phân tích sự ra đời cua ĐCSVN la sự kết họp... - Pdf 17

LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
PHÂN TÍCH CHỨNG MINH SỰ RA ĐỜI CỦA ĐCSVN LÀ SẢN PHẨM CỦA SỰ
KẾT HỢP CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỚI PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC
I. Hoàn cảnh lịch sử:
Đầu thế kỷ XX các nước đế quốc lớn như Anh, Mỹ, Pháp đã xâm chiếm hầu hết các nước
nhỏ yếu trên thế giới và biến thành thuộc địa của họ, thực thi chính sách thực dân tàn bạo của chủ
nghĩa đế quốc đối với các thuộc địa.
Các nước thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc giành độc lập trở thành một nội dung
lớn của phong trào cách mạng thế giới.
Cuộc cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi đã làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới. Cuộc
cách mạng đó đã chặt đứt một khâu yếu nhất trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa và các hệ thống
thuộc địa, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người- thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng tháng 10 cũng đã cổ vũ mạnh mẽ các dân
tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng loài người.
Ở Châu Á, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ đặc biệt là Trung quốc. Quãng
Châu được coi như là cái nôi của cách mạng Châu Á lúc bấy giờ.
Ở việt nam, tháng 6/1884 triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp định Patơnot thừa nhận sự
thống trị của thực dân Pháp.
Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt nam có nhiều thay
đổi.
Về chính trị:thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế điển hình, đàn áp đẩm máu các
phong trào yêu nước của người Việt nam, mọi quyền tự do bị cấm. Pháp xây dựng hệ thống chính
quyền thuộc địa, đồng thời vẫn duy trì chính quyền phong kiến tay sai làm chỗ dựa. Thực dân
Pháp thi hành chính sách chia để trị, chia rẽ ba nước đông dương, xóa tên các nước Việt nam,
Lào, Campuchia trên bản đồ chính trị thế giới. lập ra xứ đông dương thuộc Pháp. Ở Việt nam
Pháp còn chia rẽ giữa ba kỳ, Nam kỳ,Trung kỳ, Bắc kỳ.
Về văn hóa: Thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân. Họ bưng bít ngăn cản ảnh
hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, kể cả văn hóa tiến bộ Pháp, xuyên tạc lịch sử và
giá trị văn hóa Việt nam, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc người Việt nam.
Về kinh tế: Thực dân Pháp ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẽ mạt của

II. Quy luật ra đời của Đảng cộng sản Việt nam.
1. Phong trào yêu nước: Từ khi thực dân Pháp xâm lược đến những năm 20 của thế
kỷ XX, đã có hàng trăm cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc ta chống kẻ thù xâm lược,
nhưng đều lần lượt thất bại.
Phong trào chống thực dân Pháp theo ý thức hệ phong kiến như phong trào Cần
vương đã thất bại khi cuộc khởi nghĩa của Phan đình Phùng chấm dứt năm 1896. Phong
trào nông dân Yên thế của Hoàng hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng
lợi.
Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân chủ tư sản phương Tây cũng xâm nhập vào nước ta.
Con đường cải cách Minh trị của Nhật bản cũng như tư tưởng cải cách và cách mạng Tân
Hợi của Trung quốc đều ít nhiều có ảnh hưởng đến phong trào yêu nước của Việt nam, lôi
cuốn nhiều sỷ phu phong kiến, tiêu biểu là Phan bội Châu và Phan chu Trinh.
Phan Bội Châu, lúc đầu chủ trương xây dựng chế độ quân chủ lập hiến như Nhật
Bản. Năm 1912 ông lập ra Việt nam quang phục hội, từ bỏ lập trường quân chủ lập hiến
chuyển sang lập trường dân chủ tư sản đại Pháp, thành lập Cộng hòa dân quốc Việt nam,
cải tổ Việt nam quang phục hội thành Việt nam Quốc dân đảng theo con đường của Tôn
dật Tiên nhưng cả hai hướng đi đó đều thất bại.
Phan chu Trinh cũng là một nhà yêu nước nhiệt thành, ông lên án gay gắt tội ác của
thực dân Pháp, quan lại phong kiến sâu mọt, chủ trương cải cách đát nước nhưng lại muốn
dựa vào Pháp để chống phong kiến chẳng khác gì "xin giặc rũ lòng thương".
Cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt nam Quốc dân đảng với khẩu hiệu "không thành
công cũng thành nhân" đã nhanh chóng thất bại, chứng tỏ sự hăng hái bồng bột nhất thời
của tầng lớp tiểu tư sản.
Phong trào yêu nước của nhân dân ta diễn ra rất sôi nổi và liên tục, nhưng thiếu
đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn. Trên thực tế, các phong trào cứu nước từ lập trường
Cần vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất
bại. Tình hình đó đòi hỏi phải có đường lối cách mạng đúng đắn và một tổ chức cách mạng
có khả năng đưa phong trào cách mạng đến thắng lợi.
2. Nguyễn Ái Quốc và công việc chuẩn bị thành lập Đảng.
Nguyễn Ái Quốc,khi đi học tên là Nguyễn Tất Thành, lớn lên trong cảnh mất nước,

Với sự soi sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cứu nước của Nguyễn ái
Quốc, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt nam những năm 20 phát triển
mạnh mẽ. Phong trào công nhân chuyển dần từ tự phát thành tự giác. Sự phát tiển của
phong trào cách mạng đòi hỏi sự ra đời của những tổ chức cộng sản. Tháng 3/1929, chi bộ
cộng sản đầu tiên được thành lập tại Hà nội. Hội Việt nam cách mạng thanh niên, một tổ
chức tiền thân của Đảng, đã có vai trò tích cực thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển
song không còn thích hợp trước sự phát triển về chất của phong trào. Sau đại hội tháng
5/1929 của Hội, các tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở Việt nam.
III. Thành lập Đảng CSVN - Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
1. Sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở Việt nam:
Đến năm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng nước ta, tổ
chức Hội VNCMTN không còn thích hợp và đủ sức lãnh đạo phong trào, cần phải thành
lập một Đảng cộng sản Việt nam.
Năm 6/1929 Kỳ bộ Bắc kỳ thành lập Đông dương cộng sản đảng. Tháng 11/1929
tổng bộ và kỳ bộ Nam kỳ của Hội VNCMTN quyết định thành lập An nam cộng sản đảng
và đầu năm 1930 những đại biểu ưu tú của Tân việt cách mạng đảng thành lập Đông dương
cộng sản liên đoàn.
Ba tổ chức cộng sản ra đời cuối năm 1929 và đầu năm 1930 đã khẵng định bước
phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt nam và ưu thế của hệ tư tưởng cộng
sản trong phong trào dân tộc. Tuy nhiên ở một nước mà có 3 tổ chức cộng sản sẽ không
3
3
tránh khỏi phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành
động. Trách nhiệm lịch sử của những người cộng sản là phải sớm khắc phục chổ yếu đó để
thống nhất phong trào cách mạng ở nước ta.
2. Hội nghị thành lập Đảng và nội dung cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã họp ở bán đảo
Cữu long, Hương cảng (Trung quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn ái Quốc thay
mặt Quốc tế cộng sản.
Hội nghị đã nhất trí thống nhất các nhóm cộng sản thành lập một Đảng, lấy tên là

và lãnh đạo toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp để đi tới chủ nghĩa
xã hội. Đó là sự lụa chọn dứt khoát và đúng đắn của Bác Hồ, của Đảng và nhân dân ta để
có độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Từ thực tiển lịch sử đã chứng minh rằng: Đảng CSVN là sản phẩm của sự kết hợp
chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt nam.
4
4
TỪ THỰC TIỂN LỊCH SỬ VIỆT NAM THỜI KỲ 1954-1975 PHÂN TÍCH, CHỨNG MINH
LÀM RÕ NHẬN ĐỊNH CỦA ĐẢNG TA TRONG ĐẠI HỘI IV 'THẮNG LỢI CỦA CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC LÀ THẮNG LỢI CỦA HAI CHIẾN LƯỢC CÁCH
MẠNG ĐƯỢC TIẾN HÀNH ĐỒNG THỜI VÀ KẾT HỢP CHẶT CHẼ VỚI NHAU".
Năm 1958 thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt nam. Cuối thế kỷ XIX Pháp áp đặt
chế độ cai trị trực tiếp đồng thời vẫn duy trì chế độ phong kiến làm chỗ dựa cho sự thống
trị của chúng. Việt nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nữa
phong kiến.
Chính sách thống trị về chính trị, nô dich về văn hóa cộng với các chương trình khai thác
thuộc địa đã làm cho sự mâu thuẫn giữa dân tộc việt nam, các tầng lớp nhân dân lao động nước ta
với thực dân Pháp phát triển gay gắt. Các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp liên tục nổ ra
trên cả nước. Sự thất bại của phong trào Cần vương đã chấm dứt thời kỳ đấu tranh chống xâm
lược theo hệ tư tưởng phong kiến. Phong trào nông dân của cụ Hoàng Hoa Thám và phong trào
yêu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản của cụ Phan bội Châu, Phan châu Trinh diễn ra sôi nổi
nhưng cuối cùng cũng thất bại.
Trong lúc các phong trào cứu nước bế tắc, năm 1911 người thanh niên yêu nước
Nguyễn ái Quốc(lúc đi học tên là Nguyễn tất Thành) rời tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước
giải phóng dân tộc. Sau khi đã đi nghiên cứu, tìm hiễu các cuộc đấu tranh của nhiều dân
tộc bị áp bức trên thế giới, tìm hiểu xã hội tư bản, người trở lại Pháp. Nguyễn ái Quốc được
đọc bản "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa" của
Lênin và đã tìm thấy trong tư tưởng của Lênin con đường giải phóng đúng đắn và triệt để
cho dân tộc Việt nam. Con đường cứu nước mà Người khẳng định là giải phóng dân tộc
với giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và con người.

hóa, giáo dục, y tế được phát triển, làm thay đổi một bước diện mạo miền Bắc.
Ở miền Nam, Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi chính quyền Sài gòn thi hành
nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ và giữ gìn lực lượng trước sự khủng bố tàn bạo của kẻ
thù. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn ở miền Nam đồng chí Lê Duẩn đã soạn thảo " Đề cương
cách mạng miền Nam". Tháng 1/1959 BCHTW đã ra nghị quyết 15 khẳng định con đường
phát triển cơ bản của cách mạng việt nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về
tay nhân dân.
Năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần III của Đảng đã hoàn chỉnh đường lối
cách mạng Việt nam.
Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng ở miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp
phần xây dựng một nước Việt nam hòa bình, thống nhất độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Miền bắc bắt tay vào việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Trong 5 năm từ
1961-1965 miền bắc đạt được nhiều thành tựu quan trọng: quan hệ sản xuất mới tiếp tục
được củng cố, cơ sở vật chất được tăng cường, bước đầu có sự tìm tòi cải tiến cung cách
làm ăn qua các cuộc vận động "ba xây, ba chống" và cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ
thuật. giáo dục, văn hóa, y tế phát triển mạnh mẽ.
Ở miền Nam, chủ trương của Đảng là nâng dần mức độ đấu tranh vũ trang. Dưới
ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam do Đảng lãnh đạo,
phong trào cách mạng miền Nam được giữ vững và phát triển mạnh mẽ, đã đánh bại chiến
lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ. Trước sự phá sản của chiến tranh đặc biệt
buộc đế quốc Mỹ phải chuyển sang " chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và gây chiến tranh
phá hoại ra miền Bắc.
Chủ tịch HCM kêu gọi đồng bào và chiến sỷ cả nước nêu cao ý chí quyết tâm đánh
thắng giặc Mỹ xâm lược với tinh thần :"Không có gì quý hơn độc lập tự do". Với cuộc tổng
tấn công và nỗi dậy tết Mậu thân 1968 buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném
bom miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Paris, tuyên bố "phi Mỹ hóa" chiến
tranh.
Cuối năm 1968, miền Bắc tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ, khôi phục và phát triển một bước nền kinh tế quốc dân để ổn định đời sống nhân

Đây là cuộc đọ sức giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc
hiện đại, là cuộc đọ sức có quan hệ chặt chẽ đến đời sống chính trị toàn thế giới trong điều
kiện có sự tác động tiêu cực của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng
sản quốc tế.
Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì kết hợp chủ nghĩa yêu
nước Việt nam với chủ nghĩa Mác-Lênin, vượt lên sức ép của tất cả những quan điểm sai
lầm và phản động, phát huy năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, Đảng ta đã xác định thành
công đường lối chung của cách mạng cả nước, cách mạng của mỗi miền.
Tuy xác định chiến lược cách mạng của mỗi miền khác nhau, nhưng miền nào cũng
bao gồm hai mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội kết hợp với nhau.
Ở miền Nam mục tiêu độc lập dân tộc được thể hiện trực tiếp và nóng bỏng, mục
tiêu chủ nghĩa xã hội cũng là định hướng, là lý tưởng nhưng không thuần túy ở dạng tư
tưởng, chính trị như giai đoạn cách mạng trước. Vì đã có miền bắc xã hội chủ nghĩa tác
động trực tiếp với toàn bộ sức mạnh vật chất và tinh thần đang được tạo ra. Cho nên miền
Nam chiến đấu còn để bảo vệ chế độ XHCN ở miền Bắc. Sức mạnh của miền Nam là sức
mạnh kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của cả nước, sức mạnh ấy lớn hơn nhiều
so với thời kỳ chống Pháp.
Ở miền Bắc mục tiêu CNXH trở thành trực tiếp từ năm 1954, mục tiêu độc lập dân
tộc được đặt ra dưới dạng vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc, vừa dốc sức chi viện miền Nam.
Sự kết hợp các mục tiêu nầy là động lực lớn thúc đẩy miền Bắc xây dựng CNXH.
Trên toàn bộ quốc gia dân tộc thì chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu, mục
tiêu độc lập dân tộc là bức xúc, mục tiêu chủ nghĩa xã hội vừa là hiện thực ở miền Bắc,
nhưng trước hết là phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cách mạng ở hai miền phải đồng
thời đẩy mạnh và quan hệ khắng khít với nhau, trong đó vị trí mỗi miền được xác định là
phương thức kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội sinh động nhất của thời đại.
Mục tiêu cách mạng Việt nam là hòa bình, thống nhất độc lập dân chủ và chủ nghĩa xã hội
hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của thời đại là hòa bình độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy,
7
7
cuộc kháng chiến của nhân dân Việt nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai không chỉ vì lợi

Đảng cộng sản Việt nam ra đời là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước. Khác với sự ra đời của nhiều Đảng cộng sản ở các
nước tư bản, từ trong bản thân ra đời của Đảng ta đã có sự kết hợp chặt chẽ yếu tố giai cấp
và dân tộc, tiêu biểu cho lợi ích, nguyện vọng của giai cấp và dân tộc, gắn dân tộc với thời
đại.
Bản lĩnh chính trị, độc lập, tự chủ, sáng tạo là nét nổi bật của Đảng ta thể hiện trong
suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt nam, biểu hiện rõ nhất ở những bước ngoặc lịch sử.
Ngay từ khi ra đời, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã đặt cách mạng việt
nam vào quỹ đạo của trào lưu tiến bộ của loài người trong thế kỷ XX. Đó là sáng tạo lớn
nhất, là nền tảng vững chắc cho cho những giai đoạn phát triển của đất nước sau nầy là giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định con đường tiến lên của cách mạng
Việt nam phải trải qua hai giai đoạn là cách mạng dân tộc dân chủ sau đó đi lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa., mục tiêu cuối cùng của Đảng là chủ
nghĩa cộng sản.
Trong khi nhiều nhà cách mạng Châu âu cho rằng, chỉ khi nào cách mạng ở chính
quốc thành công thì sự nghiệp giải phóng ở các nước thuộc địa mới có thể hoàn thành, thì
Nguyễn Ái Quốc đã cho rằng, sự nghiệp giải phóng ở các nước thuộc địa có thể chủ động
dựa vào sức mình mà giành thắng lợi trước, hơn nữa có thể giúp đở ủng hộ nhiều cho sự
nghiệp cách mạng ở chính quốc. Luận điển của Hồ chí Minh đã góp phần làm phong phú
thêm lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, về mối quan hệ giữa cách mạng
vô sản và cách mạng thuộc địa.
Đảng mới ra đời đã phát động được cao trào đấu tranh rộng lớn trong phạm vi cả
nước mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, một hình thức chính quyền cách mạng của công
nông lần đầu tiên xuất hiện ở hai tỉnh Nghệ an và Hà tĩnh là một độc đáo sáng tạo so với
các hình thức Xô viết đã xuất hiện trong phong trào công nhân thế giới.
Sau cao trào cách mạng 30-31, kẻ thù thực hiện chiến dịch đàn áp, khủng bố khốc
liệt, cách mạng bị dìm trong bể máu. Tình hình đen tối tưởng như không có đường ra, song
với niềm tin mãnh liệt vào phương hướng mục tiêu đã định, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức
quần chúng đấu tranh, nhanh chóng vượt qua thoái trào tiến lên một cao trào mới, cao trào

nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ có
quan hệ mật thiết thúc đẩy lẫn nhau. Cách mạng miền Nam có ý nghĩa quyết định trực tiếp
sự nghiệp giải phóng miền Nam. Cách mạng XHCN ở miền Bắc có ý nghĩa quyết định
nhất sự nghiệp cách mạng chung của cả nước. Tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến
lược cách mạng là đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta từ
1954 đến 1975.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt nam diễn ra trong tình hình thế giới
diễn biến phức tạp như tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, sợ chiến tranh lan rộng, mâu thuẫn
Liên xô-Trung quốc gay gắt. Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang bắn phá miền
Bắc. Trước tình hình đó, Đảng và chủ tịch Hồ chí Minh vẫn kiên định đường lối tiến hành
đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất
tổ quốc.
Đất nước hòa bình thống nhất, cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng khởi
xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh đặc biệt. Thế giới trải qua
một thời kỳ đầy biến động, cách mạng thế giới đang tạm thời lâm vào thoái trào, Liên xô
và các nước xã hội chủ nghĩa Đông âu tan rã, thị trường truyền thống bị đảo lộn. Đất nước
đứng trước những nguy cơ lớn: Mỹ tiếp tục bao vây cấm vận đối với Việt nam, các thế lực
thù đich tấn công từ nhiều phía mưu toan phủ định chủ nghĩa Mac-Lênin, phủ định vai trò
lãnh đạo của Đảng. Một số nước thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập làm cho
một bộ phận cán bộ, đảng viên hoang mang, dao động. Đất nước lâm vào khủng hoảng
kinh tế-xã hội.
Trong bối cảnh hết sức phức tạp đó, đảng ta vẫn kiên định con đường xã hội chủ
nghĩa, kiên trì đổi mới, đổi mới có nguyên tắc, không hoang mang dao động, không bắt
10
10
chước người khác, không vì sức ép từ bất cứ phía nào mà thay đổi phương hướng mục tiêu
đã định.
Công cuộc đổi mới trước hết tập trung vào kinh tế, trên cơ sở đổi mới kinh tế mà
từng bước đổi mới chính trị một cách vững chắc, Trong quá trình đổi mới, Đảng đã giải
quyết thành công mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.

11
11
PHÂN TÍCH BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA ĐẠI HỘI IX: TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
PHẢI KIÊN TRÌ MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CNXH TRÊN NỀN TẢNG CHỦ NGHĨA
MÁC-LÊNIN TƯ TƯỞNG HCM.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hạt nhân tư tưởng HCM, là sợi chỉ đỏ xuyên
suốt quá trình cách mạng Việt nam từ khi có Đảng, là cơ sở để Đảng ta giải quyết đúng
đắn một loạt vấn đề chiến lược, phương pháp cách mạng trong cách mạng dân tộc dân chủ
cũng như trong cách mạng XHCN, là nguồn gốc sức mạnh bách chiến bách thắng của cách
mạng Việt nam.
Dưới chế độ thuộc địa nữa phong kiến yêu cầu bức thiết của dân tộc là giải phóng
khỏi ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc và địa chủ phong kiến, xây dựng một chế
độ xã hội mới đảm bảo độc lập tự do và hạnh phúc của nhân dân. Để giành lại độc lập dân
tộc xây dựng cuộc sống mới phong trào yêu nước của nhân dân ta diễn ra rất sôi nỗi và liên
tục, nhưng thiếu đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn. Các phong trào cứu nước từ lập
trường Cần vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt
thất bại. Tình hình đó đòi hỏi phải có đường lối cách mạng đúng đắn và một tổ chức cách
mạng có khả năng lãnh đạo phong trào cứu nước đi đến thắng lợi.
Phải qua tìm tòi, nghiên cứu nhiều cuộc cách mạng, từ Mỹ, sang Anh đến Pháp, qua
nhiều nước thuộc địa, cuối cùng với cách mạng tháng mười Nga, Nguyễn Ái Quốc mới đi
đến kết luận: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản.
Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt nam là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước, là hiện thân quan trọng nhất của sự kết hợp độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định cách mạng Việt nam trải qua hai giai
đoạn trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ sau đó đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai
đoan phát triển tư bản chủ nghĩa. Tùy hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng,
nhiệm vụ trọng tâm có khác nhau, nhưng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
nam Đảng ta luôn luôn kết hợp hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

cô lập Việt nam.Lợi dụng khó khăn về đời sống kinh tế-xã hội của nước ta sau chiến tranh,
chính quyền Mỹ kích động lôi kéo hàng nghìn đồng bào ra đi bất hợp pháp, hòng tạo nên
sự mất ổn định ở nước ta. Cùng với một số nước đồng minh, Mỹ vu cáo Việt nam vi phạm
"nhân quyền" tại một số hội nghị quốc tế.
Những năm cuối của thập kỷ 70, nền kinh tế Liên xô và một số nước XHCN Đông
âu đã có những biểu hiện trì trệ khủng hoảng, bước vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
quan hệ hợp tác giữa các nước XHCN đã có sự thay đổi.
Nhờ kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà toàn Đảng và
toàn dân đã từng bước tìm tòi, thể nghiệm để phát hiện những hình thức, bước đi phương
pháp mới của con đường xã hội chủ nghĩa nhằm vượt qua khủng hoảng.
Mốc chuyển biến nầy được đánh dấu bằng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới.
Đảng phải đổi mới về nhiều mặt; đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ
chức; đổi mới đội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác".
Quá trình đổi mới tư duy trên thực tế là quá trình đấu tranh về mặt lý luận và tư
tưởng nhằm đạt đến nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt nam.
Đổi mới cơ cấu kinh tế coi nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một đặc trưng
của thời kỳ quá độ, nền kinh tế đó được vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đảng chỉ ra rằng cơ chế quản lý tập trung quan liêu
bao cấp từ nhiều năm không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ
nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm
giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn phân phối lưu thông, và để ra nhiều hiện
tượng tiêu cực trong xã hội.
Xây dựng cơ chế mới phù hợp là nội dung quan trọng của đường lối đổi mới. Từ cơ
chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, từ chỗ tuyệt đối hoá vai trò của kế hoạch sang chỗ thừa nhận thị
trường, khẳng định phải kết hợp kế hoạch với thị trường, trong đó kế hoạch định hướng thị

diện và nghiêm trọng, nhất là vào năm 1991 sự tan rã của Liên xô đã tác động sâu sắc đến
nước ta. Sự kiện đó đã làm cho một số cán bộ và nhân dân ta lo lắng, một số dao động hoài
nghi về tiền đồ của chủ nghĩa xã hội. Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các thị trường
truyền thống bị đảo lộn. Một số thế lực thù địch đẩy mạnh những hoạt động gây mất ổn
định chính trị và gây bạo loạn lật đổ. Nước ta một lần nữa lại đứng trước thủ thách hiểm
nghèo. Trước tình hình đó, Đảng ta và nhân dân ta vẫn khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội
là con đường tất yếu của nước ta, là sự lựa chọ sáng suốt của Bác Hồ, của Đảng ta. Xây
dựng nước Việt nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta.
Kết quả sau 10 năm đổi mới toàn diện, đất nước đã vượt qua một giai đoạn gay go,
phức tạp, nhân dân ta không những đứng vững mà còn vươn lên đạt những thắng lợi nỗi
bật trên nhiều mặt. Đại hội VIII(1996) của Đảng xác định: Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng
kinh tế xã hội. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề
cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác
định rõ hơn. Đại hội khẳng định tiếp tục đổi mới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, vì
hạnh phúc của nhân dân.
Năm 2001 Đại hội Đảng lần IX, tổng kết sau 15 năm đổi mới, đã đạt được những
thành tựu quan trọng.
Kinh tế tăng trưởng khá, ổn định, bền vững. đã hình thành dược một số ngành kinh
tế mũi nhọn như điện, dầu khí, than, thủy hải sản
14
14
Văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, giáo dục
và đào tạo phát triển. Những nhu cầu của nhân dân như về ăn mặc ở, chăm sóc sức khỏe,
nước sạch, điện sinh hoạt, học tập đi lại giải trí được đáp ứng tốt hơn.
Chính trị xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường.
Công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng, hệ thống chính trị được
củng cố.
Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham gia tích cực
vào đời sống cộng đồng quốc tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status