GIÚP ÔN THI TỐT NGHIỆP VÀ ĐẠI
HỌC NĂM 2008.
MÔN VĂN 12.
PHẦN I: TÁC GIA VĂN HỌC VIỆT NAM.
Bài 1: TÁC GIA NGUYỄN ÁI QUỐC-HỒ CHÍ MINH.(1890-1969)
Câu hỏi:1. Trình bày những nét chính về cuộc đời,sự nghiệp sáng tác văn chương của
Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
2. Quan điểm sáng tác văn học của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.( Tại sao sinh
thời Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh khơng có ý định chọn văn chương làm sự nghiệp chính nhưng
Người đã để lại một số lượng sáng tác đồ sộ-hãy giải thích)
3. Nét chính về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
Định hướng trả lời:
Câu 1: Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là danh nhân văn hố,nhà chính trị,nhà hoạt động
cách mạng lỗi lạc đồng thời cũng là nhà báo,nhà văn nhà thơ lớn có vị trí đặc biệt quan trọng trong
lịch sử văn học dân tộc.
- Tiểu sử: Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 tại Nam Đàn –Nghệ An
,trong một gia đình giàu truyền thống khoa bảng,một làng q có nhiều truyền thống văn
hố,truyền thống u nước lâu đời.Lớn lên là lúc đất nước ta nằm trong vòng tay nơ lệ của Thực
dân Pháp,nhiều cuộc đấu tranh nổ ra nhưng đều thất bại.1911 Người ra đi tìm đường cứu nước, sau
nhiều năm đi nhiều nước trên thế giới của các châu lục Á,Phi,Mỹ La Tinh Nguyễn Ái Quốc-Hồ
Chí Minh đã tìm ra được con đường để giải phóng dân tộc.1930 Người thành lập Đảng cộng sản
Việt nam.1945 Người đọc Bản Tun ngơn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hồ.
Từ đó về sau Người ln cống hiến hết mình cho Đảng ta,nhà nước ta.
Năm 1990 nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người Tổ chức giáo dục,khoa học và văn
hố Liên hợp quốc (UNESCO) đã suy tơn Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc,nhà văn hố
lớn”
- Sự nghiệp: Sinh thời Hồ Chí Minh khơng xem văn chương là sự nghiệp chính của mình
mà xác định văn chương là vũ khí sắc bén cho nhà cách mạng nên Người đã để lại một sự nghiệp
văn học đồ sộ,phong phú,đa dạng về thể loại,đặc sắc về phong cách sáng tạo, được viết bằng nhiều
thứ tiếng khác nhau trên ba lĩnh vực chủ yếu:
đến quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh người đọc sẽ thấy được sự đa dạng và thống nhất.
1.Văn học phục vụ cho sự nghiệp cách mạng: Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cái bút là vũ khí
sắc bén,bài báo là tờ hịch cách mạng”.Là nhà cách mạng vĩ đại rất yêu văn nghệ Hồ Chí Minh xem
văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng . Người
đã xác định rõ vai trò to lớn của người nghẹ sĩ trong đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển xã
hội.Tinh thần đó được thể hiện rõ trong bài “cảm tưởng đọc thiên gia thi”:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
Chất thép chính là xu hướng cách mạng tiến bộ,là vũ khí sắc bén chống lại quân thù theo
quan niệm của Người nhà văn nhà thơ đòng thời là chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh.
2. Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến đối tượng thưởng thức và tiếp nhận văn chương.Mỗi
sáng tác của Người bao giờ cũng nhằm một mục tiêu cụ thể Người xác định rõ: Viết cho ai(đối
tượng),viết để làm gì(mục đích),viết cái gì(nội dung),viết như thế nào(hình thức).Bởi vậy ta không
lấy làm ngạc nhiên khi sáng tác của Hồ Chí Minh đa dạng:lúc làm văn,lúc làm thơ ,lúc viết tiếng
Hán,lúc viết tiếng Pháp,lúc tiếng Việt…ngòi bút mang đậm màu sắc cổ điển nhưng rất hiện đại.
3. Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến tính chân thật của văn chương.Theo quan niệm của
Người “văn chương phải miêu tả cho hay,cho chân thật,cho hùng hồn”. Tác phẩm phải phản ánh
được những đề tài mang tính hiện thực cao,ca ngợi những tấm gương “người tốt việc tốt,người thật
việc thật”đồng thời phê phán nhũng thói hư tật xấu.Nhà văn luôn chú ý đến hình thức biểu hiện
trách lối viết cầu kì xa lạ bệnh hình thức.văn chương luôn phát hu và giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt.Quan điểm nghệ thuật trong sáng tác của Hồ Chí Minh “thể hiện chân thật,tâm hồn
trong sáng,lối sống cao đẹp của người Việt Nam đẹp nhất,vĩ đại nhất”(Lê Duẩn)
Câu 3: Nét chính về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
Tác phẩm của Hồ Chí Minh. Có phong cách đa dạng mà thống nhất kết hợp sâu sắc giữa
chính trị và văn chương,giữa tư tưởng và nghệ thuật,giữa truyền thống và hiện đại.Mỗi loại hình
văn học đều có phong cách riêng ,độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững.Hồ Chí Minh là người
đầu tiên sử dung sáng tạo thành công thể văn chính luận hiện đại.
- Văn chính luận của Hồ Chí Minh bộc lộ tư duy sắc sảo,giàu tri thức văn hoá ,gắn liền
giữa lí luận và thực tiễn mang tính chiến đấu cao. Các tác phẩm đều có lập luận chặt chẽ ,lời lẽ
2
- “ Xiềng xích” :ghi lại quá trình đấu tranh của người chiến sĩ cách mạng trong nhà tù thực
dân.Đồng thời, thể hiện sự trưởng thành vững vàng của người thanh niên cộng sản qua những
chặng đường thử thách gian lao…
- “Giải phóng” : thể hiện niềm vui khi giành độc lập,cảm hứng lãng mạn dâng trào trước sự
đổi đời của dân tộc…
b. “Việt Bắc” (1947-1954): chặng đường thơ của Tố Hữu trong cuộc kháng chiến chống
Pháp,thơ hướng vào quần chúng kháng chiến với một nghệ thuật thơ giàu tính dân tộc và đại
chúng.Hình ảnh anh vệ quốc quân,chú bộ đội,người công nhân,bà mẹ Việt Bắc,cháu bé Lượm,Bác
Hồ dã được tác giả thể hiện rất thành công.
-“Việt Bắc” là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp,phản ánh những chặng
đường gian lao và anh dũng của dân tộc. “Việt Bắc” là một trong những tác phẩm xuất sắc của văn
học kháng chiến chống Pháp.
c. “Gió lộng” (1955-1961) : Thể hiện niềm vui,niềm tự hào tin tưởng ở công cuộc xây
dựng CNXH ở miền Bắc,tình cảm với miền Nam và ý chí thống nhất tổ quốc,tinh thần đoàn kết
quốc tế…
3
“Gió lộng” thể hiện rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn dồng thời thể hiện rõ
cái tôi trữ tình già dặn,sâu sắc hơn.(Ví dụ: Bài ca xuân 1961,Mẹ Tơm )
d. “Ra trận”(1962-1971), “Máu và hoa”(1972-1977):là chặng đường thơ Tố Hữu trong
những năm kháng chiến chống Mĩ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho đến ngày toàn thắng. Là
khúc ca ra trận,mệnh lệnh tiến công,đồng thời cũng là lời kêu gọi,cổ vũ cả dân tộc chiến đấu.Nhiều
bài thể hiện thành cong hình ảnh Hồ Chí Minh (Ví dụ: Bác ơi,Nước non ngàn dặm,Máu và hoa…)
e. “Một tiếng đờn”(1992); “Ta với ta”( 1996): khuynh hướng trữ tình chính trị với sự nhạy
cảm về vấn đề thời sự đã làm cho giọng thơ trầm lắng đậm chất suy tư…
2. Phong cách nghệ thuật của nhà thơ Tố Hữu:
Tố Hữu là con chim đầu đàn cho dòng văn học cách mạng,thơ của ông luôn gắn với các
chặng đường phát triển của lịch sử dân tộc.Phong cách nghệ thuật trong thơ Tố Hữu đa dạng
nhưng rất thống nhất.
a. Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản ,thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng trữ
tình chính trị: Tố Hữu là một thi sĩ đồng thời cũng là một chiến sĩ,ông sáng tác thơ nhằm phục vụ
4
2. Thiên nhiên trong tập “Nhật kí trong tù”.
3. Giá trị nhân đạo trong tập “Nhật kí trong tù”.
4. Phân tích hoặc bình giảng các bài thơ: Chiều tối(Mộ),Giải đi sớm(Tảo giải),Mới ra tù tập
leo núi(Tân xuất ngục học đăng sơn).
* Phân tích,bình giảng bài “Chiều tối”
Gợi ý:
Mở bài(HS tự làm)
HCM - một người luôn yêu đời, say mê cuộc sống, luôn nhạy cảm với thời gian. “Chiều
tối” xuất phát từ cảnh thời gian buổi chiều, qua hình ảnh cánh chim trở về chốn ngủ, chòm
mây đang lẽ loi trôi giữa bầu trời. Trên chặng đường đày ải mệt mỏi, gian lao vậy mà hồn thơ
vẫn rộng mở bức tranh thiên nhiên vẫn được vẽ nên bằng thơ:
“Quyện … trên không”
(Chim mỏi … tầng không)
Câu thơ giống như bức tranh tuyệt tác được vẽ theo lối cổ điển, trên tấm lụa bằng ngôn
từ, lời thơ uyên bác, bức tranh ấy làm cho độc giả liên tưởng đến thi ca cổ điển:
“ Chủng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn”
(Lý Bạch)
“Chim hôm thoi thót về rừng”
(Nguyễn Du)
“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Thanh Quan)
Ở đây cánh chim bay không phải trong trạng thái bình thường mà bay chầm chậm, bay
mãi miết tới nơi rừng xanh quen thuộc. Với lối chấm phá theo bút pháp tượng trưng: tả ít gợi
nhiều, lấy động tả tỉnh, lấy cái nhỏ bé để diễn tả cái bát ngát mênh mông. Cánh chim, áng
mây chiều thể hiện nỗi cô đơn mệt mỏi gợi ta liên tưởng đến số phận con người. Các từ
“quyện”, “cô” “mạn mạn” như tô điểm cho cảnh vật thêm buồn vắng và quạnh hiu. Sự sống
đang chùng lại trước vũ trụ. Cánh chim mệt mỏi, chòm mây trôi lửng lơ cũng giống như nhà
thơ mệt mỏi bước trên đường đày không biết đâu là chỗ đứng chân qua đêm.
Trong cảnh giải đi: “Năm mươi ba cây số mỗi ngày”, người tù mệt mỏi, tâm hồn và tâm
trăng, hoa tuyết nói sông” trong phong cách đường thi để nói đến tâm hồn con người. Toát lên
toàn bộ bài thơ là tấm lòng rộng mở “nâng niu tất cả chỉ quên mình” hướng đến ánh sáng
tương lai. Bài thơ như hiện lên bức chân dung một con người “đại trí,đại nhân, đại dũng” đúng
nhà thơ Hoàng Trung Thông ca ngợi:
“Ngục tối trái tim càng cháy lửa
Gông xiềng không khoá nỗi lời ca”
• Phân tích, bình giảng bài Giải di sớm:
Gợi ý:
GIẢI ĐI SỚM
Tảo Giải
Giải đi sớm được ghi lại một lần trong 18 lần chuyển lao vô cùng gian khổ mà Bác phải
nếm trải. Qua đó,ta thấy hình ảnh tuyệt đẹp mang cốt cách thi nhân - chiến só của người tù.
6
Hai câu đầu là thời điểm cuộc chuyển lao diễn ra nửa đêm về sáng.
“Nhất khứ … thu san”
(Gà gáy … lên ngàn)
Dùng tiếng gà gáy để chỉ thời điểm lên đường,trong suốt “mười bốn trăng tê tái gông
cùm” ấy thấy biết bao lần HCM bò “Giải đi sớm”. Đã bao lần Người phải chòu đau khổ về vật
chất lẫn tinh thần.Nhưng lạ lùng thay sau những lần như vậy tư thế hiên ngang, cốt cách của
con người vó đại vẫn được hiện lên. Câu thơ chưa xuất hiện hình ảnh người tù mà đó là hình
ảnh thiên nhiên,cuộc sống quen thuộc. Tiếng gà gáy như có ý nghóa báo hiệu một ngày mới,
báo hiệu sự sinh sôi nảy nở. Tiếng gà gáy một lần, đêm chuyển canh trời chưa sáng. Tiếng gà
gáy, cái âm thanh quen thuộc ấy lại vang lên nơi đất khách quê người, gợi trong lòng người tù
bao nỗi niềm thương cảm nhớ nhung. Trăng, sao ở đây được nhân hóa: Chòm sao đã ôm ấp
nâng vầng trăng lên đỉnh núi thu. Một nét vẻ tạo hình trong trạng thái động của thiên nhiên
làm cho cảnh trăng sao càng trở nên hữu tình. Trong khổ ải người tù không cảm thấy cô đơn
mà thả hồn ra bầu trời mênh mông hướng về núi thu,để tận hưởng vẻ đẹp của vũ trụ. Trong
nguyên tác từ “quần” là “bầy” gợi ta ấn tượng đông vui hơn chữ “chòm” trong bản dòch.Từ
“ủng” không hẳn là đưa mà con có nghóa “ôm ấp”… Tất cả như gợi lên một cảm giác không
gian vừa cao rộng, vừa yên tỉnh hoạt động. Câu thơ như hiện lên một tư thế ,tầm nhìn của thi
(Phương Đông… sạch không)
Cảnh vật, màu sắc không chỉ đã chuyển đổi nhanh chóng. Từ cảnh đêm tối, tiếng gà gáy
như loãng vào cái không gian giá lạnh, bầu trời chuyển sang màu hồng. Tất cả bóng tối được
xua tan, một đêm thu lạnh lẽo thực sự trôi qua. Sau này trong bài thơ “Đi thuyền trên sông
Đáy” Bác viết:
“Thuyền về trời đã rạng đông
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi”
Ở đây một cảnh đẹp cũng là một niềm vui được mở ra. Niềm vui của con người trên con
đường đi tìm chân lý, từ bóng tối chuyển dần lên ánh sáng trong tư thế lạc quan ung dung tự tại
của nhà thơ - người chiến só vó đại.
Hai câu cuối toát lên phong thái một cốt cách thi nhân rất đẹp:
“ Noãn khí … gia nồng”
( Hơi ấm … thêm nồng)
Còn nói gì thêm về nét đẹp con người, trong câu thơ ấy? “chinh nhân” giờ đây đã trở
thành “hành nhân” thư thái ung dung trên con đường rộng của mình. Trước cảnh vật của vũ trụ
bao la, một không khí ấm áp Người như quên đi tất cả mọi đau khổ, tấm lòng ấm lên, vui lên
cùng cảnh vật. Cảm hứng thi só tuôn trào trong hơi ấm nồng nàn của vũ trụ. Hơi ấm ấy như
tiếng reo vui sảng khoái.
Bất cứ ai khi ngồi ngắm cảnh buổi sáng có ánh nắng, có hơi ấm là chuyện thường nhật
hàng ngày. Nhưng đặt vào trong hoàn cảnh tác giả: bò lao tù đau khổ, đói rét … thì thật là thú
vò. Trong cô đơn ,trong cái lạnh giá của thiên nhiên, hơi ấm lòng người hiện lên,cảm xúc thì
những dạt dào. Bài thơ kết thúc không phải là một hình ảnh người tù mà đó là một thi só đang
sảng khoái trước sự biến đổi đẹp đẻ của thiên nhiên,đang nồng nàn cảm hứng thơ. Cái hứng ở
đây không phải khởi sinh từ màu hồng của thiên nhiên mà nó có từ lúc đêm khuya giá lạnh.
Lúc chuyển lao vất vả một cảm hứng lãng mạn được toát lên. Phải chăng đây là những vần thơ
thép, ý chí đấu tranh, tinh thần vượt lên tất cả của người chiến só vó đại HCM. Bài thơ ngời lên
phong thái ung dung, tâm hồn thi só lạc quan của con người “Vật chất tuy đau khổ, không nao
núng tinh thần”.
Giải đi sớm là một bài thơ đặc sắc mang phong vò Đường thi quen thuộc với hình ảnh
“mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông”. Nhưng rất hiện đại trong hình ảnh tù nhân - khách tiên
Bức tranh được cấu tạo từ ba hình ảnh thông dụng “mây, núi, nước” lấy từ chất liệu của
thi ca cổ điển. Nhà thơ đang đứng một tư thế rất cao trong cái nhìn bao quát cảnh thiên nhiên.
Trong tư thế nhìn ngang thấy mây núi trùng điệp rất gợi tình. Các điệp từ “vân”, “sơn” được
xếp đặt trong một tư thế rất độc đáo: hai chữ “vân” đóng khép hai đầu vây lấy hai chữ “sơn”
liền nhau ở giữa tạo nên một tư thế giao hoà quấn quýt. Từ “ủng” như một biện pháp nhân
hoá làm cho cảnh thiên nhiên trở lên sống động, ấm áp tình người. Phải chăng khi mới ra tù
sau những ngày dài cô đơn mòn mỏi tác giả muốn gửi gắm khát khao tình yêu thương ? Có lẽ
vì thế mà từ trên cao nhìn thấy lòng sông trong vắt kia nhà thơ muốn soi tận đáy lòng mình.
Một sự so sánh rất hay lòng sông như tấm gương để nhà thơ soi rõ lòng mình - Dùng thiên
nhiên để thanh lọc tâm hồn. Lòng sông cạnh núi non hùng vó vẫn giữ được sự trong sáng như
gương không chút bụi trần.Cũng giống như tấm lòng Hồ Chí Minh, qua bao năm tháng tù đày,
sống gần bùn nhơ của cuộc đời lần đầu tiên Hồ Chí Minh đứng giữa trời đất mênh mông để suy
9
xét chính mình. Người xưa từng nói “người nhân ưa núi, kẻ trí ưa nước”. Bác Hồ được kết hợp
cảhai. Lòng sông như gương trong vắt không chút bụi trần đem lại tươi mát cho đời,cũng giống
như tấm lòng Bác,một tấm lòng trong sáng tuyệt vời trải rộng niềm tin,hy vọng cho cả dân tộc.
Tấm lòng ấy luôn luôn rộng mở, trong sáng mang hương sắc cho đời.(HS có thể lấy những câu
thơ trong tập “Nhật kí trong tù” để chứng minh cho nỗi khổ và tâm hồn của Bác nhằm làm
sáng rõ,sâu sắc luận điểm này)
Hai câu thơ đã thể hiện rõ cái thần thái của một bậc “tiên phong đạo cốt” lấy thiên nhiên
làm điểm tựa cho tâm hồn và phần nào còn thấp thoáng tư cách của một chiến só cộng sản kiên
trinh một lòng gắn bó với đồng chí, đồng bào.Từ nơi đất khách trên đỉnh núi Tây Phong Người
không lúc nào không hướng về tổ quốc, hướng về đồng chí đồng bào đang chiến đấu vì độc lập
tự do:
“Bồi hồi …………………………cố nhân”
(mỗi hội ……………………….bạn xưa)
Tứ thơ được bộc lộ rõ, chất liệu của câu thơ được lấy từ thơ cổ. Đề cái “Đăng cao ức hữu”
(lên cao nhớ bạn) ta từng thấy rõ trong thi pháp Đường thi. Lý Bạch từng lên cao để dõi ánh
mắt theo người bạn thân thiết của mình đang ra đi về phí Tây càng xa,càng xa mãi “Cố nhân
tây từ Hoàng Hạc lâu-Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu-Cô phàm viễn ảnh bích không tận-
độc đáo nhằm vạch trần chân tướng của tên Vua bù nhìn có nhiều hành vi xấu xa làm nhục
“quốc thể”. Tính độc đáo ấy thể hiện toàn diện ở các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm.
Truyện ngắn hướng vào một vấn đề thời sự, một câu chuyện có thật. Năm 1922 thực dân
Pháp đưa tên vua bù nhìn Khải Đònh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc đòa ở Véc Xây. Đây là
thủ đoạn chính trò của thực dân Pháp muốn lừa gạt nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp:
Rằng An Nam thuộc đòa đã quy phục lại Pháp, rằng tình hình đông dương đã êm dòu lắm, người
dân Pháp hãy ủng hộ chính phủ tập trung đầu tư khai thác tài nguyên và khai hóa văn minh xứ
sở này. Sự thật này được giới báo chí lên tiếng nhiều. Tuy viết dưới dạng truyện ngắn nhưng
tác giả tường thuật trực tiếp như một bản tin, một thiên phóng sự hóa hư cấu nên một câu
chuyện nghệ thuật khắc họa bản chất và sự thật nhân vật Khải Đònh một cách tinh tế.
Câu tứ truyện thể hiện ở ngay nhan đề Vi hành,lấy câu chuyện trang nghiêm của các bậc
Đế Vương thû xưa nhưng chứa một nội dung hoàn toàn ngược lại nhằm giễu cợt tên vua bù
nhìn. Kẻ đang vi hành trên thủ đô Pa ri hào hoa tráng lệ kia không phải là một bậc minh quân
chí lớn mà là một tên tay sai tầm thường đi vi hành để thỏa mãn dục vọng cá nhân. Làm cho
người đọc “tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi”. Nhan đề có hàm ý móa mai,châm biếm.
Cách dựng truyện của Nguyễn Ái Quốc Trong Vi Hành rất đặc biệt hiện đại. Vừa đơn
giản vừa tinh vi,giọng văn biến chuyển linh hoạt làm cho người đọc đi từ bất ngờ này đến bất
ngờ khác. Câu chuyện được kể dưới hình thức một bức thư. Đây là một thể văn thông thường
trong giao tiếp cuộc sống. Tuy nhiên có hai điều đặc biệt là hai nhân vật tôi và cô em họ và
câu chuyện trao đổi giữa họ là hư cấu 100%. Bức thư không mang lại nội dung trao đổi tâm
tình mà kể một sự việc ngẩu nhiên tình cờ bất gặp trên chuyến đi của người viết. Cấu trúc bức
thư cũng không mang bố cục thông thường mà chỉ thông qua đối thoại đàm tiếu. Mở đầu bức
thư không phải là lời thăm hỏi mà là một đoạn đối thoại đột ngột: “Chính lão ta, không phải
chính lão ta …” Một chuỗi câu vừa khẳng đònh, vừa phủ đònh nối tiếp nhau để mở màn cho câu
chuyện bán tín bán nghi về ông vua đang vi hành.
Câu chuyện tiếp tục bằng một chuỗi nhầm lẫn,từ nhầm lẫn này đến nhầmlẫn khác. Một
ông vua so sánh ngang một thằng hồ. Nhà cách mạng An Nam vô tình cũng biến thành một
ông vua. Sự thật thì chẳng đời nào có chuyện nhầm lẫn quá đáng như vậy. Từ tình huống bòa ra
một cách lô gic tác giả đã dần dần mở ra các khía cạnh của sự thật một cách thuyết phục.
Những nhầm lẫn kia chính là do các hành vi đầy xấu xa của khải đònh. Hắn vi hành chỉ để thực
và bọn thực dân cướp nước xấu xa.
Sức hấp dẫn của toàn bộ thiên truyện còn thể hiện ở cách tổ chức ngôn ngữ hài hước và
giọng văn hóm hỉnh. Để cho Khải Đònh xuất hiện trước mắt người Pháp một cách lố lăng nực
cười tác giả viết “một anh vua đến thật đúng lúc khi mà cái kho giải trí của chúng ta sắp cạn
ráo như B.Đ.D vậy”. Tác giả nói bóng gió lấp lửng xa xôi,nhưng rất sâu cay làm rõ đầy đủ tất
cả những hành vi mờ ám của tên vua bù nhìn và bọn thực dân cướp nước.
Truyện ngắn Vi Hành là một minh chứng hùng hồn cho tính chiến đấu sắc bén trong ngòi
bút đầy tính sáng tạo của NAQ. Truyện được viết nhằm mục đích chính trò rõ ràng nhưng vẫn
là tác phẩm văn chương đích thực. Cách vận dụng linh hoạt biến chuyển làm cho những sự
kiện thời sự đưa vào không bò khô khan mà đầy thuyết phục. Truyện ngắn Vi hành tiêu biểu
cho phong cách nghệ thuật của HCM: Giản dò hàm súc giàu tính hài hước. Truyện vừa mang
tính sôi nỗi kiểu Phương Tây vừa mang tính thâm trầm sâu lắng kiểu Phương Đông. Vẻ đẹp
của hai nền văn hóa Đông - Tây được kết tinh thể hiện độc đáo trong truyện ngắn này.
12
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Hồ Chí Minh
II.Thực hành:
1. Phân tích tác phẩm “Tuyên Ngôn Độc Lập”
2. Phân tích nghệ thuật viết văn chính luận trong “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Hồ Chí
Minh.
Gợi ý:
Cách Mạng tháng 8 - 1945 thành công đã chấm dứt 80 năm nô lệ dưới ách thực dân và
hơn 1000 thống trò của XHPK. Mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc cho dân tộc Việt Nam. Ngày 2 - 9 - 1945tại Quảng Trường Ba Đình-Hà Nội trước một
triệu người dân trong nước, cùng đông đảo phóng viên báo chí nước ngoài Chủ tòch Hồ Chí
Minh đã trònh trọng tuyên bố bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập không chỉ có giá trò lòch sử to lớn mà còn mang phong
cách nghệ thuật độc đáo giàu sức thuyết phục trong văn chính luận của HCM.
Tuyên Ngôn Độc Lập là một áng văn chính luận nhưng là một áng văn chính luận đặc
biệt. Ngoài những lý lẽ,bằng chứng “không ai chối cãi được”. TNĐL còn là bài ca ca ngợi chí
yêu cầu đặt ra cho cuộc Cách mạng nước Mỹ năm xưa. Đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc đòa
Bắc Mỹ ra khỏi thực dân Anh. Bản Tuyên Ngôn cũng viết “Dân tộc ta đã đánh dổ chế độ quân
chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”. Đây cũng là tinh thần cơ bản của
cuộc Cách mạng Nhân quyền, Dân quyền của Pháp thế kỷ XVIII.
Bên cạnh vấn đề pháp quyền mang tính nhân loại nói chung đó tác giả Tuyên ngôn đã cụ
thể hóa thành vấn đề dân tộc “Lời bất hủ ấy ở bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 ở nước Mỹ
đã suy rộng ra câu ấy có nghóa là : “Tất cả các dân tộc trên thế giớ sinh ra đều có quyền bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Ýù kiến suy rộng ra
này đã tấn công thẳng vào luận điệu khai hóa của chủ nghóa thực dân cách nói ấy không chỉ
khẳng đònh ý chí độc lập dân tộc mà còn có giá trò thức tỉnh nhân loại ý thức về nỗi nhục mà
chủ nghóa Đế quốc đã áp đặt trên thế giới. Nhờ đó mà TNĐL của HCM có giá trò Quốc tế là
đòn đánh trực diện đuổi chủ nghóa thực dân.
Bản TNĐL đã đưa ra một hệ thống lập luận chặt chẽ hùng hồn đanh thép với những cứ
liệu rõ ràng vạch trần tội ác của chủ nghóa Thực dân và gương cao ngọn cờ chính nghóa của
cuộc Cách mạng dân tộc.Trong khi Thực dân Pháp muốn khoe khoang và tiếp tục chiêu bài
khai hóa thì TNĐL đã vạch trần hành động trái hẳn với đạo lý và chính nghóa mà chúng đưa ra.
Trong 80 năm xâm lược nước ta chúng đã thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ chia rẽ đồng bào
dân tộc ta, tắm các phong trào yêu nước của dân tộc ta trong biển máu, thi hành chính sách ngu
dân, đầu độc mọi người bằng các tệ nạn xã hội, bằng rượu cồn thuốc phiện… vơ vét cả vật chất
của ta, làm cho con người Việt Nam ngày càng kiệt quệ về vật chất suy nhược về tinh thần.
Trong khi Thực dân Pháp muốn kể công bảo hộ thì bản Tuyên Ngôn đã hùng hồn vạch
trần tội ác của chúng vì trong 5 năm chúng hai lần bán nước ta cho Nhật.Trong khi thực dân
Pháp muốn hợp pháp hóa việc tái chiếm Đông Dương thì bản Tuyên Ngôn đã vạch ra ý đồ bất
hợp pháp của chúng: “Sự thực là từ mùa thu năm 1940 nước ta đã trở thành thuộc đòa của Nhật
chứ không phải là của Pháp nữa. Khi Nhật đầu hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta nổi
dậy dành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự thật là dân ta đã dành
độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.
Luận điểm này mang ý nghóa pháp lý cực kỳ quan trọng,trước tình thế chính quyền Cách
mạng còn non trẻ. Nó sẽ dần đến một luận điểm đầy thuyết phục “Bởi thế cho nên chúng tôi,
lâm thời chính phủ Việt Nam mới đại diện cho toàn dân Việt Nam tuyên bố thoát ly hẳn quan
nào? Ý nghóa của đôi mắt dưới việc sáng tác văn chương lúc tác giả viết truyện ngắn này và
hiện nay.
2. Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao sau Cách Mạng được thể hiện như thế nào qua tác
phẩm Đôi Mắt
3. Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Đôi Mắt
4. So sánh cách nhìn của Hoàng và Độ
Gợi ý:
Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, là biểu tượng phong phú cho nghệ thuật. Trong hội họa nét
bút “điểm nhãn” là linh hồn nghệ thuật vẻ chân dung. Trong văn chương đôi mắt là biểu
tượng hấp dẫn cho văn nghệ só nơi đó đã diễn tả được những suy nghó của con người. Ca dao
từng viếtù “Mắt thương nhớ ai-Mắt không ngủ yên”. Đôi mắt hiện về trong trăn trở suy tư, trong
tiếng gọi ái tình của nhà thơ TaGo “Đôi mắt băn khoăn của em buồn ”. Quang Dũng từng viết
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới …” Nam Cao cũng nói đến đôi mắt đó là cách nhìn của hai
văn nghệ só Hoàng và Độ và cũng là tuyên ngôn nghệ thuật mới của nhà văn sau CM.
15
Toàn bộ “Đôi mắt” là hình tượng hóa quan điểm sáng tác nghệ thuật chân chính của một
nhà văn CM trong đó cơ sở quan trọng là cái nhìn đúng, cái nhìn toàn diện có chiều sâu đối với
cuộc sống con người mà trung tâm là quần chúng lao động. Cái nhìn ấy là thước đo nhân cách
của nhà văn .Đôi mắt -cái nhìn nghệ thuật đối với cuộc sống và con người của nhà văn được
Nam cao thể hiện qua câu chuyện gặp gỡ giữa hai nhân vật chính Độ và Hoàng. Cốt lõi câu
truyện khá đơn giản xoay quanh cuộc đến thăm của Độ đang làm công tác tuyên truyền kháng
chiến đến thăm nhà Hoàng- một nhà văn đàn anh giàu có từng sống ở Hà Nội nay cùng gia
đình tản cư về nông thôn sống gần những người nhà quê tích cực kháng chiến. Độ đến thăm
Hoàng với mục đích vận động kháng chiến. Anh được tiếp đãi chu đáo nhưng khi thấy cách
nhìn của văn só Hoàng khác mình anh đành “giữ kín trong lòng”.
Đây là hai cách nhìn đối lập trước hiện thực cuộc sống. Những người dân quê đi theo cách
mạng và làm cách mạng với những ưu khuyết điểm của họ. Họ có hai mặt tốt xấu cùng song
song tồn tại. Dưới đôi mắt lệch lạc của Hoàng quần chúng lao động, những người nông dân
toàn là “ngu đần , lỗ mãng, ích kỷ, tham lam bần tiện vừa ngốvừa nhặng xò”. Anh em cha con
chẳng tốt với nhau. Ông thanh niên, bà phụ nữ bây giờ lại càng nhố nhăng. Viết chữ quốc ngữ
Đối lập với cái nhìn mặc cảm của Hoàng là cái nhìn biện chứng của nhân vật Độ trong
đôi mắt nhân ái và độ lượng. Cũng như Hoàng Độ cũng thấy những người dân quê có sự dốt
nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhòn nhục một cách đáng thương. Nhưng quan trọng hơn là Độ nhìn
thấy được bản chất tốt đẹp của con người nhà quê. Độ đã từng ngã ngửa người ra khi thấy họ
cùng làm cách mạng và làm cách mạng một cách hăng hái lắm. Độ cũng thấy người dân quê
“răng đen mắt toét” gọi lựu đạn là nựu đạn, hát tiếng quân ca như người buồn ngủ cầu kinh.
Nhưng ra trận thì xung phong can đảm lắm. Kể cả những hiện tượng mà Độ có cảm giác như
họ là những người hèn nhát bò lính ghẹo vợ ngay trước mặt cũng đành im thin thít. Nhưng anh
cũng ngạc nhiên thần phục vì chính họ lại có mặt tại mặt trận một cách gan dạ với kỳ tích
không ngờ. Với cái nhìn đúng Độ đã thấy được người dân quê thật sự là anh hùng là niềm tin
cách mạng.Nếu đôi mắt Hoàng chỉ toàn thấy những mặt trái của người nông dân dẫn đến thái
độ khinh bỉ thì Độ có thể thông cảm cho quần chúng làm cho anh càng tin yêu vào sự nghiệp
cách mạng.
Sự khai thác hai đôi mắt, hai cái nhìn tại thái độ ấy đã giải thích từ nhân cách, điệu sống
của từng nhà văn. Trong tác phẩm bằng hồi tưởng của Độ,Nam Cao đã vạch rõ nhân cách điệu
sống của Hoàng điều đó đã tạo ra cái nhìn sai lầm của nhân vật.Trong quá khứ Hoàng là một
con người kém về nhân cách là bậc văn só đàn anh cũng là tay chợ đen tài tình. Hoàng luôn
chơi bạn và đá bạn sau lưng. Trong lúc cả nước đói khát gia đình Hoàng vẫn phong lưu “con
chó nhà anh không nhòn ăn bữa nào”ù. Sau cách mạng Hoàng vẫn thói quen ấy,ở nơi tản cư với
“căn nhà ba gian sạch sẽ,trồng hoa nuôi chó quý,hút thuốc thơm,ăn mía ướp hoa bưởi,đọc Tam
quốc chí trước khi đi ngủ…”.Cung cách sinh hoạt ấy không xấu nhưng không hợp vì cả nước
đang lo “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”,lo chuẩn bò kháng chiến trường kì,vô tình đã đẩy
Hoàng xa rời với quần chúng.Điều đáng phê phán ở nhân vật là ở nhà quê nhưng Hoàng luôn
đóng cửa kín suốt ngày,xa rời người nông dân.Hoàng chỉ giao lưu với hạng “trí thức nửa
mùa,cặn bã”.
Khác với Hoàng, Độ là một nhà văn trí thức ngày ngày hòa bình vào nông dân vào quần
chúng cách mạng. Độ khoác ba lô đi kháng chiến, làm cán bộ tuyên truyền ăn nghỉ với quần
chúng mà vẫn thấy hạnh phúc. Nam Cao đã cho độc giả thấy được hai nhân cách dẫn đến hai
đôi mắt hai cái nhìn chi phối đến cái tâm và cái tài của nhà văn. Hoàng từng là một nhà văn
bậc đàn anh. Tuy nhiên cái tâm của anh ta lệnh lạc mất cả nguồn cảm hứng nghệ thuật. Ngược
Bối cảnh câu chuyện được đặt ra trong thời gian đặc biệt. Khi xã hội thực dân cấu kết
chặt chẽ với giai cấp thống trò ở miền núi ức hiếp dân lành. Mò, A Phủ là nạn nhân chính của
xã hội ấy. Nhà tù thực dân phong kiến mà cụ thế là nhà thống Lý Pá Tra “nhà ăn của dân
nhiều, bóc lột của dân lắm ” lại bóc lột nông dân bằng roi. Khắc ngiệt thắm đẫm máu và nước
mắt của người lao động. Chúng dùng mọi thủ đoạn dã man để ức hiếp dân lành. Chúng tướt
đoạt ruộng đất, cướp của, hãm hiếp người và cay đắng hơn là cướp luôn quyền tự do của con
người.Những người lao động dưới nhà tù ấy quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ”
làm quần quật không được ngẩng đầu lên mà vẫn bò đói rét, bò cực hình. Bằng lòng thương
người cộng với ngòi bút nhân đạo sâu sắc, tài năng miêu tả tác giả dựng lên trước mắt người
đọc một bức tranh con người những bức tranh xã hội đầy rẫy sự bất công, xấu xa đê hèn.
Mò là điễn hình đặc sắc nhất về những thân phận của người nô lệ ở vùng cao. Vốn là một
cô gái con nhà nghèo, tạo hóa lại phú cho Mò một vẻ đẹp hồn nhiên trong sáng như bầu trời
Tây Bắc. Lại là người yêu đời ham sống, cộng với tài thổi sáo. Lẽ ra con người như vậy phải
được hưởng tất cả những hạnh phúc ở đời. Nhưng ngược lại Mò là một món nợ của cuộc đời Mò
không được quyền yêu mà bò cướp về làm dâu gạt nợ tại nhà thống Lý Pá Tra. Giai cấp phong
kiến đã bò lợi dụng tục lệ Phong kiến cổ hữu để bóc lột con người. Lấy chuyện nợ nần “truyền
kiếp ” gia đình thống lý Pá Tra đã bắt Mò về làm con dâu gạt nợ, về trình ma đã biến người
phụ nữ ngây thơ dễ mến bò con ma “vô hình” trói buộc cả cuộc đời. Về nhà thống Lý Pá Tra
làm vợ cho A Sử tàn ác bất lương Mò như một con vật nuôi trong nhà muốn đánh đập tùy ý. Từ
18
đấy Mò chỉ biết “đi theo đuôi con ngựa của chồng” khuôn mặt cứ buồn rười rượi, cũng không
nghỉ ngơi. Ngày nào cũng nhơ đi nhớ lại công việc giống nhau … con trâu con ngựa còn có lúc
nghỉ ngơi còn phụ nữ trong gia đình này phải làm việc suốt cả ngày. Những ngày tết, những
đêm mùa xuân về bao ngày khác chồng có thể đi chơi xuân, đi vui cùng mọi người còn Mò thì
bò hành hạ tra tấn. Người đọc sẽ nghỉ ra rằng, tâm hồn Mò sẽ bò nguội lạnh sẽ khô cằn đi bông
hoa đẹp ở nơi lớp bùn nhơ ? Nhưng ở đây hoàn toàn khác sự sống, ước mơ hiện lên trong đau
khổ. Từ trong đáy lòng nhân vật hiện lên một chút ánh sáng của niềm ham sống, của khát
vọng hạnh phúc. Như lớp tro đen tàn kia lại hiện lên ánh hồng.
Đó là khi mùa xuân về trên núi cao trên bản Mèo tươi đẹp, mùa xuân khơi gợi cho người
dân Tây Bắc một sức sống. Khi sắc xuân nở rộ “trong những chiếc váy sặc sỡ trong đám trẻ
vậy. Sức sống tiềm tàng của Mò vẫn được ngời lên qua hành động cởi trói và cứu sống A Phủ -
19
con người cùng khổ. A phủ là chàng trai mồ côi nghèo khỏe mạnh chạy nhanh như ngựa, săn
bò tót rất giỏi. Bằng sức khỏe phi thường của mình A Phủ có thể tự kiếm ăn. Nhưng hoàn cảnh
đã không để A Phủ được yên. A Phủ bò con trai nhà giàu gây sự, bất bình đánh nhau thế là A
Phủ bò bắt về làm đứa ở gạt nợ cho nhà thống Lý. Về đến nhà thống Lý Pá Tra A Phủ bò đánh
đập hành hạ và phạt vạ 100 đồng bạc trắng. A Phủ phải ở trừ nợ cho nhà thống Lý. Thế là
trong nhà thống lý lại có một người bất hạnh nữa làm nô lệ. Nhà tù thống Lý Pá tra như mạng
lưới nghiệt ngã sẵn sàng tóm bắt tất cả những người lao động khốn cùng. Ở đây A Phủ cũng
giống như Mò làm việc quanh năm làm quần quật ngoài rừng mà vẫn đối xử một cách tàn tệ.
Chẳng may bò hổ ăn thòt mất con bò, A Phủ bò thống lý trói đứng suốt đêm ngoài trời giá lạnh
Thống Lý Pá Tra, A Sử cũng như bọn cường hào hách dòch trong VCAP là hiện thân của
bọn Phong kiến tay sai thực dân gian ác ở vùng cao. Chúng sẵn sàng cướp đoạt tất cả quyền
hạnh phúc, quyền làm người Mò và A Phủ là hai mảng thời điển hình cho xã hội xấu xa ấy.
Quy luật tất yếu của cuộc sống “ở đâu đau khổ là ở đó có đấu tranh ”. Khi nhìn thấy A Phủ bò
trói Mò động lòng thương. “ Trời ơi, nó bắt người ta trói đứng đến chết, nó bắt mình chết cũng
thôi … Người kia việc gì phải chết thế ”. Sức sống tiềm tàng trong sự hiện lên. Lúc đầu nàng
thờ ơ, lạnh lùng không quan tâm đến A Phủ. Nhưng Sự đồng cảm hay do chính giọt nước mắt
rơi tren gò má của chàng trai tội nghiệp kia đã đưa Mò có được quyết đònh đúng đắn. Nàng đã
cắt dây trói cho A Phủ và cũng là cắt dây trói vô hình cột từ bấy lâu nay. Thế rồi cả hai cùng
chạy đến bầu trời tự do. Ở đây tinh thần nhân đạo được đẩy đến một mức độ cao hơn. Nàng
Kiều bò xô đẩy trong cuộc sống thanh lâu nhục nhã ê chề bao lần vùng sức thoát ra. Chò Dậu
trong hoàn cảnh “tức nước vỡ bờ đã vùng lên mãnh liệt nhưng cuối cùng vẫn dừng lại ở tình
huống trời tối đen như mực như tiền đồ của chò”! Nhưng ở đây hoàn toàn khác. Bao nhiêu nhục
nhã, ê chề, bao cay đắng xót xa của thân phận con người tài sắc vẹn toàn lại không bằng kiếp
trâu ngựa. Vậy mà họ vẫn sống mảnh đời đau khổ tìm đến nhau, tự giải phóng mình.
KL: (Tự làm)
V NHẶT
Kim Lân
1. Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân
bánh đúc mà người đẹp ăn đến nỗi suýt hụt hơi. Chẳng thơ mộng chút nào khi bi kòch giữa
hoàn cảnh và tâm lý hiện lên. Khi món quà tình yêu và quà cưới gồm “cái thúng và vài món
hàng lặt vặt”, nhưng trong hoàn cảnh đói kém nó vẫn quý hiếm. Tất cả các nhân vật hiện lên
đều có hạnh phúc tinh thần giống nhau.
Trước hết là nhân vật Tràng - Chủ thể của hành động nhặt vợ được nhà văn miêu tả khá
tinh tế với đầy đủ hai mặt nửa cục mòch, nửa liều lónh gan góc. Tràng bước vào câu chuyện như
là một con người hoang sơ ngận ngưỡng bước đi trong ánh chiều tà cùng với hình dáng được
hóa công đẽo gọt sơ sài “thô kòch” cái lưng to rộng như lưng gấu “cái đầu trọc nhẵn” “ngửa
mặt lên cười huyềnh huyệch”… Đó là mẫu người vừa sấu lại vừa thô là sự bất hạnh trong hôn
nhân gia đình, cộng với thân phận ngụ cư nghèo khổ có nghóa là anh ta tuyệt đường hạnh phúc,
thế mà bỗng nhiên Tràng lại có vợ, có tình yêu hạnh phúc là một sự lạ, mà người vợ theo lại là
lạ hơn. Thế nhưng cái lạ ấy xét trong mặt ý nghóa ấy lại vừa hạnh phúc, vừa xót xa. Hạnh phúc
vì trong con người xấu xí nghèo khổ đáng thương ấy từng có ước mơ lấy vợ mà nay đã thực
hiện. Tràng trở về trong niềm vui của bản thân, trong không khí cả nhà đang đói khổ. Cả làng
đang đối chọi với cái chết bỗng bừng lên sự sống. Xót xa vì chuyện hạnh phúc trăm năm,
chuyện cưới xin phải đặt nó vào chỗ linh thiêng trang trọng có đầy đủ trầu cau, cưới hỏi… vậy
mà ở đây lại nhặt vu vơ ngoài đường trong lúc đói khát.
Câu chuyện Tràng nhặt được vợ cũng diễn ra trong một tình huống độc đáo nhanh chóng,
nhanh chóng đến không ngờ. Trong đói khát chỉ bốn bánh đúc mà làm nên một mối tình, nồi
cơm ngày đói đủ làm nên cỗ tân hôn. Ngòi bút Kim Lân đã đạt đến một chiều sâu triết lý sâu
sắc. Khi cái dạ dày chưa đầy đủ thì tình cảm con người thường méo mó. Bốn bát bánh đúc,
niêu cháo lõng bõng, nồi cơm đắng mà gồm cả lễ cưới hỏi, thành hôn. Cái đói thần chết đang
gõ cửa từng nhà, vậy mà hạnh phúc lại hiện lên. Tràng bất chấp mọi hoàn cảnh vật chất với
21
một thái độ liều lónh để đoạt lấy hạnh phúc tinh thần. Trong đói khát người ta sẵn sàng liều
thân. Tràng vẫn vui vẻ vẫn vỗ tay vào túi “rích bố cu” và chấp nhận đèo bồng. Tình yêu họ
đến nhanh bất ngờ, qua lời bông đùa, qua những câu chuyện đùa vui vậy mà họ thành vợ
chồng. Trong sự đe dọa của cái đói, cái chết họ vẫn khát khao hạnh phúc. đây tác giả để cho
nhân vật có được niềm hạnh phúc thực sự. Sau mối tình bất ngờ và chuyện hôn nhân kỳ lạ ấy
lúc đầu Tràng lo cho bản thân. Lo miếng ăn qua ngày, nỗi lo ấy là điều bình thường. Nhưng
người phụ nữ Việt Nam.
Tâm trạng bà cụ Tứ diễn ra thật phức tạp và sinh động. Đầu tiên là sự ngạc nhiên “ Phấp
phổng” khi thấy Tràng về nhà trong trạng thái hồn nhiên vui tươi như đứa trẻ. Sự hồn nhiên
trong ngày đói thì thật bất ngờ. Dường như bà thấy điều gì bất thường đang chờ đợi. Cái hay
của tác giả là dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm toàn bộ tâm trạng bà cụ được hiện ra: “Quái
sao lại có người đàn bà trong ấy nhỉ” Người đàn bà nào lại đứng ngay trên đầu giường con
22
mình thế kia. Và ngạc nhiên càng tăng lên khi người đàn bà ấy gọi mình bằng U.Người mẹ ấy
bao năm sống với con, bao lần lo lắng cho con vậy mà nay không tránh khỏi sự ngạc nhiên.
Những bước đi “lập cập”. Đến đây khi Tràng phân trần bà mới hiểu. Sự ngạc nhiên ấy được
thay bằng niềm ưu tư, sự đăm chiêu suy nghó của một người mẹ “bà lão cúi đầu nín lặng- một
sự nín lặng chứa bao suy nghó ”. Lời kể của tác giả như hóa thân vào lời của nhân vật “bà lão
hiểu rồi, lòng người mẹ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, và ai oán xót thương cho số kiếp
đứa con mình ”. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nỗi
còn mình thì … Trong khuôn mặt của bà ứa lại dòng lệ … Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau
qua cơn đói khát này hay không. Trong lòng bà mang nặng một quá khứ đầy xót xa cay đắng.
Bà lão nghó đến ông lão, nghó đến gia đình … Người mẹ nhân hậu và nhạy cảm này đã dành
tình cảm không chỉ cho con mình mà còn cho cảnh ngộ trớ trêu của người đàn bà xa lạ đang
bổng dưng trở thành con dâu của mình.
Trong lo toan đúng nghóa ấy bà lão chấp nhận tất cả, chấp nhận hạnh phúc thật sự của
Tràng. Niềm vui của bà cụ Tứ được ánh lên. Bà như chia xẻ cùng niềm hạnh phúc với con
mình. Lời quyết đoán của bà là lời phán quyết với lòng thương yêu và tình cảm bao dung vô
tận “Về các con phải duyên phải kiếp với nhau thì mẹ cũng mừng lòng…” Câu nói như giải tỏa
toàn bộ căng thẳng trong tình huống truyện. Nó như trả lại danh nghóa người vợ nhặt kia thành
một nàng dâu thực sự.
Kim Lân đã mô tả thành công diễn biến tâm lý của từng nhân vật. Mỗi người một suy
nghó khác nhau. Tràng từ nghèo khó liều lónh đến hạnh phúc vì có được hạnh phúc. Người vợ
theo từ liều lónh phó thác số mệnh đến e thẹn và ngập tràn hạnh phúc. Bà cụ Tứ cũng vậy …
Mỗi người một vẻ tạo nên niềm hạnh phúc của một gia đình.
- So sánh VHHTPP
chất thêm nỗi đau. Chò thấy sống trên cõi đời này thật vô nghóa. Đi phiêu bạt nhiều nơi kiếm
sống không gia đình, không nhà cửa, không quê hương. Quanh năm cứ “tối đâu là nhà, ngã đâu
là giường”. Sóng gió cuộc đời đã làm cho nhan sắc phai tàn theo năm tháng, mái tóc óng ngày
xưa nay đã khô lại đỏ đi như chết… Chính đều đó đã giúp Đào trở thành một thanh niên xung
phong lên vùng kinh tế mới.
Cảm giác đầu tiên trên giúp ta có thiện cảm với nhân vật khi bắt gặp những nét ấn tượng
về con người thông minh nhanh nhẹn: “Hai con mắt hẹp và dài đưa qua đưa lại rất nhanh”
“hàm răng khểnh của con người luôn luôn ưa đùa cợt”. Nét phác họa ấy làm cho nhân vật sống
động hẳn lên, không nhạt nhẽo vô vò mà có chiều sâu nhân bản. Bên trong con người có số
phần đắng cay ấy làm một tính cách, một tâm hồn của người phụ nữ thông minh, đa tình, đa
cảm.
Với tính cách Đào trong truyện được thể hiện đắc sắc qua ngôn ngữ nói năng, những biểu
hiện tình cảm khát khao ý chí trong quan hệ xã hội trên con đường đi tìm hạnh phúc. Nếu ví
cuộc đời con người như một dòng sông thì dòng sông của Đào quá nhiều sóng gió, bao nỗi bất
hạnh chua sót, bao phen buộc chò phải chìm nổi lênh đênh. Cuộc đời đầy bất hạnh, gia đình
đầy đau khổ, hạnh phúc bò gián đoạn nhưng Đào chưa bao giờ rơi nước mắt. Tráu lại nàng chua
ngoa đanh đá, thông minh sắc sảo. Đào hờn ghen tất cả, ăn miếng trả miếng với mọi cảnh ngộ
nhưng lại biểu hiện phức tạp. Khi thì ngoa ngoắt táo tợn khi thì tỏ vẻ bất cần, khi thì mặc cảm
đớn đau. Mỗi một lời nói giao tiếp, mỗi phản ứng của Đào đều gắn với chiều sâu văn hoá qua
con đường ca dao tục ngữ làm cho nhân vật trở nên sắc sảo giàu tâm trạng. Khi mọi người đùa
cợt gán ghép với chàng trai trẻ đẹp mã tên Huân trong đội sản xuất Đào chẳng tha mà đáp lại:
“Huệ thơm bán một đồng mưới
Huệ tàn nhò rửa giá đôi lạng vàng”
Đằng sau lời lẽ ấy là sự khẳng đònh ý thức về bản thân, về cái quyền được hưởng hạnh
phúc như bao người phụ nữ khác. Tuy nhiên lúc mặc cảm thân phận, hờn ghen với bản thân
mình Đào đã nói ra những lời lẽ thật chua xót: “Trâu quá xá, mạ quá thì, hồng nhan bỏ lại còn
gì là xuân”. Những câu nói ấy như gợi lên một mảng đời đầy bất hạnh. Mới 28 tuổi đầu mà chò
từng trải qua bao cơn bão của cuộc đời vùi dập: chồng chết, con mất sống vô gia cư nay đây
24
mai đó. Đời sống không chút hy vọng cho tương lai, nhan sắc cũng phai tàn theo năm tháng.
25