Nh Nho Nguyn Công Tr vi Pht gio
Nguyn Hu Sơn
1. Khác với phần đông các danh nhân dưới thời phong kiến, Nguyễn Công Trứ (1778-
1859) thành danh khá muộn màng. Vốn là người thông minh, hiếu học song sau nhiều lần thi
trượt, phải đến năm Kỷ Mão (1819), khi đã ngoài bốn mươi tuổi, lứa tuổi "tứ thập nhi bất
hoặc" đã từng trải trường đời và định hình chí hướng, ông mới thi đậu Giải nguyên và được
bổ đi làm quan. Điều đó cũng có nghĩa qua suốt bốn chục năm sống ở quê nhà, ông đã
nghiệm sinh sâu sắc đời sống thôn dã, hấp thụ đầy đủ truyền thống văn hoá, bản chất và cốt
cách người dân đất cổ Giang Đình. Trong cuộc đời, ông quả là con người lắm tài mà cũng
nhiều tật. Cái tài của ông bộc lộ qua việc ông được thăng thưởng, trọng dùng, từng trị nhậm
khắp vùng Hải Dương - Quảng Yên, Sơn - Hưng - Tuyên cho đến xứ An Giang - Hà Tiên,
từng góp công khai khẩn đất hoang hoá ở các vùng Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Quảng
Yên ; hoặc có khi làm việc ở Quốc sử quán và chủ khảo trường thi, có khi lại làm việc ở Bộ
Binh, Bộ Hình và trực tiếp tham gia chiến trận. Còn cái "tật" thực chất chính là tài năng, bản
lĩnh và cốt cách con người ông có nhiều mặt không chịu dung hoà với qui phạm lễ giáo
phong kiến, thường xuyên tiềm tàng vượt lên "vòng cương toả", "vòng danh lợi" Cái việc
từng được thăng thưởng đến chức Tổng đốc, Tham tri, rồi có lúc lại bị "trảm giam hậu" và bị
cách chức, bắt làm lính thú lên trấn ở biên thùy Quảng Ngãi; qua hai mươi tám năm làm
quan bị giáng chức và cách chức tới năm lần đủ thấy bản lĩnh con người cá nhân Nguyễn
Công Trứ cao cường đến như thế nào
(1)
!
Vốn là nhà nho - một nhà nho hành đạo điển hình - nói chung Nguyễn Công Trứ
không mặn mà với giáo lý và tư tưởng Phật giáo. Những cảm nhận của ông về Phật giáo
nằm trong qui luật “dĩ Nho nhập Thích” của số đông các nhà nho, thể hiện một cách hình
dung về cuộc đời có phần tương đồng với Nho giáo và chủ yếu diễn ra ở chặng cuối cuộc
đời.
2. Vốn là nhà nho hành đạo thuần thành, trước sau Nguyễn Công Trứ vẫn trung thành
với lý tưởng Nho giáo, với khuôn thước và vốn tri thức nơi cửa Khổng sân Trình đã cung
cấp và qui định cho ông:
thế tình - nhân tình thế thái - danh lợi - tạo hóa - tạo vật… Gián cách với quá khứ, có lúc
Nguyễn Công Trứ cũng bàng hoàng như Nguyễn Gia Thiều một thủa: Mồi phú quý dử
làng xa mã/ Bả vinh hoa lừa gã công khanh… Bừng con mắt dậy thấy mình tay
không (Cung oán ngâm khúc). Đo nhìn lại cuộc đời, ông thấy mình phạm nhiều lầm lạc,
lỡ bước, lựa chọn sai lý tưởng hành đạo:
- Đám phồn hoa trót bước chân vào…
(Thoát vòng danh lợi)
- Trót đa mang một tiếng anh hào…
(Người và tạo vật)
- Cũng rắp điền viên vui thú vị,
Trót đem thân thế hẹn tang bồng.
(Nợ tang bồng)
- Thôi cũng muốn Nam vô Di đà Phật,
Trót dở đem thân thế hẹn tang bồng.
(Nhàn nhân với quý nhân)
Trong từng đoạn đời, từng cảnh đời, nhà nho hành đạo Nguyễn Công Trứ cũng có lúc
nhìn lại, ngoái lại, trông ngang, liếc xéo và chiêm nghiệm đã hay, cho hay, mới hay; dám
nghĩ, nghĩ mình, nghĩ lại, nghĩ đâu, nghĩ xa gần, nghĩ trong thế cục; hãy xem, những xem,
thử xem, đã xem từng; nghe ra, thấy, Mới hay thiên địa đa tình… Cách nhìn đó giúp
Nguyễn Công Trứ tự phản tỉnh, giác ngộ được mặt trái và cả những hệ lụy phiền toái của
chữ tình:
- Thôi thôi chơi cũng là chơi vậy!
Nợ nhà tình vay một trả mười.
Duyên hội ngộ cũng lừa ba lọc bảy…
Đem ngàn vàng mua lấy tiếng cười…
(Trong trần mấy mặt làng chơi)
- Khéo quấy người một cái tinh ma,
Trói buộc kẻ hào hoa biết mấy
Càng tài tình càng ngốc càng si…
(Vịnh chữ tình)
lên, đứng trên mọi chốn quan trường, thị thành, danh lợi… Hơn nữa, Nguyễn Công Trứ
cũng có phần đồng cảm với cách nhìn của Phật giáo về thời gian đời người vốn đong đầy
bất trắc, mong manh và hữu hạn:
- Khi hỷ nộ, khi ai lạc, khi ái ố, lúc sầu bi,
Chứa chi lắm một bầu nhân dục…
(Chữ nhàn)
- Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi…
(Đời người thấm thoát)
- Ba vạn sáu ngàn ngày thấm thoát…
(Nghĩa người đời)
- Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
Cảnh phù du trông thấy cũng buồn cười.
(Vịnh nhàn)
Nguyễn Công Trứ thử gián cách, đặt mình vào cõi hư vô và đốn ngộ ra mối tệ hại, mê
lầm của “nhân dục” và những giới hạn của kiếp người “sắc sắc không không”, “sinh ký tử
qui”… Trong từng thời đỉểm, từng đoạn đời, Nguyễn Công Trứ chợt tỉnh và thực sự gặp
gỡ cách thức quan niệm, hình dung của Phật giáo về kiếp sống đời người.
3. Nguyễn Công Trứ tự ý thức được phận vị con người cá nhân nhà nho trong giới
hạn “Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng” nhưng vẫn trổ tài, thị tài và tự khẳng định mình
là con người “gồm thao lược”, “nên tay ngất ngưởng”, “dương dương người tái
thượng”, “phơi phới ngọn đông phong”, “Trong triều ai ngất ngưởng như ông” và chỉ
chịu trách nhiệm với chính mình, nhập cuộc và chịu trận với cuộc đời, vượt qua khuôn
thước lễ giáo:
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.
(Bài ca ngất ngưởng)
Tự tôn phong mình là “tay ngất ngưởng” nhưng Nguyễn Công Trứ lại muốn dung
hòa, đi về giữa hai thái cực “tay kiếm cung” với “dạng từ bi”, giữa phong cách một đạo sĩ
nhẹ bước “gót tiên” với “một đôi dì”, cố gắng tạo nên sự hòa hợp, thỏa hiệp, thỏa thuận
giữa Bụt với “ông ngất ngưởng”:
ngưởng ngông cuồng; ghê tởm cái xã hội phong kiến đầy gian dối, lọc lừa, đổi trắng thay
đen, biết mình đi nhầm đường mà không tìm được lối thoát, đành tỏ ra bằng một thái độ
khinh bạc ngạo mạn, thách thức công nhiên mọi thứ dư luận”
(4)
…
Nhưng rồi cái điều phải đến sẽ đến. Đã tới lúc Nguyễn Công Trứ không chỉ bất chợt
thức tỉnh, đo đếm từng chặng đường đời nữa mà ông tự cảm thấy cần tổng kết lại cả một
cuộc đời, đánh giá lại cả một kiếp người. Bây giờ ông có dịp soát xét lại toàn bộ tháng
năm quá khứ và chỉ thấy những là “làm con rối mua cười cho thiên hạ”, thấm thía nhận
ra cả khoảng trống cũng như những giới hạn và phần nào sự vô nghĩa của kiếp đời khi
vừa chạm cõi hư vô. Điều quan trọng hơn, Nguyễn Công Trứ nhìn ra những biến chuyển
của dòng thời gian và tỏ bày tinh thần hòa nhập, hòa giải với thế giới tự nhiên. Cách nhìn
này xa gần có phần tương đồng với cảm quan nhà Phật:
Nhật đối nhi tào tự giải di,
Kim ngô bất tự cố ngô thì.
Tùy cơ khối lỗi cung nhân tiếu,
Trực ký niên hoa giới cổ hy.
Lão thực bất kham trang diện mục,
Anh hoa an dụng nhiếm tu tì.
Tự tàm tiên liệt hào vô trạng,
Quái sát Hồng Sơn hữu thị phi.
(Thất thập tự thọ)
(Hàng ngày ta sẽ cùng chơi đùa với trẻ con,
Ta hôm nay không còn giống ta ngày xưa nữa.
Ta theo thời mà làm con rối mua cười cho thiên hạ,
Thấm thoắt nay đã đến tuổi cổ lai hy.
Cái già chân chất không cần phải trau truốt mặt mày nữa,
Vẻ tốt tươi đem nhuộm cho râu tóc để làm gì?
Ta tự lấy làm thẹn chẳng có chút công trạng gì,
Thôi hãy phó mặc cho núi Hồng nói lời khen chê!)
ở lại, vì thế nay cụ sửa sang chùa ấy lại mà lưu cư luôn. Thường khi các quan chức trong
kinh ngoài quận đi qua về lại, ai cũng lên núi vào chùa, hỏi han thăm viếng, dấu xe chân
ngựa lúc nào cũng tấp nập ở trước cửa ngoài… Năm thứ tư (1851), cụ ra chơi Bắc kỳ, lúc
trở về tu sửa chùa Viên Quang và chùa Trung Phu tại làng chính quán rồi nhân làm nhà
bên cạnh chùa mà ở”
(5)
…
4. Trong sáng tác của nhà nho Nguyễn Công Trứ cũng thấy thấp thoáng một vài câu
chữ ít nhiều liên quan đến Phật giáo:Phật, Di đà, Như Lai, kiếp, duyên, tiền duyên, chùa,
tiếng chuông… Và cũng thấp thoáng trong thơ Nguyễn Công Trứ là những cảm nhận về
cuộc đời qua nhanh, về nỗi “Đời người thấm thoát”, về những bâng khuâng “Lúc về già”,
về tâm trạng khi “Thoát vòng danh lợi” và đến bản tổng kết “Bảy mươi tuổi tự thọ”, ông
mới thực sự trải nghiệm qui luật cuộc sống và ngộ ra cái điều hữu lý “sắc sắc không
không” trong cốt lõi tinh thần nhà Phật và bừng tỉnh như Nguyễn Gia Thiều: Bả vinh hoa
lừa gã công khanh (Cung oán ngâm khúc) Trên tất cả, nhà nho thuần thành Nguyễn
Công Trứ đã có được bài thơ Vịnh Phật thực sự độc đáo.
Thuyền từ một lá vơi vơi,
Bể trần chở biết mấy người trầm luân.
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,
Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài.
Chiếc thuyền từ một lá vơi vơi,
Vớt chìm đắm đưa lên cõi tĩnh.
Chữ “kiến tính” cũng là “suất tính”,
Trong ống dòm đổ tiếng hư vô.
Kẻ muốn đem nhân kỳ nhân, hỏa kỳ thư, lư kỳ cư,
Song đạo thống hỏi rành rành công cứ.
Bàng y thiên lý hành tương khứ,
Đô tự nhân tâm tố xuất lai.
Bát khang trang chẳng chút chông gai,
Cùng nghiêng ngả một dòng Hà Lạc.
. Trong thực chất, “kiến tính”
và “suất tính” có vẻ tương đồng về phương thức coi trọng sự hồn toàn của bản ngã nhưng
lại rất khác nhau về tính mục đích: một bên hướng đến khả năng chuyển hóa về chất,
hướng đến hòa đồng với tính Phật, một bên dừng lại ở tính khắc kỷ, vị kỷ, hoàn thiện chính
mình. Rõ ràng hai khái niệm này có những điểm khác biệt, không thể tương đồng như
nhau, khó có thể qui về một mối.
Trong tư cách nhà nho, Nguyễn Công Trứ tiếp tục đo đếm Phật giáo theo quan điểm
Nho giáo, qui theo cách hiểu của Nho giáo, coi Phật cũng dựa theo Nho, đều có nguồn gốc
từ “thiên lý” (lẽ trời):
Bàng y thiên lý hành tương khứ,
Đô tự nhân tâm tố xuất lai.
(Nương dựa theo lẽ trời mà có,
Đều từ trong lòng người mà ra)
Không dừng lại ở việc xác định cội nguồn và bản chất Phật giáo theo cách nhìn, cách
đánh giá, cách hình dung và thước đo của nhà nho, Nguyễn Công Trứ còn tiếp tục suy diễn
về giá trị nhân văn của đạo Phật “bát khang trang” và định danh, bình giá, xếp loại cũng
ngang ngửa với việc bói toán của… Hà Lạc (Hà đồ Lạc thư):
Bát khang trang chẳng chút chông gai,
Cùng nghiêng ngả một dòng Hà Lạc.
Cách giải thích về Phật giáo qua Nho giáo như thế có phần khá giống với định hướng/
tình trạng “nhìn Phật giáo qua khoa học” ở không ít công trình nghiên cứu Phật giáo thời
hiện đại - đặc biệt rõ ở phái Tây học.
Từ điểm nhìn và thước đo Nho giáo, Nguyễn Công Trứ duy lý quan sát thấy sức
mạnh trường tồn của Phật giáo bất chấp thể chế xã hội, bất chấp việc có người như Hàn
Dũ (768-824) từng dâng biểu xin vua nhà Đường bỏ đạo Phật, buộc thầy chùa về làm
dân, đốt sách Phật và lấy chùa làm nhà ở:
Kẻ muốn đem nhân kỳ nhân, hỏa kỳ thư, lư kỳ cư,
Song đạo thống hỏi rành rành công cứ.
Vậy mà đạo thống này vẫn được muôn người “công cứ”, tin cậy noi theo. Nguyễn
Công Trứ tỉnh táo thừa nhận và ghi nhận sự thật ấy. Tuy nhiên, với cái thước đo
Hà Nội, tháng 11 - 2008
______________
(1) Tham khảo Nguyễn Hữu Sơn: Nguyễn Công Trứ - “Phải có danh gì với núi sông”. Văn hóa nghệ
thuật, số 10-2000. In lại trong Văn học trung đại Việt Nam - Quan niệm con người và tiến trình phát triển.
Nxb. Khoa học xã hội, H, 2005, tr.345-360.
(2) Thơ văn Nguyễn Công Trứ (Trương Chính biên soạn và giới thiệu). Nxb. Văn học, H, 1983, 168
trang. Các trích dẫn thơ văn trong bài đều theo sách này.
(3) Trương Tửu: Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ. Nxb. Hàn Thuyên, H, 1943. Tuyển in
trong Trương Tửu - Tuyển tập nghiên cứu, phê bình (Nguyễn Hữu Sơn - Trịnh Bá Đĩnh sưu tầm, biên soạn).
Nxb. Lao động, H, 2007, tr.676.
(4) Trương Chính: Lời giới thiệu, trong sách Thơ văn Nguyễn Công Trứ. Nxb. Văn học, H, 1983, tr.39.
(5) Lê Thước: Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ. Nhà sách Mạc Đình Tư
Xb, H, 1928, tr.22-23.
(6) Dẫn theo Từ điển Phật học Hán Việt, Tập I (Kim Cương Tử chủ biên). Phân viện Nghiên cứu Phật
học Xb, H, 1992, tr.683.
(7) Đào Duy Anh: Hán - Việt từ điển giản yếu. In lần thứ ba. Trường Thi Xb, Sài Gòn, 1957, tr.206