Nhiều bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện với tốc độ nhanh chưa từng thấy (Kỳ 2) - Pdf 17

Nhiều bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện
với tốc độ nhanh chưa từng thấy
(Kỳ 2) Những bệnh tăng giảm không đáng kể
Uốn ván: là loại bệnh được phòng ngừa trong chương trình tiêm chủng mở
rộng của quốc gia, nhưng qua 7 năm đầu của thập niên 2000, số bệnh nhân điều trị
tại BVBNĐ vẫn còn ở mức trung bình hàng năm là 233 ± 41 (thay đổi từ 181 -
281) trường hợp. Ngay cả bệnh uốn ván sơ sinh, hàng năm cũng có trung bình 8 ±
4 (thay đổi từ 3 - 14 trường hợp).
Tỷ lệ tử vong chung của bệnh uốn ván điều trị tại bệnh viện hiện tại là
6,7%, giảm rất nhiều so với tỷ lệ tử vong của bệnh này trước đây (20 - 25%).
Riêng uốn ván sơ sinh, tỷ lệ tử vong vẫn còn cao 24,5%, tuy 3 năm gần đây chỉ có
1 bệnh nhi mất trong số 12 em nhập viện.
Những sự thay đổi quan trọng tại khoa điều trị bệnh uốn ván: số máy thở
sử dụng tăng dần (từ 3 lên 12 máy), thay đổi các thủ thuật kiểm soát nhiễm khuẩn
(trang bị thêm bồn rửa tay, rửa tay nhanh, sử dụng ống hút đàm dùng một lần, tăng
khoảng cách giữa mỗi giường bệnh), sự phân công chăm sóc điều dưỡng. Ngoài
ra, tỷ lệ tử vong tiếp tục giảm ngay cả khi tỷ lệ bệnh nhân thở máy đã ổn định,
chứng tỏ rằng các can thiệp khác, ít tốn kém hơn, cũng có tác động.
Viêm gan siêu vi: số trường hợp viêm gan siêu vi điều trị tại bệnh viện
thường chiếm vị trí thứ 4 sau các bệnh tiêu chảy, sốt xuất huyết và nhiễm
HIV/AIDS. Qua 7 năm đầu của thập niên 2000, số ca điều trị nội trú trung bình
hàng năm là 513 ± 76 (thay đổi từ 431 - 659). Viêm gan siêu vi (VGSV) B chiếm
đa số (281 ± 27 ca/năm), tiếp theo là VGSV C (84 ± 35 ca), VGSV A (24 ± 6 ca),
VGSV E (7 ± 3 ca) và VGSV không xác định (74 ± 38 ca). Nhiều vấn đề thuộc
lĩnh vực chẩn đoán và điều trị bệnh VGSV chưa được tập trung nghiên cứu và đây
sẽ là một trong những ưu tiên cho hoạt động nghiên cứu khoa học của bệnh viện.
Hiện tại, những vấn đề đang được quan tâm là: các nguyên nhân gây các loại bệnh
VGSV cấp đang điều trị tại bệnh viện? Vấn đề lây nhiễm VGSV B với HBeAg âm

cao với các loại kháng sinh thông thường như ampicillin, co - trimoxazol, nalidixic
acid (trên 60%) nhưng còn nhạy cảm tốt với các kháng sinh họ cephalosporin thế
hệ 3, amikacin, imipenem.
Bệnh viêm màng não mủ: số trường hợp trung bình dịch não tủy được cấy
hàng năm là 1.500, với tỷ lệ dương tính là 12%, trong đó tác nhân chủ yếu là
Cryptococcus, tiếp theo là Streptoccocus suis và Streptococcus pneumoniae. Với
S. suis, kháng sinh được chọn lựa đầu tiên để điều trị là ceftriaxon hoặc penicillin
(nhạy trên kháng sinh đồ 100%) nhưng với Streptococcus pneumoniae, tỷ lệ kháng
penicillin đã tăng lên trên 50%. O


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status