820,2 triệu USD), Quảng Ninh 125 dự án (363,4 triệu USD), Vĩnh Phúc
111 dự án (275,5 triệu USD).
- Phát triển doanh nghiệp :
Giai đoạn vừa qua, số lượng doanh nghiệp trong vùng tăng lên nhanh
chóng, bình quân khoảng 17% năm. Nhiều doanh nghiệp ở các địa phương
đang dần lớn mạnh, mở rộng qui mô sản xuất đóng góp không nhỏ vào phát
triển kinh tế và ngân sách của các tỉnh, thành phố. Đến năm 2005, toàn vùng
có 23426 doanh nghiệp đang hoạt động (chiếm 25,5% tổng số doanh nghiệp
trong cả nước) với tổng số lao động 1414,5 nghìn người chiếm 24,5% số
lượng lao động trong các doanh nghiệp của cả nước. Tổng số vốn sản xuất
kinh doanh bình quân hàng năm của các doanh nghiệp trong vùng là 378,5
nghìn tỷ đồng (chiếm 19,3% so với cả nước), doanh thu thuần sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp 451,1 nghìn tỷ đồng.
Địa phương có số lượng doanh nghiệp nhiều nhất là Hà Nội (15068
doanh nghiệp), Hải Phòng (2625 doanh nghiệp), Hà Tây (1260 doanh
14
Luận văn tốt nghiệp

Luận văn tốt nghiệp
- Thực hiện chính sách xã hội: tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị năm 2005
giảm xuống còn khoảng 5,5% (cả nước 5,6%). Tỷ lệ đói nghèo (chuẩn cũ)
giảm từ 10,2% xuống 4,6% (cả nước còn gần 7%).
4.4. Phát triển kết cấu hạ tầng:
Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội của vùng trong 5 năm qua được nâng
cấp và cải thiện rõ rệt, một số công trình quan trọng đã được hoàn thành như
nâng cấp tuyến QL1 Hà Nội- Lạng Sơn và Hà Nội- Ninh Bình đến Thanh
Hoá đạt tiêu chuẩn cấp III; tuyến QL18 Bắc Ninh- Bãi Cháy, đoạn Bãi Cháy
- Móng Cái đang triển khai nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV; nâng cấp QL10;
xây dựng đường Láng - Hoà Lạc hoàn thành giai đoạn I đạt tiêu chuẩn cấp
I; xây dựng mới các cầu như cầu Bính, Triều Dương, Tân Đệ, Tiên Cựu, cầu
Yên Lệnh, cầu Bãi Cháy, đang xây dựng cầu Thanh Trì,...; cải tạo các quốc
lộ 2A, 2B, 38, 39, 183, 12B, 21, 21B và 23. Các tuyến đường sắt Hà Nội -
Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Thái Nguyên và Hà Nội - Vinh
được đầu tư để rút ngắn thời gian vận chuyển và đảm bảo an toàn chạy tàu.
Sân bay Quốc tế Nội Bài đã hoàn thành xây dựng nâng cấp giai đoạn 1,
đang chuẩn bị xây dựng mở rộng giai đoạn 2. Sân bay Cát Bi đã được cải
tạo một bước. Cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân đang tiếp tục được đầu tư
nâng cấp và mở rộng qui mô công suất để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng
hoá đường biển cho khu vực phía Bắc.
Hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình tiếp tục được xây
dựng và phát triển nhanh trong thời gian qua, cơ bản đáp ứng được nhu cầu
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng.
Kết cấu hạ tầng đô thị về cấp điện, cấp thoát nước, giao thông đô thị và
các công trình dân dụng khác được nâng cấp, cải thiện và mở rộng qui mô ở
tất cả các thành phố và thị xã trong vùng. Xây dựng nhiều khu đô thị mới ở
các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long và các thành phố, thị xã trung
tâm tỉnh.
16

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể thấy ngành công nghiệp chủ yếu có một
số đặc điểm sau đây:
17
Luận văn tốt nghiệp
- Thứ nhất là những ngành công nghiệp có hiệu quả cao so với các
ngành khác. Hiệu quả ở đây hiểu là hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội.
Theo quan điểm phát triển bền vững ngành công nghiệp chủ yếu không chỉ
đạt được hiệu quả về mặt kinh tế xã hội mà còn phải đảm bảo được sự phát
triển bền vững cho nền kinh tế, tức là phải đảm bảo sự phát triển toàn diện
của cả ba vấn đề : kinh tế - xã hội – con người. Vì thế xem xét hiệu quả của
ngành chủ yếu không chỉ trong một sớm một chiều mang tính chất ngắn hạn
mà cần đứng trên quan điểm tăng trưởng cao, lâu dài và bền vững.
- Thứ hai là những ngành công nghiệp dựa trên nguồn lực sẵn có. Nguồn
lực đầu vào sẵn có là ưu thế của các ngành công nghiệp chủ yếu, đặc biệt
trong điều kiện của các nước đang phát triển như Việt Nam đang phải chịu
sức ép do nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước phát triển.
- Thứ ba là các ngành công nghiệp có khả năng lan tỏa tác động đến các
ngành khác. Đây là những ngành có điều kiên phát triển, có thị trường rộng
bên trong, bên ngoài và có tác động tích cực đối với các ngành, sản phẩm
khác, lôi kéo các ngành, sản phẩm khác cùng phát triển.
- Thứ tư là ngành công nghiệp chủ yếu khi phát triển tới một mức độ nà
đó thì có khả năng tạo một thế đứng và góp phần tiến đến xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ. Các ngành này phải là ngành có thế đứng vững trong nền
kinh tế, tức là có khả năng cạnh tranh và củng cố khả năng cạnh tranh trên thị
trường quốc tế trong điều kiện hội nhập, thể hiện ở việc chiếm lĩnh thị trường
trong và ngoài nước. Dần dược biết đến như một thế mạnh của vùng, góp
phần là thế mạnh toàn ngành của đất nước.
- Thức năm là ngành công nghiệp chủ yếu có thể đạt tới trình độ tiên
tiến trong thời gian không xa, kéo theo đó là việc nâng cao trình độ tiên tiến
cho các ngành khác, đẩy nhanh tốc độ nắm bắt các công nghệ đã và đang

Chúng thay đổi vị trí quan trọng tùy theo quan điểm chính trị cũng như quan
điểm kinh tế của Chính phủ ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
Bản thân mục tiêu phát triển bền vững đã bao hàm cả một số mục tiêu
mà từ trước đến nay hầu hết chính phủ của các quốc gia đều cho là quan
trọng và các chính sách phát triển do họ đề ra luôn cố gắng phải đạt được, đó
là: chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả, bảo đảm công bằng ổn
19
Luận văn tốt nghiệp
định và an ninh xã hội, không hủy hoại môi trường.
Các chính sách phát triển đề ra nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản này dường
như khá hợp lý, tuy nhiên để chúng đạt được hiệu quả thực sự đối với xã hội
cần phải có sự điều chỉnh nhất định. Một chính sách phát triển đúng đắn có
khả năng bảo đảm kết hợp hài hòa lợi ích của cá nhân/doanh nghiệp với lợi
ích của nhà nước/toàn xã hội, sự phát triển của toàn xã hội sẽ tạo điều kiện để
mỗi cá nhân/doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện mình. Ngược lại, chính
sách phát triển sai lầm, thiển cận sẽ thúc đẩy các mâu thuẫn trở nên sâu sắc
hơn dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng: không công bằng, mất ổn định,
không hiệu quả, không tăng trưởng. Các chính sách này sẽ được coi là phối
hợp một cách hiệu quả khi đạt được các yêu cầu sau:
(1) Khuyến khích sự tăng trưởng mạnh hàng công nghiệp có đóng góp
lớn cho giá trị sản xuất công nghiệp, cho giá trị tăng thêm của công nghiệp,
doanh thu thuần, thể hiện sự chiếm lĩnh thị trường trong nước và thị trường
thế giới của ngành công nghiệp nhưng đồng thời phải giảm thiểu được những
tác động về môi trường, duy trì sự phát triển bền vững của sản xuất, xuất
khẩu và an ninh xã hội.
(2) Khuyến khích phát triển các ngành hàng công nghệ cao nhằm gia
tăng giá trị sản xuất và xuất khẩu những vẫn bảo đảm giải quyết nhiều việc
làm cho người lao động nhằm duy trì sự ổn định của xã hội.
(3) Khuyến khích phát triển các mặt hàng công nghiệp có thể đầu tư ít
vốn nhưng lại chủ yếu sử dụng tài nguyên và nhân lực trong nước mà vẫn

một cách đúng đăn, như đã nói ở trên chúng ta đi vào đánh giá hiệu quả của
ngành đó trong phát triển kinh tế, đánh giá được hiệu quả của sự phối hợp các
chính sách phát triển hàng công nghiệp chủ yếu của Việt Nam cho thời kỳ
2001-2010. Chúng ta đưa Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả sản xuất các
hàng công nghiệp chủ yếu cho thời kỳ này. Xin trình bày ở đây những nét cơ
bản về hệ thống tiêu chí của Việt Nam dùng để xác định các ngành công
nghiệp chủ yếu cho giai đoạn 2001-2010.
Về việc quan niệm thế nào là ngành công nghiệp chủ yếu có lẽ đã trình
bày phần nào rõ ràng ở phần trên (mục Quan niệm về các ngành công nghiệp
21
Luận văn tốt nghiệp
chủ yếu). Ở đấy, chúng ta cùng nhau quy ước những hàng nông, lâm, ngư
nghiệp đã qua chế biến công nghiệp được coi là hàng công nghiệp như gạo đã
xay xát, thủy sản, cà phê, cao su,... đã qua chế biến nông nghiệp và như thế
đây được coi là ngành công nghiệp chế biền nông – lâm – thủy sản và thực
phẩm. Và những dịch vụ sử chữa phương tiện vận tải phải được tính vào khu
vực dịch vụ chứ không phải công nghiệp. Những việc chính xác hóa đó chưa
thể có được trên thực tế hiện nay do vẫn có những quan niệm và kiểu xác
định chưa hoàn toàn đúng, thống nhất và có thể bị thay đổi qua các thời kỳ
khác nhau.
Danh mục ngàng công nghiệp chủ yếu sẽ chỉ bao gồm một số ngàng có
giá trị lớn, mà riêng chúng đã chiếm phần lớn trong tổng giá trị công nghiệp
hàng năm (khoảng trên 80%), mang tính chất quan trọng dựa trên các chỉ tiêu
bảo đảm tính tăng trưởng và bền vững cho toàn nền kinh tế. Nếu sau một giai
đoạn nào giá trị của nó nhỏ đi so với ngàng khác trong giá trị tổng sản lượng
công nghiệp (có thể do quan điểm không còn được ưu tiên, hay không còn
phù hợp với xu hướng phát triển cho thời kỳ mới, hay lý do nào khác) thì sẽ
bị loại ra khỏi danh mục để nhường chỗ cho ngàng khác có giá trị lớn hơn.
Do đó danh mục ngàng công nghiệp chủ yếu sẽ không cố định qua các giai
đoạn (nhưng điều này cũng còn phụ thuộc một phần vào các chính sách phát

cầu và phù hợp môi trường sản xuất trong nước/quốc tế. Tiêu chí này thể hiện
mức độ cần của thị trường hàng tiêu dùng trong nước/ngoài nước và mức độ
cần của thị trường tiêu thụ nguyên liệu sản xuất đối với hàng công nghiệp chủ
yếu được sản xuất trong nước.
Tiêu chí thứ tư : Là những ngành có khả năng áp dụng nhanh các công
nghệ tiên tiến, công nghệ sạch, công nghệ bảo vệ môi trường, từ đó nâng cao
năng lực cạnh tranh của ngành đối với thị trường trong nước/quốc tế. Tiêu chí
này là sự thế hiện của tiêu chí (i) - Đạt trình độ công nghệ quốc tế và bảo vệ
môi trường.
Tiêu chí thứ năm : Là những ngành có tác dụng lan tỏa trong cả nền
kinh tế. Tiêu chí này là tiêu chí quan trọng cuối cùng trong việc xác định một
ngành có được coi là chủ yếu hay không. Tiêu chí này thể hiện sự phát triển
23
Luận văn tốt nghiệp
của các ngành này sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành khác, phù hợp với
đặc điểm, vai trò của ngành công nghiệp chủ yếu.
Có thể thấy trong hệ thống năm tiêu chí nêu ở trên, tiêu chí thứ nhất và
thứ hai cho thấy vị trí quan trọng nhất dùng để lựa chọn, còn tiêu chí thứ năm
là tiêu chí dùng để xác định cuối cùng đối với một ngành công nghiệp chủ
yếu.
3. Hệ thống các ngành công nghiệp chủ yếu của vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ.
Với các tiêu chí đã nêu ở phần trên cùng với việc xem xét các điều kiện
thực tế tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, chính sách phát triển công nghiệp
của cả nước, chính sách phát triển kinh tế xã hội của vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ, các ngành công nghiệp được lựa chọn là chủ yếu của vùng thời kỳ
2001-2010 như sau:
(1) Công nghiệp cơ khí:
Trong ngành cơ khí, tỷ trọng khu vực kinh tế trong nước giảm, trong khi
đó khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng lên. Điều này chứng tỏ các nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status