THẢO LUẬN MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Tuần học thứ 10
I. NỘI DUNG THẢO LUẬN
- Lớp chia làm 6 – 8 nhóm thảo luận.
- Làm slide: Mỗi tổ thảo luận làm slide một câu hỏi lý thuyết và một câu
hỏi phần bài tập tình huống đã đựợc phân công.
- Bài viết: Mỗi tổ thảo luận làm chung 01 bài (tất cả các câu hỏi phần bài
tập tình huống trong chương trình thảo luận) và nộp lại vào buổi học thảo luận.
- Điểm bài viết sẽ được tính chung cho cả nhóm.
1.1 Câu hỏi phần lý thuyết:
Câu 1: Vấn đề cải cách hành chính trong tổ chức và hoạt động của các cơ
quan hành chính trong giai doạn hiện nay? ( Tổ 1)
Câu 2: Vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp người phạm tội cùng
lúc thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo qui đinh của Bộ luật Hình sự 1999?
( Tổ 2 )
Câu 3: So sánh giữa phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết? ( Tổ 3)
Câu 4: So sánh giữa tội phạm hình sự và vi phạm hành chính? ( Tổ 4)
Câu 5: Căn cứ xác định diện và hang thừa kế theo qui định của pháp luật
hiện hành? ( Tổ 5)
Câu 6: Có cần qui định thêm về chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và
gia đình không? Tại sao? ( Tổ 6)
Câu 7: Anh (chị) có ý kiến gì về điều kiện kết hôn theo qui định của Luật
hôn nhân gia đình năm 2000? ( Tổ 7)
Câu 8: Tại sao nói quan hệ pháp luật thừa kế thể hiện ý chí của nhà nước
và ý chí của người để lại di sản? ( Tổ 8 )
1.2. Phần bài tập tình huống
Tình huống 1: Trên đường đi làm về, anh Nguyễn Viết Chung đã vào một
quán nước ven đường để nghỉ. Sau khi ngồi uống nước khoảng 15 phút, anh
Chung nghe thấy tiếng người kêu “cướp”. Khi quay ra anh Chung nhìn thấy một
thanh niên cầm trong tay một túi sách, chạy rất nhanh về quán nước nơi anh
Tình huống 4: Ngày 12/7/2009, Nguyễn Văn A (SN 1973) và Nguyễn
Văn B (1969) cá cược độ bóng đá, mỗi bên bỏ ra 200.000.000 đồng (2 trăm triệu
đồng) với nội dung bên nào thắng sẽ được toàn bộ tài sản của bên kia. Việc thỏa
thuận được giao kết thành văn bản, các bên ký tên và mời Nguyễn Văn C (SN
1992) làm chứng, bên thắng sẽ được hưởng toàn bộ số tiền của bên kia và trích
cho C số tiền là 5%. Sau khi trận đấu diễn ra A đã thắng và chia cho C
20.000.000 đồng (5% theo thỏa thuận) và nhận số tiền 180.000.000 đồng (ba
trăm tám mươi triệu đồng).
Ngày 14/7/2009, Sau khi trân đấu kết thúc, B không muốn mất tài sản cho
nên đã rủ Nguyễn Văn D (SN 1992) và Nguyễn Thị E (SN 1980), Nguyễn Văn
F (SN 1983) (là bạn trong nhóm hội của B) đến nhà và bàn bạc cách chiếm lại
tài sản. Theo kế hoạch B đưa ra, vì biết trên đường về nhà A có đi qua một đoạn
đường vắng ít người qua lại cho nên D, E và F sẽ nấp tại đoạn đường đó chờ A
đi qua thì bất ngờ dùng gậy tấn công và chiếm đoạt lại số tiền trên. Trần Thị H
(SN 1974) (là vợ của Nguyễn Văn B) đang nấu ăn trong bếp nghe được toàn bộ
sự việc nhưng không tố giác hành vi vi phạm của H. E không muốn thực hiện vụ
việc nhưng do A biết một số các bí mật gây ảnh hưởng không tốt cho E nên ép
buộc E phải thực hiện.
Ngày 15/7/2009, Trước thời điểm thực hiện kế hoạch F thông báo có lý
do đột xuất nên không thể thực hiện được kế hoạch, D và E có mặt và đã thực
hiện theo kế hoạch. Lúc A đi qua đoạn đường vắng D lao ra dùng gậy đánh vào
đầu A và lấy toàn bộ số tiền của A, E có mặt tại hiện trường vụ án nhưng chỉ
ngồi trên xe nhìn. Sau khi thực hiện xong hành vi gây án D, E đã lên xe bỏ đi. E
đã sử dụng điện thoại gọi đến cấp cứu 115 thông báo có người bị thương và yêu
cầu xe cấp cứu đến. Do có mâu thuẫn cá nhân với A từ trước nên F vờ có việc
bận không tham gia kế hoạch, tuy nhiên F có mặt chứng kiến vụ án chờ cho E và
D đi khỏi, liền dùng dao đâm nhiều nhát vào bụng A, làm A chết tại chỗ.
Sau khi chiếm đoạt được số tài sản trên B chia cho D 100.000.000 đồng
(một trăm triệu động) và E 50.000.000 đồng tuy nhiên E từ chối không lấy.
Ngày 20/7/2009, E đầu thú.
được 1 người con trai là T (SN 1973) và một người con gái là Q (SN 1977).
Năm 1985, A bị tai nạn giao thông chết. Năm 1772, D lấy chồng sinh được một
người con là R (SN 1977). Năm 1964, E mắc bệnh tâm thần sau đó không lập
gia đình.
Năm 2006, Ông A chết. Di sản để lại của A để lại được xác định bao gồm:
- Một ngôi nhà đồng sở hữu mang tên Ông A và bà B trị giá 3,6 tỷ đồng.
- Tài sản góp vốn của Ông A vào công ty TNHH 1 thành viên X (ông A
làm chủ) trị giá 2,2 tỷ đồng.
- Tài khoản mang tên Ông A tại NH Công thương Việt Nam (do ông A
được thừa kế riêng) trị giá 2,5 tỷ đồng.
Ông A chết để lại di chúc cho T số tiền 3 tỷ đồng, cho E 2 tỷ đồng.
Sau khi ông A chết, Công ty CP Y đến yêu cầu bà B thanh toán khoản nợ
tiền hàng trị giá 500 triệu đồng.
Năm 2008, sau khi ông A chết được 2 năm, bà H và P (P là con trai của L,
L đã chết từ năm 2002) đến yêu cầu bà B và gia đình chia thừa kế cho bà H và P
Anh (chị) cho biết:
1. Bà B có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty CP Y hay không?
2. Yêu cầu của bà P đòi chia thừa kế cho bà B là hợp pháp hay không?
3. Anh (chị) hãy giải quyết tình huống chia kế trên. ( Tổ 6 )
Tình huống7: Năm 2001, anh Đinh Quang Tiến và chị Bùi Thị Thu kết
hôn với nhau. Trước khi kết hôn anh Tiến được bố mẹ cho 200 triệu để làm vốn
kinh doanh, chị Thu được bố mẹ cho một chiếc xe máy và 5 cây vàng làm của
hồi môn.
Tháng 10 năm 2003 anh Tiến đã dung số tiền bố mẹ cho cùng với số tiền
300 triệu anh có được từ việc kinh doanh của hai anh chíau khi kết hôn để mua
một ngôi nhà trị giá 500 triệu đồng. Trong quá trình chung sống anh chị đã mua
được một chiếc xe máy Spacy, một tivi, một tủ lạnh, một máy điều hoà và một
số tài sản khác.
Tháng 5/ 2004, chị Thu được hưởng thừa kế từ bố chị là 500 cổ phần tại
công ty cổ phần TCT trị giá 150 triệu. Tháng 6/ 2004 chị Thu chuyển nhượng