Chương II - TƯ TƯƠNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC - Pdf 17

Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
Chương II


 !"#!$%$&'%()*+
Khái niệm dân tộc: Là cộng đồng người, tộc người, không phân biệt trình độ, dân
tộc, phạm vi, dân tộc bao gồm 4 đặc điểm chung lớn:
- Chung ngôn ngữ,
- Chung lịch sử nguồn gốc,
- Chung đời sống văn hóa,
- Tự nhận mình là dân tộc đó.
Hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử, dân tộc là vấn đề nổi cộm và quan
trọng trên thế giới
,-!.!!/!$%$&'%()*+
0123%!43526+7!)8#+90()*+: Đây là nhân tố chủ yếu, đầu tiên chi
phối suy nghĩ, hành động. Là hành trang duy nhất của HCM trên đường tìm đường cứu
nước:
- Truyền thống yêu nước, quật cường, chống ngoại xâm của dân tộc.
- Ông cha phải đương đầu với kẻ thù mạnh hơn mình, ý thức được vấn đề dân tộc,
hình thành tư tưởng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia
;<20#=>+90+!9!?08+@A5#:
-Quan điểm của Các Mác và Ăngghen: Dân tộc là vấn đề rộng lớn, Các Mác,
Ăngghen không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc, vì thời đó ở Tây Âu vấn đề dân tộc đã
được giải quyết trong cách mạng tư sản; hơn nữa các ông chưa có điều kiện nghiên cứu
sâu về vấn đề dân tộc thuộc địa.
- Quan điểm của Lênin: CM tháng Mười và luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc
địa:
Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, CM GPDT trở thành một bộ phận của CMVS
thế giới. Lênin có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ
thống lý luận. Đây là nhân tố chủ yếu định hướng trực tiếp sự hình thành tưởng về vấn đề
dân tộc và thuộc địa

con đường giải phóng duy nhất của các dân tộc thuộc địa. Người đã chọn con đường này
cho DT VN
- Tuy cả C.Mác, Ăngghen và Lênin đã nêu những quan điểm cơ bản về mối quan hệ biện
chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, tạo cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc xác
định chiến lược, sách lược của các Đảng Cộng sản về vấn đề này nhưng các ông vẫn tập trung
nhiều hơn vào vấn đề giai cấp
Chính Hồ Chí Minh là người vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác-Lênin
cho phù hợp với thực tiễn ở các nước thuộc địa
+8++2*++8+!>B$/+C'D+E26++90>*-4!)$F3526+G##H
!)2:
Cách mạng dân tộc của Tôn Trung Sơn: có sự tham gia của những người cộng sản
với tư cách cá nhân. Với 3 chính sách: liên Nga, hợp cộng, dựa vào công nông; và chính
sách tam dân: dân quyền độc lập, dân tộc tự do, dân sinh hạnh phúc.
(!"!-8+!!2*+'I0+90!J+()!8K
Đây là những nhân tố chủ yếu góp phần quan trọng, định hướng sự hình thành TT
HCM theo lập trường vô sản. Là nhân tố vừa là tinh hoa của dân tộc; vừa là trí tuệ của thời
đại ở Phương tây và Phương Đông
L&'%()*+!2*+'I0
0!J++!&+90$&'%()*+!2*+'I0
Luận điểm của M –A: GPGC GPNloại. Khẩu hiệu “vô sản các nước đoàn kết lại”
Trang 2
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
Luận điểm của Lênin: GPGC  GPDTTĐ  GPNL. Khẩu hiệu “vô sản các nước và
các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”
Tại ĐHV. QTCS -1924, HCM đã đưa ra số liệu về v.đề TĐ: 9 nước ĐQ th.trị, bóc lột
hàng trăm DTTĐ; Diện tích TĐ của Anh gấp 252 lần nước Anh, dân số TD gấp 8.5 lần;
diện tích TĐ của Pháp gấp 19 lần nước Pháp, dân số TD gấp 16 lần  HCM còn chỉ ra
hậu quả sự th.trị của CNĐQ: DTTĐ >< CNĐQ (sự đối lập, b.b.đẳng lớn nhất); kìm hãm sự
ph.triển của các DTTĐ; tạo mâu thuẫn giữa các nước TĐ, ph.thuộc
 HCM khẳng định: “Lịch sử người Âu xâm chiếm Châu Phi, cũng như bất cứ xâm

*+QFK7J(C K!M#'&210!$/+2*+'&210!&3S!Y!PQ/Z0$D#>/Q/
1#='P[LW\
Hồ Chí Minh hết sức trân trọng quyền con người. Người đã tìm hiểu và tiếp nhận
những nhân tố về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước
Trang 3
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp, như quyền bình
đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Người khẳng định “đó
là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Nhưng từ quyền con người, Hồ Chí Minh đã khái quát và nâng cao thành quyền dân
tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đảng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
- Nội dung của độc lập dân tộc
Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa.
Hồ Chí Minh nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ Quốc tôi, đấy là tất cả
những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
Năm 1919, vận dụng nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết, Người đã gửi đến hội
nghị Vecxây bản yêu sách gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt
Nam.
1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị.
2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, bằng cách cho hưởng những đảm bảo pháp
lý, xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ khủng bố.
3. Tự do báo chí, tự do ngôn luận.
4. Tự do hội họp và tự do lập hội.
5. Tự do cư trú, tự do xuất dương
6. Tự do học tập, lập các trường kỹ thuật, chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh.
7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.
8. Cử đoàn đại biểu thường trực cho người bản xứ tại các NV Pháp giúp cho người
bản xứ.
Bản yêu sách tập trung vào hai nội dung:

của ngài, chúng tôi mong ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền. Xin ngài vui
lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi. Thay mặt nhóm những người
yêu nước An Nam. Nguyễn Ái Quốc”
Báo chí tại Pháp: “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách
của nhân dân để công kích chính phủ pháp. Thật là quá quắt, cứ theo cái đà này thì bọn
thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sẽ sớm trở thành ông chủ của
chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng,
một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, mà cốt lõi là độc lập, tự do cho
dân tộc. HCM viết : “Đánh đổ bọn ĐQCN Pháp và bọn PK, làm cho nước VN được hoàn
toàn độc lập”
Tháng 5-1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trương Ương
Đảng, viết Kính cáo đồng bào, chỉ rõ: “trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn
hết thảy”. Người chỉ đạo thành lập Việt Nam độc lập đồng minh, ra báo Việt Nam độc lập,
thảo Mười chính sách của Việt Minh, trong đó mục tiêu đầu tiên là: “Cờ treo độc lập, nền
xây bình quyền”.
Tháng 8-1945, Hồ Chí Minh đúc kêt ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân
ta trong câu nói bất hủ: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng
phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Trong lịch sử DTVN đã 2 lần vang lên bản “tuyên ngôn độc lập” khẳng định ĐL, tự do
là quyền th.liêng, bất khả x.phạm, là kh.vọng của DT ta.
Lần một: Xuân 1077, quân và dân Đại Việt đã d.cảm ch.đấu trên sông Cầu, sau khi
bịt mọi ngả tiến quân của giặc. Bên bờ Như nguyệt, đã vang lên bài thơ của
L.T.Kiệt
Lần thứ hai: Xuân Mậu tuất 1418, kh.nghĩa Lam Sơn, sau 10 năm, với ch.thắng Chi
Lăng – Xương giang và ải Lê hoa, 20 vạn tướng, lính của Vương Thông kéo về
Cửa Nam – Đông Đô để đọc “văn hội xin thề rút quân về nước”. Từ nơi đây đã
sang sảng lời Cáo bính Ngô của Nguyễn Trãi - bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của
DT ta:
Cách mạng tháng Tám thành công, Người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên

+ ĐLDT phải gắn liền với ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đây là vấn đề lớn.
+ ĐLDT là quyền thiêng liêng, nếu kẻ nào xâm phạm, thì kiên quyết chống, hễ còn
một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta, chúng ta phải quét sạch nó đi. Không có gì
quý hơn ĐLTD
+!9!?0()*+@>*'*QJ+Q6+90'&6+
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy sự áp bức, bóc lột
của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa càng nặng nề, thì phản ứng của dân
tộc bị áp bức càng quyết liệt. Không chỉ quần chúng lao động (công nhân và nông dân),
mà cả các giai cấp và tầng lớp trên trong xã hội (tiểu tư sản, tư sản và địa chủ) đều phải
chịu nỗi nhục của người dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập, tự do.
Cùng với sự lên án chủ nghĩa thực dân và cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng dậy đấu tranh,
Hồ Chí Minh khẳng định: đối với các dân tộc ở phương Đông, “chủ nghĩa dân tộc là một động
lực lớn của đất nước”. Vì thế, “người ta sẽ không làm gì được cho người An Nam nếu không
dựa trên các lực lượng vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”. Người kiến nghị về
Cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng sản là: “Phát động chủ nghĩa dân tộc nhân danh Quốc
tế Cộng sản…Khi chủ nghĩa dân tộc của họ giành thắng lợi…nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ
biến thành chủ nghĩa quốc tế”.
Trang 6
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủ nghĩa yêu
nước chân chính của các dân tộc thuộc địa. Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước
bất cứ thế lực ngoại xâm nào.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính “là một bộ phận của tinh
thần quốc tế”, “khác hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động”.
Chủ nghĩa dân tộc ở đây khác về bản chất so với chủ nghĩa sô vanh, vị kỷ của giai cấp tư
sản đã bị lịch sử lên án, không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu. Ở Đông dương, do
kinh tế lạc hậu, sự phân hoá giai cấp chưa triệt để, đấu tranh giai cấp không diễn ra như ở phương
Tây
*
. Trái lại giữa họ vẫn có sự tương đồng lớn: dù là địa chủ hay nông dân, họ đếu là người nô

là cuộc đấu tranh DT, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh DT” Mác kêu gọi:
Trang 7
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
“GCVS ở mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành GCDT,
phải tự mình trở thành DT” Khẩu hiệu của Mác: “VS toàn thế giới đoàn kết lại”:
Do ở phương tây vấn đề DT đã được giải quyết trong CMTS và do mục đích của Mác là
GPGCCN nên các ông thường tập trung lý luận vào vấn đề GC.  Lênin đã nhận xét:
“Đối với Mác thì vấn đề DT chỉ là vấn đề thứ yếu”
Quan điểm của Lênin Cuối XIX, khi CMGPDT là bộ phận của CMVS. Lênin phát triển
vấn đề DT thành học thuyết về CM thuộc địa Lênin: “cuộc đấu tranh của GCVS ở chính
quốc sẽ không thể giành thắng lợi, nếu không biết liên minh với cuộc đấu tranh của các
DT bị áp bức ở thuộc địa” Khẩu hiệu của Lênin: “VS toàn thế giới và các DT bị áp bức
đoàn kết lại”
Quan điểm của HCM: Khi tiếp cận CNMLN, do thấy được mqhệ gắn bó giữa DT và GC
nên HCM khẳng định:
- “CMGPDT phải đi theo con đường CMVS”
- “Sự nghiệp của người bản xứ gắn liền mật thiết với sự nghiệp toàn thế giới. Mỗi khi
CNCS giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó… thì đó cũng là thắng lợi cho
người An Nam”
Khi khẳng định CMGPDT phải theo CMVS, nghĩa là HCM đã tiếp thu l.luận về GC của
CNMLN. Nhưng một vấn đề đặt ra là HCM đã xứ lý mqhệ giữa DT và GC như thế nào?
Theo HCM: “Cả hai cuộc GP này (GPDT-GPGC) chỉ có thể là sự nghiệp của CNCS và
CM th.giới”
Trong Ch.cương và S.lược vắn tắt, HCM cũng x.định m.q.hệ gắn bó giữa GPDT-
GPGC. Theo HCM, tiến trình của CMVN “Làm TS dân quyền CM và thổ địa CM để tiến
tới XHCS” (tức làm CMDTDCND  tiến lên CMXHCN)
Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước,
nhưng Người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và giải quyết vấn đề dân
tộc.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh thể

đảm bảo vững chắc cho nền độc lập.
Người khẳng định: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã
hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc
mỗi mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.
+#M#K!N()*+BC#%'%'P#M#K!N#0#+&K
Hồ Chí Minh giải quyết vấn để dân tộc theo quan điểm giai cấp, nhưng đồng thời đặt
vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa
thực dân là điều kiện để giải phóng giai cấp. Vì thế, lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi
ích của dân tộc.
Tháng 5-1941, Người cùng với Trung ương Đảng khẳng định: “Trong lúc này quyền
lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc.
Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc
lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi
kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại lại
được”.
(#_$_'*+QFK+90()*+>.!' !D#Y1O'*+QFK+90+8+()*+S!8+
Là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độc lập
của dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức.
Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, thực hiện nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, nhưng
Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ các cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc trên thế giới, đề ra khẩu hiệu “giúp bạn là tự giúp mình", và chủ trương phải
bằng thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà đóng góp vào thắng lợi chung của cách mạng
thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc,
thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước chân chính
với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đúng như Ph. Ăngghen từng nói: những tư tưởng dân
tộc chân chính trong phong trào công nhân bao giờ cũng là những tư tưởng quốc tế chân
chính”.
 !"#!$%+8+!>B#M#K!N()*+
Trang 9

- Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo xác
định những nhiệm vụ về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, nhưng nổi lên hàng đầu là
nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập dân tộc. Trong tư duy chính trị của Hồ Chí Minh,
giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
- Hội nghị lần thứ 8, BCH TƯ Đảng (5-1941) do Hồ Chí Minh chủ trì kiên quyết
giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhấn mạnh đó là “nhiệm vụ bức thiết nhất”.
- Trong nhiều bài nói, bài viết thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Hồ Chí
Minh tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc:
+ Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người khẳng định: “Trường kỳ kháng
chiến, nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công”.
+ Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người nêu rõ: “Tổ quốc ta nhất định sẽ
thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum hợp một nhà”.
;f+#52+90+8+!>B#M#K!N()*+
Trang 10
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
Cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân,
giành độc lập dân tộc và thiết lập chính quyền của nhân dân
Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước, tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba, vì
Quốc tế thứ ba có chủ trương giải phóng dân tộc bị áp bức.
Mục tiêu cấp thiết của cách mạng ở thuộc địa chưa phải là giành quyền lợi riêng biệt
của mỗi giai cấp, mà là quyền lợi chung của toàn dân tộc. Đó là những mục tiêu của đấu
tranh dân tộc, phù hợp với xu thế của thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải
phóng dân tộc, đáp ứng nguyện vọng độc lập, tự do của quần chúng nhân dân.
Tuy nhiên, do những hạn chế trong nhận thức về thực tiễn của cách mạng thuộc địa,
lại chịu ảnh hưởng của tư tưởng giáo điều, “tả khuynh”, Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp
hành Trung ương Đảng (10-1930) đã phê phán những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc,
tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương
Đảng, chủ trương “thay đổi chiến lược”, từ nhấn mạnh đấu tranh giai cấp sang nhấn mạnh
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng như những thắng lợi trong 30 năm

đã “bênh vực cho các dân tộc bị áp bức”. Người thấy trong lý luận của Lênin một phương
hướng mới để giải phóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản.
Trong bài Cuộc kháng Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản
thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của
chủ nghĩa cộng sản và cua cách mạng thế giới”.
Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu
hướng tư sản đương thời, Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa
Mác-Lênin và lựa chọn khuynh hướng chính trị vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu
nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”,
“…chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng vô sản ở thuộc địa bao hàm nội dung sau:
- Làm cách mạng giải phóng dân tộc giành chính quyền, dần dần làm cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
- Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản.
- Lực lượng làm cách mạng là khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh
công – nông – trí.
- Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới. “Ai làm cách mạng trong
thế giới cũng là đồng chí của người An nam ta cả”. Cách mạng thuộc địa phải gắn chặt với
cách mạng vô sản chính quốc.
k8+!>B1C!D#'B#>6#K!M#(CM*-MQe!'BC
08+!>B16+!HK!M#+NM
Nguyễn Ái Quốc phân tích: “Phàm làm việc gì cũng vậy, bất kỳ lớn bé, bất kỳ khó
dễ, nếu không ra sức thì chắc không thành công… việc giải phóng gông cùm nô lệ cho
đồng bào, cho nhân loại” là “việc to tát” nên phải gắng sức. “Việc gì khó cho mấy, quyết
tâm làm thì chắc làm được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm
thì phải nổi. Đời này làm chưa xong thì đời sau nối theo làm thì phải xong”. Muốn làm
cách mạng thì phải bền gan, đồng chí, đồng lòng và quyết tâm, “lại phải biết cách làm thì
làm mới chóng”.
“Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm xã hội mới, ấy là rất khó. Nhưng biết cách

- Khi khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và dân tộc
Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nêu một luận điểm quan trọng, bổ sung thêm cho lý luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin về Đảng Cộng sản, định hướng cho việc xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam thành một đảng có sự gắn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân, với nhân dân lao
động và cả dân tộc trong mọi thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Mọi người Việt Nam yêu
nước, dù là đảng viên hay không đều cảm nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của Bác
Hồ, là đảng của mình, và đều gọi đảng là “Đảng ta”.
- Hồ Chí Minh đã xây dựng được một Đảng cách mạng tiên phong, phù hợp với thực
tiễn cách mạng Việt Nam, gắn bó với nhân dân, với dân tộc, một lòng một dạ phụng sự Tổ
quốc, phụng sự nhân dân được dân tộc thừa nhận là đội tiên phong của mình.
- Ngay từ khi mới ra đời, Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập đã quy tụ được lực lượng
và sức mạnh của toàn giai cấp công nhân và cả dân tộc Việt Nam. Đó là một đặc điểm và
đồng thời là một ưu điểm của Đảng. Nhờ đó, ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã nắm ngọn
cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam và trở thành nhân tố hàng đầu bảo đảm
mọi thắng lợi của cách mạng.
lAJ+Qg+8+!>B#M#K!N()*+;0C >C/()*+
08+!>BQ/-J!#=K+90()+!i;I8K;E+
- Năm 1924, Hồ Chí Minh đã nghĩ đến một cuộc khởi nghĩa vũ trang toàn dân. Người
cho rằng: “Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương: 1-Phải có
tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi
nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng…”
- Hồ Chí Minh nghiêm khắc phê phán việc lấy ám sát cá nhân và bạo động non làm
phương thức hành động, “hoặc xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức; hoặc làm
cho dân quen ỷ lại mà quên tính tự cường”. Người khẳng định “cách mệnh là việc chung
của cả dân tộc chức không phải việc một hai người”.
Chủ trương tập hợp lực lượng của Hồ Chí Minh phản ánh tư tưởng đại đoàn kết
dân tộc của Người. Năm 1942, Người chủ trương già, trẻ, gái, trai, dân, lính đều tham
Trang 13
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
gia đánh giặc. Năm 1944, Người viết: “cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn

tiểu tư sản, trí thức, trung nông… đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung, tiểu
địa chủ và tư sản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới
làm cho họ đứng trung lập.
- Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như đảng lập hiến) thì phải đánh đổ.
- Trong lực lượng toàn dân tộc, Hồ Chí Minh hết sức nhấn mạnh vai trò động lực
cách mạnh của công nhân và nông dân. Người phân tích: các giai cấp công nhân và nông
dân có số lượng đông nhất, nên có sức mạnh lớn nhất. Họ lại bị áp bức bóc lột nặng nề
nhất, nên “lòng cách mạng càng bền, chí cách mệnh càng quyết… Công nông là tay không
chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ
gan góc”. Từ đó, Người khẳng định: công nông “là gốc cách mệnh”. Khẳng định vai trò
động lực cách mạng của công nhân và nông dân là một vấn đề hết sức mới mẻ so với nhận
thức của những nhà yêu nước trước đó.
- Trong khi hết sức nhấn mạnh vai trò của công nhân và nông dân, Hồ Chí Minh
không coi nhẹ khả năng tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc của các giai cấp và tầng
Trang 14
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
lớp khác. Người coi tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận giai cấp địa chủ là một
đồng minh của cách mạng. Người chỉ rõ: “…học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị
tư sản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; ba hạn ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh
của công nông thôi”.
m8+!>B#M#K!N()*++U'g+#H!/!+!9'*7-8BC$/+NS!M
n#/!!cQg#16++8+!>B$Y-M+!"!^24+
08+!>B#M#K!N()*++U'g+#H!/!+!9'*7-8BC
- Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa), nền
kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó là nguyên
nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa. Các nước thuộc địa trở
thành một trong những nguồn sống của chủ nghĩa đế quốc.
- Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản đế quốc đều lấy
ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó,
nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ công nhân rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất

Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
này vô hình trung đã làm giảm tính chủ động, sáng tạo của các phong trào cách mạng ở
thuộc địa.
Theo Hồ Chí Minh, giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô
sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc
đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ
không phải là quan hệ lệ thuộc, hoặc quan hệ chính - phụ. Liên minh các dân tộc thuộc địa
là một trong những cái cánh của CMVS
1925, HCM viết: “CNTB là con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính
quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu muốn người ta giết
con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai cái vòi. Nếu người ta chỉ cắt một cái vòi thôi,
thì cái vò kia vẫn tiếp tục sống hút máu của GCVS, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị
cắt đức sẽ mọc ra”…”
Nếu xem thường CM ở thuộc địa tức là: “muốn đánh chết rắn đằng đuôi”
Vận dụng công thức của Các Mác: sự giải phóng của GCCN phải là sự nghiệp của
bản thân GCCN. HCM đưa ra luận điểm: “Công cuộc giải phóng anh em chó có thể thực
hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”
Do nhận thức được vai trò, vị trí chiến lược của CM thuộc địa, đánh giá đúng sức
mạnh dân tộc; HCM cho rằng CM GPDT ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách
mạng vô sản ở chính quốc.
Người viết: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức
tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình
thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của
CNTB là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em của mình ở phương
Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.
Nhận thức đúng vai trò, vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa và sức mạnh dân
tộc, Nguyễn Ái Quốc cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành
thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn; một cống hiến rất
quan trọng của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã được

mọi cách ngăn chặn xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng
biện pháp hòa bình, chủ động đàm phán, thương lượng, chấp nhận những nhượng bộ có
nguyên tắc.
HCM luôn tranh thủ khả năng giành và giữ chính quyền ít đổ máu. Tư tưởng bạo
lực CM và tư tuởng nhân đạo hoà bình thống nhất biện chứng với nhau trong tư tưởng
HCM
Xuất phát từ tình thương yêu, quý trọng con người., HCM tìm mọi cách ngăn chặn
xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình,
chủ động đàm phán, thương lượng, chấp nhận những nhân nhượng có nguyên tắc
“Tôi không muốn trở về Hà nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân
dân Việt Nam những kết quả cụ thể với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở
nước Pháp” (1946)
Sau khi Miền Bắc được giải phóng, HCM kiên trì yêu cầu đối phương thi hành
Hiệp định Giơnevo 1954 về Đông Dương, thực hiện tổng tuyển cử thống nhất nước nhà
HCM nhiều lần gởi thư cho Chính phủ và nhân dân Pháp, tướng lĩnh, binh sĩ trong
quân đội Pháp và kiều dân Pháp ở VN…vừa tố cáo cuộc chiến tranh, vừa kêu gọi đàm
phán hòa bình.
“Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó
chúng tôi đều quý như nhau. Chúng tôi mong đợi ở Chính phủ và nhân dân Pháp một cử chỉ
mang lại hòa bình. Nếu không, chúng tôi buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn
đất nước”
Trong chống Mỹ, HCM gởi thông điệp cho nhà cần quyền Mỹ, đề nghị đàm phán
hòa bình để kết thúc chiến tranh. Khi Mỹ tăng cường chiến tranh, HCM kêu gọi nhân dân
“quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”; đồng thời chủ trương vừa đánh vừa đàm để kết
thúc chiến tranh.
- Việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng.
Tóm lại: Tư tưởng bạo lực cách mạng và tư tưởng nhân đạo hòa bình thống nhất biện
chứng với nhau. Yêu thương con người, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý, tranh thủ
mọi khả năng hòa bình để giải quyết xung đột, nhưng một khi không thể tránh khỏi chiến
Trang 17

thắng”….”Thắng lợi với trường kỳ phải đi đôi với nhau”. “Cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước của nhân dân ta có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa…song
nhân dân Việt nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Tự lực cánh sinh là phương châm của bạo lực cách mạng …“kháng chiến trường kỳ
gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình…cố nhiên sự giúp đỡ
của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ
người khác”. Phương châm đúng đắn ta đã giành thắng lợi to lớn.

F(f$%$&'%()*+71C+2*+'G#>6#
Lr!,#(F3-E+>B!+90+!9!?03526+$/#!!U()*+72 '*QJ+
>B!>a'Pd)3(J$/;MC$='&6+
- Trong sự nghiệp đổi mới, cần phải xác định rõ các nguồn lực và phát huy tối đa nguồn nội lực,
yếu tố quan trọng, quyết định nhất là nguồn lực con người với tất cả sức mạnh thể chất và tinh thần.
Trang 18
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh Tạ Văn Sang
- Con người Việt Nam có nhiều truyền thống tốt đẹp. Hiện nay, các truyền thống
quý báu ấy cần được tiếp tục khơi dậy và phát huy mạnh mẽ, biến nó thành nguồn nội lực
vô tận để đất nước ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, vững bước tiến lên.
V!F!E+7#M#^23H$&'%()*+15^20'#P>#0#+&K
- HCM giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp quyện chặt với nhau. Khi coi trọng vấn
đề dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, thì Người luôn đứng vững trên quan điểm
giai cấp để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc.
- Mục tiêu của cách mạng thể hiện kết hợp vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp.
rsAtu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc có những
luận điểm sáng tạo, đặc sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn lớn:
LA/>K!CK!i!O+!23H8+@A5#$%+8+!>B!2*+'I0
- Về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc.
- Về phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc.
VvC#'D!cQg#+!C+8+!>B#M#K!N()*+#=0>


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status