100 đề và bài ngữ văn lớp 9
đề số 1
Theo em, Phong cách Hồ Chí Minh có phải là một văn bản thuyết minh không ? Vì sao ?
Dàn ý
I. Mở bài
- Phong cách Hồ Chí Minh vận dụng kết hợp nhiều phơng thức biểu đạt, trong đó thuyết minh
là phơng thức biểu đạt chính.
- Bài viết giúp ngời đọc hiểu đợc phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa truyền
thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, thanh cao và giản dị.
II. Thân bài
Tính chất thuyết minh của Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện ở những khía cạnh sau :
1. Đối tợng thuyết minh của bài là một vấn đề trừu tợng: phong cách của Bác Hồ. Vẻ đẹp trong
phong cách của Bác đợc trình bày rõ trên hai phơng diện cơ bản :
a) Bác luôn tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại để tạo nên một nhân cách, một lối
sống rất Việt Nam, rất phơng Đông nhng cũng rất mới, rất hiện đại.
b) Bác có lối sống vô cùng giản dị nhng lại rất thanh cao, tiêu biểu cho nét đẹp trong lối sống
của dân tộc Việt Nam.
2. Phong cách Hồ Chí Minh đợc trình bày, giới thiệu một cách chính xác, khách quan bằng
những dẫn chứng, t liệu cụ thể, xác thực, không phải do h cấu, do tởng tợng mà ra.
3. Bài viết đã sử dụng các phơng pháp của văn bản thuyết minh nh : phơng pháp phân loại, phân
tích (các khía cạnh, các phơng diện, các biểu hiện của vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh về văn
hoá, lối sống ); phơng pháp liệt kê (những nơi Bác đã qua nh châu Phi, châu á, châu Mĩ, châu Âu;
những ngoại ngữ mà Ngời thành thạo (tiếng Pháp, Anh, Hoa, Nga ); phơng pháp so sánh (lối sống
giảng dị của Bác với các vị hiền triết Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
4. Bài viết có sử dụng các yếu tố nghệ thuật nh kể chuyện, bình luận, nghệ thuật đối lập, văn
viết có cảm xúc, nhng tất cả những yếu tố này chỉ có vai trò phụ trợ. Nội dung giá trị cơ bản của văn
bản này vẫn là những tri thức xác thực, khách quan về phong cách Hồ Chí Minh.
III. Kết bài
- Phong cách Hồ Chí Minh là một văn bản nhật dụng, thuyết minh là một trong những phơng
thức biểu đạt chính.
- Bài viết đã giúp ngời đọc hiểu đợc vẻ đẹp phong cách Bác Hồ là sự kết hợp hài hoà giữa bản
2
. Ngôi nhà sàn đó chỉ có vẻn vẹn vài phòng để tiếp
khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ.
4. Đồ đạc trong nhà hết sức mộc mạc, đơn sơ :
a) Phòng họp, phòng tiếp khách chỉ có một bộ bàn ghế, lọ hoa, bộ ấm chén uống nớc.
b) Phòng làm việc có một bộ bàn ghế nhỏ, một chiếc máy chữ, một chiếc đài phát thanh Liên
Xô cũ để Bác nghe tin tức, đặc biệt tin từ miền Nam và giúp Bác đỡ cảm thấy cô quạnh trong đêm
vắng
c) Đến thăm phòng ngủ của Bác càng thơng Bác hơn: chiếc giờng nhỏ bằng gỗ thờng, mộc mạc
không mùi sơn, trên trải chiếu cói, một chiếc gối vải đã sờn cũ. Trên gối, chiếc quạt nan nằm lặng
lẽ. Chiếc quạt nan này đã từng thức cùng vị Chủ tịch trong bao đêm hè oi ả, lòng nặng những lo toan
việc nớc. Góc phòng, bộ quần áo kaki bạc màu giản dị đợc treo gọn gàng trên móc áo. Trên ngực áo
không có một tấm huân chơng, nhng bên trong lần áo vải là một trái tim nóng bỏng, sáng ngời. Dới
chân giờng, đôi dép cao su mòn gót xếp ngay ngắn. Đôi dép ấy đã từng theo chân Bác đi suốt ngàn
dặm đờng đất nớc.
5. Bác sống ở đó, một mình, với một t trang ít ỏi, một chiếc vali con với vài vật kỉ niệm của một
cuộc đời dài, rộng và bất tử.
C. Kết bài
- Nơi ở của Bác, vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nớc, đơn sơ, giản dị nh câu chuyện về
một vị thần tiên trong thần thoại, cổ tích.
- Nơi ở của Ngời là do chính Ngời lựa chọn, sự lựa chọn ấy giúp chúng ta hiểu thêm phong cách
Hồ Chí Minh, tinh hoa của dân tộc Việt Nam.
đề số 3
Em hãy đóng vai là những đồ dùng cá nhân của Bác tự giới thiệu về mình.
Bài làm
Bác Hồ đã yên nghỉ, nhng ngày ngày, dòng ngời vào lăng viếng Bác vẫn nối dài từ sáng đến
chiều. Đến thăm nhà Bác ở, ngời ta trầm ngâm trớc từng di vật đơn sơ, mộc mạc đã gắn bó với Bác
trong suốt cả cuộc đời. Dờng nh đoán biết đợc ý nghĩ, lòng mong muốn của đồng bào, du khách,
những đồ vật đã cất lên tiếng nói tự giới thiệu về mình để du khách hiểu thêm về Bác. Chúng ta hãy
cùng nghe họ tự thuật nhé.
Chúng tôi là những đồ vật rất bình thờng, mộc mạc, đơn sơ, giản dị, nhng Bác đã chọn chúng
tôi. Không những thế, Bác còn yêu thơng, gìn giữ, nâng niu chúng tôi. Điều đó làm chúng tôi vô
cùng sung sớng và hạnh phúc. Vì vậy, chúng tôi sống bên Bác, đem hơi ấm cho Ngời, bảo vệ Ngời
khỏi những cơn thất thờng của thời tiết, làm mềm sỏi đá dới những nẻo đờng bàn chân Ngời đi qua.
Chúng tôi tuy nhỏ bé nhng chúng tôi tự hào vì đã giúp ích cho Bác, góp phần làm nên một phong
cách Hồ Chí Minh.
Khi vào thăm nhà Bác, đứng nhìn chúng tôi, nhiều ngời đã khóc. Chắc họ đang nghĩ đến Bác và
cảm động trớc tấm lòng bao la rộng lớn, lối sống giản dị thanh cao của Ngời.
đề số 4
Em hãy viết một bài văn giới thiệu phong cách Hồ Chí Minh dới dạng cuộc đối thoại giữa một
bạn học sinh trong nớc và một bạn học sinh Việt kiều đang chuẩn bị vào lăng viếng Bác.
Bài làm
Tại khuôn viên trớc lăng Bác, có hai bạn học sinh, một bạn là Việt kiều mới về thăm quê vào
lăng viếng Bác. Họ gặp nhau, làm quen với nhau và sau đây là câu chuyện thú vị giữa họ.
- Xin chào bạn !
- Chào bạn !
- Mình tên là H. , rất vui đợc làm quen với bạn.
- Mình tên là M. , rất vui đợc làm quen với bạn.
- Mình xa Việt Nam từ năm 2 tuổi, nay mới có dịp về thăm quê, đợc vào lăng viếng Bác. Mình
rất muốn đợc hiểu thêm về Bác, về phong cách của Bác. M. có vui lòng làm hớng dẫn viên cho mình
không?
- Mình rất sẵn lòng.
- Mình đợc biết, Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất của thế kỉ XX. Vậy
bạn có thể nói rõ thêm cho mình biết về tầm vóc văn hoá của Bác đợc không ?
- Bác Hồ không những là một vị lãnh tụ thiên tài, nhà yêu nớc, nhà cách mạng vĩ đại của dân
tộc Việt Nam mà còn là một nhà văn hoá lớn của thế giới thế kỉ XX. Hiếm có vĩ nhân nào trên thế
giới đã hội tụ đợc danh hiệu Anh hùng dân tộc và Danh nhân văn hoá thế giới nh UNESCO đã
phong tặng Ngời. Phong cách của Bác là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại; giữa dân
tộc và nhân loại; uyên thâm nhng lại rất Việt Nam; vĩ đại, thanh cao nhng vô cùng giản dị. Vẻ đẹp
văn hoá chính là nét nổi bật trong phong cách Hồ Chí Minh.
- Là một lãnh tụ có cơng vị cao nhất của Đảng và Nhà nớc nhng Bác có một lối sống vô cùng
bình dị, rất Việt Nam, rất phơng Đông.
Nơi ở và làm việc của Ngời hết sức đơn sơ. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế
giới, có một vị Chủ tịch nớc lấy chiếc nhà sàn bằng gỗ bên cạnh chiếc ao nh cảnh làng quê quen
thuộc làm ''cung điện" của mình. Chiếc nhà sàn đó chỉ vẻn vẹn có vài phòng. Đó cũng là nơi tiếp
khách, họp Bộ Chính trị, đồng thời là nơi Bác làm việc và nhỉ ngơi.
T trang của Bác hết sức giản dị, ít ỏi : bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ
đã đợc một tác giả phơng Tây ca ngợi nh một vật thần kì, một chiếc vali con đựng vài bộ quần áo
Việc ăn uống của Ngời cũng rất đạm bạc. Những món ăn dân tộc không chút cầu kì nh cá kho,
rau luộc, da ghém, cà muối, cháo hoa là thức Bác a thích.
Ngời sống trong ngôi nhà đơn sơ ấy, một mình, với một vài t trang ít ỏi, vài vật kỉ niệm nhỏ nhoi
của một cuộc đời dài, đầy truân chuyên và giông bão cách mạng. Có lẽ, hiếm có một vị lãnh tụ, một
vị tổng thống hay một vị vua hiền ngày trớc lại sống đến mức giản dị nh Bác.
- Liệu lối sống giản dị quá nh vậy có làm giảm vị thế
- à, mình hiểu ý bạn. Lối sống của Bác giản dị nhng lại vô cùng thanh cao, sang trọng. Đây
không phải là lối sống khắc khổ của những con ngời tự vui trong cảnh nghèo khó, cũng không phải là
cách tự thần thánh hoá, tự làm cho khác đời, cho hơn ngời mà là một quan niệm sống đẹp có cội rễ từ
các nhà hiền triết phơng Đông xa : cái đẹp là sự giản dị, tự nhiên.
Cách sống của Bác gợi ta nhớ đến các sống của các vị hiền triết trong lịch sử dân tộc nh Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm. Họ sống ở quê nhà với những thú quê đạm bạc :
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Lối sống thanh cao đó cũng là một cách di dỡng tinh thần có khả năng đem lại hạnh phúc, sự
bình yên cho tâm hồn và thể xác con ngời.
Nói nh một chính khách Pháp, "Hồ Chí Minh là ngời mang tính cách á Đông nhất, nhng cũng
là ngời cởi mở nhất với t tởng phơng Tây". Cốt lõi của phong cách Hồ Chí Minh là sự kết tinh văn
hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại. Từ những năm 1923, khi gặp Ngời ở Maxcơva, nhà thơ
Xô viết Ôxíp Mandenstam đã dự cảm : " Từ Nguyễn ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không
phải là văn hoá châu Âu, mà có lẽ là nền văn hoá của tơng lai". Năm 1990, UNESCO tổ chức lễ kỉ
niệm 100 năm ngày sinh của Bác. Trong bài phát biểu của Tiến sĩ M. Amed, giám đốc UNESCO
- Vì vậy, tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho
một thế giới hoà bình, vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi ngời.
đề số 6
Dựa vào văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, em hãy viết một văn bản thuyết minh về
nguy cơ chiến tranh hạt nhân (có sử dụng yếu tố miêu tả và các biện pháp nghệ thuật).
Bài làm
Chiến tranh và hoà bình luôn là mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại bởi nó liên quan đến
cuộc sống, sinh mệnh của hàng triệu con ngời và sự còn mất của mỗi quốc gia. Lịch sử loài ngời gắn
liền với nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc khiến nhân loại bao phen rơi vào cảnh máu chảy đầu rơi, nồi
da nấu thịt. Nguy cơ chiến tranh luôn đe doạ sự sống trên khắp hành tinh. Đặc biệt, ngày nay, sự phát
triển mạnh mẽ của vũ khí hạt nhân đã trở thành mối hiểm hoạ khủng khiếp nhất đe doạ toàn bộ sự
sống, loài ngời trên trái đất.
Trong thế kỉ XX, nhân loại đã phải trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới vô cùng khốc liệt và
nhiều cuộc chiến tranh dân tộc, sắc tộc khác, làm thiệt mạng hàng trăm triệu ngời, làm bánh xe lịch
sử quay chậm lại hàng trăm năm. Chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc cách đây sáu mơi năm,
nhng nguy cơ chiến tranh vẫn luôn tiềm ẩn. Đặc biệt, đó cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của
ngành công nghiệp hạt nhân mà sự tiến bộ ghê gớm của nó đã có tầm quan trọng quyết định đối với
vận mệnh thế giới sau này. Năm 1945 ấy, cũng là năm Mĩ đã ném xuống Nhật Bản hai quả bom
nguyên tử làm hơn 40 vạn ngời chết, biến hai thành phố đông dân Hi-rô-xi-ma và Na-ga-da-ki thành
đống đổ nát, gây kinh hoàng cho toàn thế giới.
Kể từ đó, cuộc chạy đua vũ trang, cuộc chiến tranh hạt nhân chính thức bắt đầu, loài ngời hằng
ngày luôn bị đặt trớc nguy cơ tuyệt diệt.
Chỉ cần một vài ví dụ và làm một phép tính đơn giản nh nhà văn Cô-lôm-bi-a, Gác-xi-a Mac-
két, chúng ta đã có thể hình dung loài ngời đang ở trên bờ vực thẳm nh thế nào. Theo Mac-két, tính
đến ngày 8/8/1986, hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân đã đợc bố trí khắp hành tinh. Nói một cách nôm
na, điều đó có nghĩa là tất cả mọi ngời trên trái đất, không trừ ngời già, trẻ con, mỗi ngời đang ngồi
trên một thùng 4 tấn thuốc nổ. Chỉ cần bấm một cái nút, tất cả khối thuốc nổ đó nổ tung lên, làm
tiêu biến hết thảy không phải một lần mà là mời hai lần mọi dấu vết của sự sống trên trái đất, tiêu
- 5 -
diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh mặt trời và bốn hành tinh khác nữa, phá huỷ thế thăng
Chạy đua vũ trang là đi ngợc lại lí trí của con ngời và quy luật của tự nhiên.
I. Tìm hiểu đề
- Đề bài này chỉ có một mệnh đề, không có câu mệnh lệnh, không nêu rõ kiểu đề, yêu cầu thực
hiện. Các em tự phải xác định vấn đề cần bàn và kiểu văn bản thích hợp để làm sáng tỏ vấn đề đó.
- Kiểu đề : Nghị luận kết hợp với thuyết minh.
- Phạm vi kiến thức cần sử dụng : Văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình và những thông
tin xác thực về tác hại của chiến tranh mà em đợc biết.
II. Dàn ý
A. Mở bài
- Chiến tranh đồng nghĩa với đau thơng, chết chóc, đổ máu và huỷ diệt.
- Chạy đua vũ trang là đua nhau tăng cờng vũ khí để chuẩn bị chiến tranh.
- Chạy đua vũ trang là đi ngợc lại lí trí của con ngời và tự nhiên.
B. Thân bài
1. Chạy đua vũ trang là đi ngợc lại lí trí của con ngời
a) Chi phí cho việc sản xuất vũ khí hạt nhân vô cùng tốn kém, tốn kém đến mức cực kì phi lí.
b) Chi phí tốn kém đó đã làm mất đi khả năng để con ngời đợc sống tốt đẹp hơn.
- Theo Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em năm 1990, hằng ngày có vô số trẻ em
khắp nơi trên thế giới phải chịu bao nỗi bất hạnh vì là nạn nhân của chiến tranh và bạo lực; hàng
triệu trẻ em phải chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo, dịch bệnh, mù chữ, môi trờng xuống
cấp. Mỗi ngày có tới 40.000 trẻ em chết do suy dinh dỡng và bệnh tật.
- Năm 1981, UNICEF đã định ra một chơng trình để cứu trợ cấp bách về y tế, tiếp tế thực phẩm
và nớc uống, xoá nạn mù chữ, cải thiện điều kiện vệ sinh cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế
- 6 -
giới. Để thực hiện đợc chơng trình này phải cần tới 100 tỉ đô la, nhng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ
không thể thực hiện đợc bởi số tiền quá lớn. Trong khi đó, số tiền này chỉ gần bằng chi phí cho 100
máy bay ném bom chiến lợc B.1B của Mĩ và 7.000 tên lửa vợt đại châu.
- Giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện một chơng trình phòng
bệnh trong 14 năm cho hơn một tỉ ngời, cứu hơn 14 triệu trẻ em châu Phi thoát khỏi cái chết.
- Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới, vv
Điều mong muốn lớn nhất của tất thảy con ngời trên trái đất này là sự sống sinh sôi, cuộc đời
I. Tìm hiểu đề
- Đề bài này cũng chỉ có một mệnh đề, không có câu mệnh lệnh, không nêu rõ kiểu đề, yêu cầu
thực hiện. Các em tự phải xác định vấn đề cần bàn và kiểu văn bản thích hợp để làm sáng tỏ vấn đề.
- Kiểu đề : Nghị luận.
- Yêu cầu : Bằng lí lẽ và dẫn chứng, em phải phân tích, chứng minh, đánh giá làm sáng tỏ vấn
đề : Văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình có phải là một bài văn nghị luận sinh động hay
không.
II. Dàn ý
A. Mở bài
- G. Mác-két nổi tiếng là tác giả của nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn đợc viết theo khuynh h-
ớng hiện thực huyền ảo. Ông là nhà văn châu Mĩ Latinh đã đoạt giải Nô-ben văn học năm 1982.
Qua tác phẩm của mình, Mác-két đã từng đấu tranh không mệt mỏi vì hoà bình và hạnh phúc của
con ngời và sự sống trên trái đất.
- Đấu tranh cho một thế giới hoà bình là một bài văn nghị luận sinh động. Bằng lập luận chặt
chẽ, chứng cứ phong phú, xác thực ; bằng trái tim nhiệt huyết của một nhà văn vì hoà bình, hạnh
phúc của con ngời, Mác-két đã phân tích làm rõ nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe doạ sự sống
con ngời, kêu gọi mọi ngời hãy đoàn kết, đấu tranh ngăn chặn, xoá bỏ nguy cơ đó.
- 7 -
B. Thân bài
1. Đấu tranh cho một thế giới hoà bình là một văn bản nghị luận bởi tác giả đã đặt ra một vấn
đề và bàn bạc, nêu quan điểm của mình về vấn đề đó. Luận điểm chính mà tác giả nêu ra trong bài
viết này là : "Chiến tranh hạt nhân là một hiểm hoạ khủng khiếp đang đe doạ loài ngời và sự sống
trên trái đất, vì vậy nhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại là đoàn kết đấu tranh để loại bỏ nguy
cơ ấy".
2. Để làm sáng tỏ vấn đề và thuyết phục ngời đọc, tác giả đã triển khai luận điểm đó trong một hệ
thống luận cứ sắc bén, toàn diện, mạch lạc và chặt chẽ :
a) Kho vũ khí hạt nhân đang tàng trữ có khả năng huỷ diệt, xoá bỏ mọi dấu vết của sự sống trên
trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.
b) Cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém đã làm mất đi cơ hội cải thiện đời sống cho hàng tỉ
ngời nghèo khổ nhất trên thế giới. Những con số cụ thể, những ví dụ so sánh trong các lĩnh vực xã
nhân đã làm mất đi của thế giới nhiều điều kiện để cải thiện cuộc sống, cớp đi nhiều cơ hội để cứu
giúp hàng tỉ ngời, đặc biệt là trẻ em, thoát khỏi nghèo đói, bệnh tật và chết chóc
Phép lập luận so sánh với những con số và hình ảnh biết nói đã thuyết phục sâu sắc ngời đọc,
khiến ngời đọc không khỏi sững sờ, ngạc nhiên trớc một sự thật hiển nhiên nhng lại cực kì phi lí, phi
lí nhng lại đang tồn tại trên trái đất này.
c) Để làm sáng tỏ luận cứ Chạy đua vũ trang là đi ngợc lại lí trí của tự nhiên, tác giả đã đa ra
những chứng cứ từ khoa học địa chất và và cổ sinh học về nguồn gốc, sự tiến hoá của sự sống trên
trái đất là kết quả của một quá trình tiến hoá lâu dài hàng trăm triệu năm: Phải trải qua 380 triệu
năm con bớm mới bay đợc, 180 năm nữa hoa hồng mới nở chỉ để làm đẹp cho đời. Nhng chỉ cần
bấm nút một cái, tất cả những thành tựu khó khăn và nhọc nhằn đó sẽ bị xoá sạch dấu vết, trở lại
điểm xuất phát ban đầu hoặc biến thành tro bụi. Từ đó, tác giả đi đến kết luận đầy thuyết phục:
Chiến tranh hạt nhân không những đi ngợc lại lí trí của con ngời mà còn phản lại quy luật và sự tiến
hoá của tự nhiên.
- 8 -
d) Sau khi chỉ ra một cách rõ ràng về hiểm hoạ hạt nhân, phần kết bài cũng là thông điệp mà tác
giả muốn gửi tới loài ngời : Tất cả mọi ngời hãy cất lên tiếng nói đòi hỏi một thế giới không có vũ
khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng. Tiếng nói ấy, nếu vẫn không ngăn chặn đợc hiểm hoạ
hạt nhân thì chí ít nó cũng nói lên đợc ý nghĩ và nguyện vọng của loài ngời mong muốn đợc sống
trên trái đất này trong hoà bình, tình yêu và hạnh phúc.
Kết thúc bài viết, Mác-két nêu một đề nghị: Cần lập ra một ngân hàng lu giữ trí nhớ để các thời
đại sau có thể biết đợc đã từng có cuộc sống trên trái đất này, trớc khi thảm hoạ hạt nhân xảy ra. Đề
nghị của Mac-két có vẻ viễn tởng, hài hớc nhng điều ông quan tâm là chân thật, rằng : Nhân loại cần
giữ gìn kí ức của mình, lịch sử sẽ lên án những thế lực hiếu chiến đã đẩy nhân loại đến thảm hoạ
tuyệt diệt.
4. Đấu tranh cho một thế giới hoà bình giàu sức thuyết phục còn bởi cảm xúc mãnh liệt và nhiệt
huyết chứa chan của tác giả. Một nhà văn thế kỉ XVIII đã từng nguyền rủa thuốc súng nh một sự
sáng tạo của quỷ sứ. Đến lợt Mác-két, ông cũng nguyền rủa "những phát minh dã man nào, nhân
danh những lợi ích ti tiện nào" làm cho cuộc sống bị xoá bỏ khỏi vũ trụ này. Ông khẳng định :
"Trong thời đại hoàng kim này của khoa học, trí tuệ của con ngời chẳng có gì để tự hào vì đã phát
minh ra một biện pháp, chỉ cần bấm nút một cái là đã đa cả quá trình vĩ đại và tốn kém của hàng bao
nữ; khuyến khích trẻ em tham gia các hoạt động văn hoá, xã hội
đề số 10
Dựa vào văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền đợc bảo vệ và phát triển của trẻ em,
em hãy viết một văn bản thuyết minh (có sử dụng yếu tố miêu tả và nghị luận) về thực trạng cuộc
sống của trẻ em trên thế giới hiện nay.
Dàn ý
A. Mở bài
- 9 -
- Trẻ em là tơng lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại. Trẻ em có quyền đợc sống, quyền đ-
ợc bảo vệ và quyền đợc phát triển.
- Nhng thực tế cuộc sống tuổi ấu thơ của trẻ em lại không hoàn toàn nh vậy.
B. Thân bài
1. Trẻ em có quyền đợc sống và đợc đáp ứng các nhu cầu cơ bản để tồn tại nh đợc nuôi dỡng, đ-
ợc chăm sóc sức khoẻ Nhng trong thực tế, theo thế giới Tuyên bố về sự sống còn của trẻ em ,
hằng ngày có hàng triệu trẻ em phải chịu đựng thảm hoạ của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, tình
trạng vô gia c, dịch bệnh, mù chữ, môi trờng xuống cấp Hơn 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế
giới không có những điều kiện thiết yếu để tồn tại nh thiếu thực phẩm, nớc uống, thiếu thuốc chữa
bệnh ở nhiều nớc đang phát triển, đặc biệt những nớc kém phát triển nhất ở châu Phi, trẻ em đang
phải chịu tác động nặng nề của nợ nớc ngoài, của tình hình kinh tế không giữ đợc mức độ tăng trởng
đều đặn hoặc không có khả năng tăng trởng.
- Mỗi ngày có tới 40.000 trẻ em chết do suy dinh dỡng, bệnh tật, kể cả hội chứng suy giảm
miễn dịch (HIV, AIDS) hoặc do thiếu nớc sạch, thiếu vệ sinh và do tác động của vấn đề ma tuý. Tỉ
lệ tử vong của trẻ em nói chung, trẻ sơ sinh nói riêng ở nhiều nơi trên thế giới hiện nay, theo Tuyên
bố thế giới cao đến mức không thể chấp nhận đợc.
- Việt Nam là nớc thứ hai trên thế giới kí và phê chuẩn Công ớc của Liên hiệp quốc về quyền
trẻ em. Đảng và Nhà nớc ta đã cố gắng rất nhiều trong việc xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo quyền đ-
ợc sống cho trẻ em. Tuy nhiên, ở một số vùng nông thôn và miền núi khó khăn vẫn còn rất nhiều trẻ
em thiếu ăn, suy dinh dỡng, không đợc chăm sóc về mặt y tế.
2. Trẻ em có quyền đợc bảo vệ khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử, bị bỏ rơi, bị bóc lột và xâm
hại. Nhng trong thực tế, cũng theo Tuyên bố thế giới về quyền đợc bảo vệ của trẻ em, hằng ngày có
của em về vấn đề này để làm bài. Đề bài cho phép và khuyến khích suy nghĩ của riêng em. Tuy
nhiên, em nên làm rõ đợc một số ý cơ bản sau.
- 10 -
II. Dàn ý
A. Mở bài
- Bảo vệ, chăm sóc trẻ em là một trong những nhiệm quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia,
dân tộc bởi "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai" (UNESCO).
B. Thân bài
1. Tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em
a) Tơng lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại phụ thuộc vào sự chăm sóc, giáo dục thế hệ
trẻ ; phụ thuộc vào sức khoẻ, trí tuệ, năng lực của thế hệ trẻ. Trong "Th gửi học sinh nhân ngày
khai trờng", Bác Hồ viết: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có
đợc vẻ vang sánh vai các cờng quốc năm châu đợc hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học
tập của các cháu". Trẻ em là ngời sẽ quyết định tơng lai, vị thế của mỗi dân tộc trên trờng quốc tế.
b) Qua vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, chúng ta có thể nhận ra đợc trình độ văn minh và phần
nào bản chất của một xã hội.
2. Sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, chính phủ Việt Nam, chính quyền địa phơng và các tổ
chức xã hội đối với trẻ em hiện nay.
a) Vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em đang đợc cộng đồng quốc tế quan tâm thích đáng :
- Năm 1989, Công ớc Liên hiệp quốc về quyền trẻ em ra đời đã ghi nhận các quyền cơ bản của
trẻ em nh các nhóm quyền sống còn, nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyền phát triển và nhóm quyền
tham gia. Công ớc này thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ em, là
điều kiện cần thiết để trẻ em đợc phát triển đầy đủ trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thơng và
thông cảm.
- Năm 1990, Tuyên bố thế giới đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể và toàn diện nhằm bảo vệ và
chăm sóc trẻ em cùng với một bản kế hoạch hành động khá chi tiết trên từng mặt cơ bản. Tuyên bố
này một lần nữa thể hiện sự quan tâm thích đáng của cộng đồng quốc tế đối với các quyền lợi và t-
ơng lai của trẻ em.
b) Vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em đợc chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Việt Nam là nớc
thứ hai trên thế giới kí và phê chuẩn Công ớc của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em. sau Hội nghị cấp
câu chuyện.
II. Bài làm
Xa có chàng Trơng Sinh, vì chiến tranh loạn lạc bị bắt đi lính, bỏ lại mẹ già và ngời vợ trẻ
ngoan hiền tên là Vũ Nơng đang bụng mang dạ chửa. Mẹ Trơng Sinh vì quá nhớ thơng chàng mà
ốm chết, Vũ Nơng hết lòng chăm sóc rồi lo ma chay chu tất cho bà. Giặc tan, Trơng Sinh trở về.
Vốn tính đa nghi, nghe lời trẻ thơ không suy xét, Trơng Sinh nghi Vũ Nơng không chung thuỷ,
mắng đuổi nàng đi. Vũ Nơng bị oan bèn gieo mình xuống sông tự vẫn. Cho đến một đêm, hai cha
con ngồi bên đèn, đứa con chỉ chiếc bóng trên tờng và nói đó là ngời đêm đêm đã đến với mẹ, Trơng
Sinh mới biết vợ bị oan. Phan Lang là ngời cùng làng với Vũ Nơng, do có ơn với thần rùa Linh Phi,
khi chết đuối đợc Linh Phi cứu mạng. Phan Lang gặp lại Vũ Nơng dới thuỷ cung. Khi Phan Lang trở
về trần gian, Vũ Nơng gửi chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trơng Sinh. Trơng Sinh nghe Phan Lang kể,
thơng nhớ vợ vô cùng, bèn lập đàn giải oan trên bờ Hoàng Giang. Vũ Nơng trở về trên một chiếc
kiệu hoa giữa dòng, đa tạ chàng rồi biến mất.
đề số 13
Em hãy đóng vai Vũ Nơng kể lại cuộc đời mình, có sử dụng yếu tố miêu tả.
Tìm hiểu đề
- Kiểu bài : Kể chuyện có sử dụng yếu tố miêu tả.
- Yêu cầu : Sử dụng yếu tố miêu tả khi miêu tả khung cảnh và miêu tả nội tâm để làm rõ hơn
tâm trạng của Vũ Nơng trớc các sự kiện, biến cố của cuộc đời nàng. Câu chữ có thể khác nhng nội
dung thì phải trung thành tuyệt đối với nguyên bản.
Bài làm
Tôi tên là Vũ Nơng, quê ở Nam Xơng. Mọi ngời trong làng yêu mến thờng khen tôi là nết na,
thuỳ mị, xinh đẹp. Họ cầu mong cho tôi sẽ lấy đợc một ngời chồng xứng đáng và đợc hởng hạnh
phúc. Tôi đã gặp và thành vợ chàng Trơng. Chàng rất mực yêu thơng tôi, nhng lại cũng rất đa nghi.
Biết vậy, tôi cố gắng từ lời ăn tiếng nói cho đến hành động đều giữ đúng khuôn phép nên gia đình
luôn đợc êm ấm.
Cuộc sống của tôi đang êm ềm trôi qua thì chiến tranh xảy ra, chồng tôi phải ghi tên tòng quân.
Buổi tiễn chồng ra biên ải, lòng tôi trĩu nặng lo âu, phiền muộn. Nghĩ chàng phải đi vào nơi gió cát
nghìn trùng xa cách, đói rét, bệnh tật, việc quân khó liệu, thế giặc khôn lờng, lòng tôi thơng chàng
Xuống thiên cung, tôi gặp lại Phan Lang - ngời cùng làng. Nghe Phan Lang kể gia cảnh chồng
con tôi, nhà cửa, vờn tợc hoang vu, phần mộ mẹ cha cỏ gai rợp mắt, lòng tôi xót thơng, ai oán. Đợc
biết chàng Trơng đã hiểu dúng ngọn ngành sự việc và vẫn thơng nhớ tôi, tôi rất vui, bối rối nhng lại
cũng cảm thấy tủi cực bởi mình vẫn cha đợc minh oan. Khi Phan Lang trở lại trần gian, tôi bèn gửi
cho Trơng Sinh một chiếc hoa vàng và nhắn chàng nếu còn nhớ tới chút tình xa nghĩa cũ xin lập
một đàn giải oan ở bến sông, tôi sẽ về. Trơng Sinh liền làm theo. Tôi ngồi trên kiệu hoa về gặp
chàng. Thấy tôi, chàng vội gọi. Nhìn chàng và nghe tiếng chàng gọi, lòng tôi bồi hồi, xót xa khôn
xiết. Nhng giữa chúng tôi đã có một khoảng cách không sao hàn gắn đợc. Tôi cũng đã thề với đức
Linh Phi nên không thể trở về nhân gian đợc nữa. Tôi tạ ơn chàng đã lập đàn giải oan rồi quay lại
thuỷ cung dù trong lòng còn bao lu luyến cõi trần.
đề số 14
Em hãy đóng vai Trơng Sinh kể lại cuộc đời mình, có sử dụng yếu tố miêu tả.
Bài làm
Tôi là Trơng Sinh ở Nam Xơng, cùng quê với Vũ Nơng, sau này là vợ tôi. Câu chuyện thơng
tâm của gia đình tôi đã xảy ra cách đây mấy năm, nhng mỗi lúc nghĩ đến, tôi vẫn thấy dờng nh mới
chỉ xảy ra hôm qua.
Vũ Nơng là một cô gái nết na, thuỳ mị và xinh đẹp. Khuôn mặt nàng thanh tú, đôi mắt đen dịu
hiền, mái tóc dày óng mợt. Nàng đẹp một vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm và phúc hậu. Tôi đem lòng
yêu mến nàng nên đã xin mẹ cới nàng về làm vợ. Nàng là một ngời vợ hiểu lễ giáo, phép tắc, nói
năng nhỏ nhẹ, một lòng thơng chồng, phụng dỡng mẹ già nên dù tôi có tính đa nghi nhng gia đình
tôi luôn đợc êm ấm.
Cuộc sống của chúng tôi đang êm ềm trôi qua thì chiến tranh xảy ra, tôi phải ghi tên tòng quân.
Buổi tiễn đa, nàng buồn rời rợi, lòng trĩu nặng lo âu, phiền muộn. Nàng thơng tôi phải đi vào nơi gió
cát nghìn trùng xa cách, đói rét, bệnh tật. Nàng lo cho tôi rồi đây giáp mặt với giặc dữ, cận kề cái
chết. Nàng không mong tôi lập công đợc đeo ấn phong hầu mà chỉ mong tôi bình an trở về. Tay
nàng nắm chặt áo tôi chẳng rời, mắt nàng rng rng khiến tôi cầm lòng không đợc. Giờ phút chia tay
đã đến. Tôi dứt áo ra đi, nàng thẫn thờ nhìn theo, mắt nhoà lệ. Tôi vừa đi vừa ngoái lại, bóng dáng
nhỏ bé của ngời vợ hiền dần khuất sau ngàn dâu xanh thẳm. Lòng tôi nhớ thơng, chua xót không
cùng.
trong cung điện của Linh Phi.
Hai cha con tôi sống những ngày tháng cô đơn, buồn bã đằng đẵng. Một đêm, phòng không
vắng vẻ, tôi ngồi dới ngọn đèn khuya, bóng in trên vách. Bé Đản thấy thế liền chỉ tay lên chiếc bóng
và nói : "Cha Đản lại đến kia kìa!". Tôi ngỡ ngàng rồi hiểu ra. Hỡi ơi, tôi đã hại chết Vũ N ơng rồi!
Tôi đau đớn, ân hận, xót xa, day dứt vô hạn. Bây giờ tôi mới hiểu vợ tôi bị oan, rằng nàng đã chết
trong nỗi oan ức và tuyệt vọng. Nhng việc đã lỡ rồi, tôi chẳng biết làm gì hơn là đau khổ, buồn th-
ơng, day dứt.
Một hôm, Phan Lang - ngời cùng làng tôi đến kể cho tôi nghe là đã gặp Vũ Nơng dới thuỷ
cung. Ban đầu tôi không tin, nhng khi chàng đa chiếc hoa vàng cho tôi, tôi sửng sốt vì đó chính là
vật vợ tôi đem theo lúc ra đi. Phan Lang nói, Vũ Nơng vẫn cảm thấy tủi cực vì cha đợc minh oan,
vẫn thơng nhớ chồng con, đau xót ứa nớc mắt khi nghe kể cảnh buồn tủi của cha con tôi, cảnh nhà
cửa, vờn tợc hoang vu, phần mộ mẹ cha cỏ gai rợp mắt Đợc biết nàng vẫn thơng nhớ chồng con,
tôi rất vui. Lòng tôi chứa chan hi vọng đợc gặp lại nàng. Tôi làm theo lời nhắn của nàng, lập một
đàn giải oan ở bến sông, những mong nàng sẽ tha thứ cho lỗi lầm của tôi mà trở về, để tôi có thể bù
đắp lại những đau khổ, thiệt thòi mà tôi đã gây ra cho nàng. Quả nhiên, Vũ Nơng đã trở về. Giữa
dòng Hoàng Giang mênh mông sóng nớc bỗng hiện lên một chiếc kiệu hoa vàng lộng lẫy, rực rỡ.
Nàng ngồi trên chiếc kiệu hoa ấy, mắt phợng mày ngài, dáng vẻ thanh thoát, cử chỉ khoan thai nh
một nàng tiên. Theo sau nàng, hơn 50 chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lung linh trong
ánh nến thoáng ẩn, thoáng hiện. Cả dòng sông nh một lâu đài nguy nga tráng lệ mà nàng là ngời chủ
lâu đài đó. Tôi vội gọi, khẩn thiết, chới với. Nàng nghe tiếng tôi nhng cứ đứng giữa dòng, đôi mắt
buồn thăm thẳm. Rồi nàng nói vọng vào, cảm tạ tình tôi, nhng đã hứa với Linh Phi nên không trở về
trần gian đợc nữa. Tôi đau khổ quá mức, nhng còn biết làm sao đợc. Tuy vẫn còn thơng nhớ nhau
nhng cốc nớc đầy một khi đã đổ xuống đất thì dù có cố gắng thế nào cũng không thể vớt lại cho đầy
đợc. Giữa chúng tôi đã có những khoảng cách không thể nào bù đắp.
Còn cha hết cay đắng, ngậm ngùi thì khói sơng đã phủ, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần rồi
biến mất.
Câu chuyện của tôi, những sai lầm của tôi là có thật. Tôi đã đánh mất hạnh phúc của mình. Kể
ra câu chuyện đau lòng này, tôi chỉ muốn mọi ngời đừng xử sự nông nổi, cả giận mất khôn nh tôi.
Hãy tin yêu con ngời, thực lòng yêu thơng ngời thân để gia đình không rơi vào những bi kịch đau
đớn.
kia nữa".
- Cả đoạn này ý nói tình vợ chồng lâu nay gắn bó giữa Trơng Sinh và Vũ Nơng giờ đã tan vỡ,
hạnh phúc đã tiêu tan. Nhng Vũ Nơng không nói trực tiếp ý đó mà mợn các hình ảnh mang tính biểu
tợng để thể hiện sự việc và tâm trạng của mình. Trâm gãy bình tan thể hiện sự tan vỡ; mây tạnh ma
tan gợi tả tình cảm vợ chồng nguội lạnh; sen rũ trong ao liễu tàn trớc gió gợi tả sự tàn lụi của tình
yêu, hạnh phúc; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn gợi tả những cố gắng níu
giữ hạnh phúc trong vô vọng Tất cả những hình ảnh đó đã diễn tả một cách ấn tợng và xúc động
tâm trạng của Vũ Nơng. Đó là nỗi đau đớn, luyến tiếc cuộc sống gia đình đầm ấm hạnh phúc, là nỗi
thất vọng đến tuyệt vọng trớc những oan trái của cuộc đời. Tuy là thủ pháp ớc lệ của văn học trung
đại, nhng do tài lựa chọn khéo léo, hợp tình hợp cảnh nên các hình ảnh miêu tả trên vẫn có tác dụng
gợi hình, gợi cảm cao. Nếu không sử dụng các yếu tố miêu tả nh vậy, tâm trạng của Vũ Nơng không
đợc khắc hoạ sâu sắc, câu chuyện sẽ vì thế mà kém hẳn phần hấp dẫn.
đề số 16
Có ý kiến cho rằng, nguyên nhân cái chết của Vũ Nơng là do Trơng Sinh cả ghen. ý kiến khác
lại khẳng định, đó là do chiến tranh phong kiến Suy nghĩ của em về nguyên nhân cái chết của Vũ
Nơng?
I. Tìm hiểu đề
- Kiểu bài : Nghị luận văn học.
- Yêu cầu : Em phải nắm vững nội dung, giá trị của tác phẩm, vận dụng những hiểu biết đó để lí
giải nguyên nhân cái chết của Vũ Nơng một cách thoả đáng. Trong quá trình bộc lộ suy nghĩ, cách lí
giải của mình phải kết hợp bình luận, đối chiếu với hai cách lí giải đã nêu ở đầu bài.
II. Dàn ý
A. Mở bài
- Vũ Nơng, nhân vật chính trong "Chuyện ngời con gái Nam Xơng" là một ngời phụ nữ nhan
sắc, đức hạnh nhng cuộc đời lại chịu nhiều nỗi oan khiên, ngang trái.
- Xung quanh nguyên nhân cái chết của Vũ Nơng có khá nhiều ý kiến không thống nhất. Bài
viết muốn nêu lên suy nghĩ của riêng em về nguyên nhân cái chết oan khuất của ngời phụ nữ này.
B. Thân bài
1. Tóm lợc những sự kiện chính của truyện ; phân tích, khái quát những nét chính về nhân vật
Vũ Nơng:
C. Kết bài
- Cái chết của Vũ Nơng gieo vào lòng ngời đọc nỗi thơng xót những ngời phụ nữ bất hạnh trong
xã hội cũ.
- Trong xã hội ta hôm nay, tuy phụ nữ đợc pháp luật bảo vệ, Đảng và Nhà nớc tạo diều kiện, nh-
ng vẫn là giới chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh. Đó đây vẫn còn cảnh những ngời vợ bị chồng tra tấn,
đánh đập tàn nhẫn ; những cô gái bị mua bán, dụ dỗ vào con đờng làm ăn bất lơng; những phụ nữ bị
coi thờng, rẻ rúng vì t tởng trọng nam khinh nữ Bởi vậy, đấu tranh vì sự bình đẳng nam nữ, sự phát
triển của phụ nữ vẫn là cuộc cách mạng lớn của hôm nay. Yêu thơng và giúp đỡ những phụ nữ bất
hạnh là lơng tâm, trách nhiệm của tất cả chúng ta.
đề số 17
Em hãy tóm tắt văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh trong 10 dòng.
Bài làm
Chúa Trịnh (Trịnh Sâm) vốn ăn chơi xa xỉ đã cho xây dựng nhiều cung điện, đình đài làm hao
tốn rất nhiều tiền của.
Mỗi tháng ba bốn lần, Trịnh Sâm ra cung Thuỵ Liên bên bờ Hồ Tây để đi chơi ngắm cảnh, binh
lính, quan lại theo hầu đông đúc.
Chúa đi đến đâu, mọi thứ chim quý, thú lạ cho đến những cây cổ thụ to lớn đều vơ vét sạch,
sai quân lính khiêng về phủ bày biện.
Bọn hoạn quan nhờ gió bẻ măng, nửa đêm thờng lẻn vào nhà dân ăn trộm cây hoa, chậu cảnh
rồi buộc họ tội "đem giấu vật cung phụng" dậm doạ lấy tiền, khiến ngời dân phải bỏ tiền của kêu
xin, hoặc phá tan vờn hoa, cây cảnh để khỏi gặp tai hoạ.
đề số 18
Một đêm, bọn hoạn quan trong phủ chúa Trịnh đã lẻn vào một nhà dân ăn trộm cây cảnh để
doạ nạt kiếm tiền. Dựa vào văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, em hãy đóng vai là một tên
trong bọn chúng kể lại cảnh đó (có sử dụng yếu tố tả cảnh và miêu tả nội tâm).
- 16 -
Tìm hiểu đề
- Kiểu đề : Kể chuyện kết hợp với miêu tả.
- Yêu cầu : Dựa vào các tình tiết chính trong văn bản "Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh" kết
hợp với tởng tợng, hình dung để miêu tả cụ thể hơn các khung cảnh ăn trộm, tâm trạng của bọn hoạn
kẻ nào đó đã lẻn vào ăn trộm
Ta quắc mắt quát :
- Láo ! Chúng mày can tội đem giấu vật cung phụng, làm trái lệnh Chúa, tội đáng chết. Quân
bay, giải cả nhà chúng nó về phủ cho ta !
Lão thầy đồ tái mặt, đám trẻ la khóc om sòm, vợ lão ta run lẩy bẩy, quỳ mọp xuống đất cầu
xin :
- Bẩm, xin quan thơng chúng con. Quan là đèn trời soi xét, xin quan tìm cách cứu giúp chúng
con khỏi tai hoạ
Ta khoái trá nhng cố nén cời và nói :
- Thôi đợc, nghĩ thơng gia cảnh nhà chúng mày cơ khổ, bần hàn, ta sẽ kêu xin giúp cho. Có bao
nhiêu tiền trong nhà, chúng mày phải đem hết ra đây.
Con mẹ run rẩy, lật bật đi mở tráp. Tìm mãi, tìm mãi chỉ đợc mấy lạng bạc lẻ. Không bõ. Ta cáu
tiết liền sai sục sạo khắp nhà xem có gì đáng giá không. Bọn lính khám xét hồi lâu, thu đợc thêm
một chiếc l hơng bằng đồng, một đôi đèn bạc trên bàn thờ. Món đồ cũng kha khá tiền đây ! Ta hài
lòng sai đem đi. Trớc khi đi, bọn lính còn tranh thủ vơ vét tất cả những gì có thể dùng đợc trong
tiếng khóc van ai oán, tức tởi của vợ con thầy đồ.
Trên đờng về phủ, ta hớn hở, chắc mẩm mấy giò phong lan kia đem ra chợ bán cũng kiếm chác
đợc ít nhiều. Tạ ơn Chúa Trịnh đã thơng lũ hoạn quan chúng con nghèo khổ mà tạo cơ hội cho
chúng con làm ăn. Cầu thần linh phù hộ cho ngài và cho chúng con đêm mai lại hành động trót lọt,
làm ăn thuận lợi.
- 17 -
đề số 19
Em thử tởng tợng mình là Trịnh Sâm tự kể lại ý thích, thói quen ăn chơi xa xỉ của mình, có sử
dụng yếu tố miêu tả.
Bài làm
Ta, Trịnh Vơng, thông minh sáng suốt, từng một tay dẹp yên các phe phái đối lập, lập lại trật tự
kỉ cơng xã hội. Nay, binh đao đã tắt, nớc nhà vô sự, không còn việc gì phải lo lắng, ta chỉ thích ngao
du sơn thuỷ,uống rợu, ngâm thơ cho thoả chí. Ta đã cho xây dựng rất nhiều cung điện, đền đài. Hiện
nay, công việc xây dựng vẫn cứ liên tục, liên tục. Số lợng ngày một nhiều, không lo thiếu chỗ ăn
chơi. Công việc xây dựng tiêu tốn khá nhiều tiền của, nhng không hề gì, miễn là ta thích.
cuộc duyệt binh, đích thân an ủi và kêu gọi binh sĩ đoàn kết đánh đuổi giặc ngoại xâm.
Quang Trung mở tiệc khao quân, chia quân thành 5 đạo, thân hành cầm quân ra trận, tối 30 tết
lên đờng, hẹn ngày mồng 7 tết sẽ mở tiệc ăn mừng thắng lợi ở kinh thành Thăng Long.
Quân Tây Sơn ra đến sông Gián, quân giặc trấn thủ ở đó tan vỡ, toán quân Thanh đi do thám bị
bắt sống hết. Nửa đêm mồng 3 tết Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung tới Hà Hồi, Thợng Phúc, lặng lẽ
vây kín thành. Quân giặc bấy giờ mới biết, rụng rời sợ hãi xin hàng.
Mờ sáng ngày mồng 5 tết, quân Tây Sơn dàn trận "chữ nhất" tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân
Thanh chống cự không nổi, bỏ chạy tán loạn, giẫm đạp lên nhau mà chết. Tớng giặc là Sầm Nghi
Đống phải thắt cổ tự tử. Phía đông thành Thăng Long, vua Quang Trung nghi binh dồn giặc xuống
đầm Mực, cho voi giày đạp khiến quân giặc kinh hồn bạt vía, chết nh ngả rạ. Giữa tra hôm ấy, quân
Tây Sơn tới thành Thăng Long. Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đang vui yến tiệc, nghe tin cấp báo, sợ mất
mật. Tớng sĩ chen chúc, giẫm đạp lên nhau chạy trốn về nớc. Vua Lê Chiêu Thống cũng hốt hoảng
chạy trốn sang Trung Quốc. Quân Tây Sơn toàn thắng trớc sự đại bại của quân Thanh.
- 18 -
đề số 21
Hình ảnh ngời anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ qua văn bản Hoàng Lê nhất thống
chí, Hồi thứ mời bốn.
I. Tìm hiểu đề
- Kiểu bài : Nghị luận văn học.
- Yêu cầu : Phân tích, miêu tả hình tợng ngời anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua đoạn trích hồi
thứ mời bốn.
II. Dàn ý
A. Mở bài
- Trong lịch sử các triều đại Việt Nam, Quang Trung là một vị vua văn võ toàn tài, có công lao
lớn trong sự nghiệp đánh đuổi giặc ngoại xâm.
- Nhân vật lịch sử đó đã đi vào văn chơng nh một hình ảnh đẹp. Đoạn trích Hồi thứ mời bốn,
Hoàng Lê nhất thống chí đã làm toát lên vẻ đẹp hào hùng của ngời anh hùng áo vải trong chiến công
lẫy lừng đại phá quân Thanh.
B. Thân bài
thân chinh chinh cỡi voi đi đốc thúc, xông lên phía trớc Đối lập với Lê Chiêu Thống đê hèn, một
vị hoàng đế quyết hi sinh tính mạng để giành lại vận mệnh dân tộc là một hình ảnh cao đẹp về sự
quên mình vì nghĩa lớn.
b) Hình ảnh Quang Trung cỡi voi xông pha giữa trận mạc, áo bào sạm khói súng, thống soái ba
quân hiệp đồng tiến đánh tứ phía thành Thăng Long khiến quân giặc kinh hồn bạt vía bỏ chạy tháo
mạng là một hình ảnh đầy chất thơ.
- 19 -
c) Khung cảnh chiến trờng với khí thế thừa thắng tiến công rộng khắp của quân Tây Sơn càng
tôn lên vẻ đẹp của vị tổng chỉ huy tài giỏi, anh hùng.
C. Kết bài
- Vua Quang Trung trong đoạn trích là hình ảnh ngời sáng của một vị anh hùng, tiêu biểu cho
sức mạnh quật cờng của dân tộc Việt Nam.
- Hình tợng vua Quang Trung để lại trong lòng chúng ta niềm tự hào về truyền thống đấu tranh
bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân ta, cho ta thêm yêu thêm quý và biết ơn những ngời đã có
công lớn với đất nớc.
đề số 22
Sau khi học xong đoạn trích Hồi thứ mời bốn, Hoàng Lê nhất thống chí, em có cảm nghĩ gì về
nhân vật hoàng đế Quang Trung.
Tìm hiểu đề
- Kiểu đề : Nghị luận kết hợp với bộc lộ cảm xúc.
- Yêu cầu : Nêu đợc những cảm xúc và suy nghĩ cuả em về tính cách, phẩm chất của nhân vật
Quang Trung và nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả.
- Để thực hiện đợc yêu cầu trên cần phải :
1. Xác định các đặc điểm của nhân vật Quang Trung.
2. Nêu, phát biểu cảm nghĩ qua từng đặc điểm
3. Nêu nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả.
(Xem thêm dàn ý đề số 21)
đề số 23
Dựa vào văn bản Hoàng Lê nhất thống chí, Hồi thứ mời bốn, kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả nội
mặc áo giáp bỏ chạy. Tớng sĩ chen chúc, giẫm đạp lên nhau đến nỗi các cây cầu không chịu nổi đều
bị đứt sập. Sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn. Lê Chiêu Thống cũng hốt hoảng chạy trốn sang Trung
Quốc.
Ta vô cùng sung sớng vì đã trả đợc món nợ nớc, rửa sạch vết nhơ nô lệ. Ta đờng hoàng dẫn
quân vào kinh thành Thăng Long, mở tiệc khao quân mừng thắng lợi. Hôm ấy vẫn đang ngày mồng
5 Tết Kỉ Dậu.
đề số 24
Từ văn bản Chị em Thuý Kiều, em hãy kể chuyện tài sắc chị em Thuý Kiều bằng lời của mình.
Bài làm
Vơng Ông và Vơng Bà sinh đợc hai cô con gái đầu lòng vô cùng xinh đẹp. Cô chị tên là Thuý
Kiều, cô em tên là Thuý Vân. Cả hai nàng vóc dáng mảnh mai, thanh tú nh cây hoa mai; tinh thần
trắng trong, tinh khiết nh tuyết. Mỗi ngời đẹp một vẻ, không ai giống ai. Vẻ đẹp của họ đạt đến mức
lí tởng, hoàn mĩ, trọn vẹn mời phân vẹn mời, tởng nh không còn gì có thể đẹp hơn.
Trớc hết nói về Thuý Vân. Thuý Vân đẹp một vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang, quý phái hơn ngời.
Khuôn mặt nàng đầy đặn, ngây thơ, trong sáng nh trăng rằm ; nét lông mày cong, đậm; miệng cời t-
ơi nh hoa nở ; tiếng nói trong trẻo nh ngọc rung ; mái tóc đen óng, mợt mà hơn mây ; làn da trắng
mịn màng hơn tuyết. Nét nào ở nàng cũng hoàn hảo hơn những vẻ đẹp vốn có trong trời đất.
Thuý Vân đã đẹp thế, nhng Thuý Kiều còn đẹp hơn. Cả tài và sắc Thuý Kiều đều nổi bật hơn
em. Thuý Kiều đẹp "sắc sảo mặn mà". Một vẻ đẹp nổi bật, có sức hấp dẫn, cuốn hút mạnh mẽ ngời
khác. Đôi mắt nàng trong biếc, xanh thăm thẳm nh làn nớc mùa thu dợn sóng. Đôi lông mày thanh
tú càng tôn thêm vẻ đẹp sâu thẳm của đôi mắt. Đôi mắt ấy thể hiện cái sắc sảo của trí tuệ, sự mặn
mà của tâm hồn nàng. Vẻ đẹp của nàng khiến hoa phải "ghen" ghét vì thua sắc thắm, liễu phải đố kị
vì kém xanh; khiến ngời ta ngẩn ngơ, nghiêng nớc nghiêng thành.
Không chỉ đẹp, Kiều còn rất có tài. Vốn sinh ra, Thuý Kiều đã là một cô gái tài giỏi thông
minh. Theo quan niệm thẩm mỹ phong kiến, ngời tài là ngời hội đủ cả bốn khả năng : cầm, kỳ, thi,
hoạ. Thuý Kiều là ngời tài theo đúng nghĩa đó. Nàng biết làm thơ, vẽ tranh, biết ca ngâm, thành thạo
âm nhạc và đặc biệt ở lĩnh vực nào cũng xuất sắc hơn ngời. Nàng thuộc lòng các cung bậc âm thanh
ngón đàn điêu luyện. Tự tay nàng đã soạn thảo một bản nhạc có tên là "Bạc mệnh" nói về ngời phận
mỏng, xấu số khiến ai nghe cũng phải sầu não, buồn thơng rơi lệ.
tựa trăng rằm ; lông mày cong, đậm ; miệng cời tơi nh hoa nở ; tiếng nói trong trẻo nh ngọc rung;
mái tóc đen óng, mợt mà hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết. Nét nào ở Thuý Vân cũng
hoàn hảo hơn những vẻ đẹp vốn có trong thiên nhiên, trời đất. Nhng điều quan trọng là, vẻ đẹp ấy
luôn tạo đợc sự hoà hợp, êm ấm với xung quanh, báo trớc một cuộc đời bằng phẳng, suôn sẻ. Chỉ với
4 câu thơ, Nguyễn Du đã vẽ nên một chân dung Thuý Vân với những dự cảm về số phận nhân vật.
Thuý Vân đã đẹp, nhng Thuý Kiều còn đẹp hơn. Để thể hiện vẻ đẹp, tài năng của nàng Kiều, tác
giả đã dùng đến 12 câu thơ :
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nớc, nghiêng thành
ấn tợng chung về bức chân dung này là vẻ đẹp "sắc sảo mặn mà" - một vẻ đẹp nổi bật, có sức
hấp dẫn, cuốn hút mạnh mẽ. Nếu miêu tả Thuý Vân, Nguyễn Du đã dừng ở nhiều chi tiết trên khuôn
mặt nàng, thì ngợc lại, khi tả Thuý Kiều tác giả chỉ tập trung vào đôi mắt. Đôi mắt là phần gợi cảm
nhất, phần hồn của khuôn mặt. Đôi mắt thể hiện sự tinh anh của trí tuệ. Đôi mắt Kiều đợc ví nh làn
nớc mùa thu biếc xanh thăm thẳm. Nét lông mày thanh tú càng tôn thêm vẻ đẹp sâu thẳm của đôi
mắt. Nguyễn Du đã thực sự công phu, tinh vi trong việc đặc tả đôi mắt - nơi thể hiện cái sắc sảo của
trí tuệ, cái mặn mà của tâm hồn Thuý Kiều. Bằng sự lựa chọn đó, thi hào đã làm nổi bật chân dung
nhân vật mà ông trân trọng và yêu thơng nhất.
Vẻ đẹp của Thuý Vân khiến mây "thua", tuyết "nhờng", nhng vẻ đẹp của Kiều thì khiến hoa
phải "ghen", liễu phải "hờn". Tuy là ớc lệ, nhng những hình ảnh trên cũng đủ gợi cho ngời đọc ấn t-
ợng mạnh mẽ về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế.
Không chỉ đẹp, Kiều còn rất tài :
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thơng, làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trơng
Khúc nhà tay lựa nên chơng
trang" trong sáng hơn Thuý Vân, đẹp và tài năng hơn Thuý Kiều?
đề số 26
Có ý kiến cho rằng, Cảnh ngày xuân là một trong những bức tranh đẹp vào loại bậc nhất
Truyện Kiều. Em có đồng ý với ý kiến này không? Cảm nghĩ của em sau khi đọc đoạn trích.
Tìm hiểu đề
- Kiểu đề : Nghị luận kết hợp với miêu tả, bộc lộ cảm xúc.
-Yêu cầu :
. Đánh giá chung vẻ đẹp, giá trị của bức tranh ngày xuân.
. Phân tích đoạn trích, qua đó bộc lộ cảm xúc, nhận xét của riêng em về giá trị nội dung, nghệ
thuật của đoạn trích.
Bài làm
Trong thơ xa, thiên nhiên không chỉ là trung tâm của cái đẹp mà còn là nơi gửi gắm tâm sự, t t-
ởng, tình cảm của thi nhân. Với Truyện Kiều bất hủ, thi hào Nguyễn Du đã giành đến 222 câu miêu
tả thiên nhiên. Ai đã từng yêu Truyện Kiều không thể không nhớ, không yêu bộ tứ bình xuân, hạ,
thu, đông bằng thơ tuyệt đẹp đợc đan cài trong tác phẩm :
Mùa xuân :
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Mùa hạ :
Dới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tờng lửa lựu lập loè đâm bông
Mùa thu :
Long lanh đáy nớc in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
Mùa đông :
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân.
Bây giờ chúng ta thử đi vào Cảnh ngày xuân, nơi diễn ra cuộc du xuân của ba chị em Thuý
Kiều. Đoạn trích mở đầu bằng khung cảnh rất đặc trng của mùa xuân : Bầu trời rực rỡ ánh sáng; trên
cao, từng đàn chim én bay liệng nhịp nhàng. Hình ảnh "con én đa thoi" vừa gợi sự trôi chảy của thời
Ngày dần tàn. Mặt trời đã chênh chếch phía tây. Cùng với hoàng hôn của cảnh vật, lòng ngời d-
ờng nh cũng đang chìm trong một cảm xúc, một trạng thái bâng khuâng khó tả :
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bớc dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nớc uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Trong văn chơng, hình ảnh hoàng hôn, chiều tà thờng gợi lên cảm giác buồn thơng, tàn tạ, thê l-
ơng. Cuộc du xuân thởng cảnh vừa náo nức, tng bừng là thế giờ đã lặng lẽ chìm vào cô tịch. Tâm
trạng con ngời không khỏi lu luyến, bâng khuâng, hụt hẫng. Gam màu tơi sáng rực rỡ của bức tranh
mùa xuân đến đây đợc thay bằng màu nhạt nhoà của nắng chiều bảng lảng. Cảnh vật vẫn đẹp, vẫn
nên thơ với "dòng nớc uốn quanh", "nhịp cầu nho nhỏ" nhng đã thiếu vắng đi rất nhiều hơi thở của
con ngời. Bớc chân thơ thẩn trên dặm đờng về của chị em Kiều nh có cái gì đó giăng mắc, khó nói.
Các từ láy "tà tà", "thanh thanh", "nao nao" không chỉ gợi tả cảnh vật, gợi cảm giác nuối tiếc về
ngày vui trôi mau mà còn linh cảm một điều gì đó không mấy tốt lành sắp xảy ra trong tâm hồn đầy
nhạy cảm của Thuý Kiều.
Có thể thấy, phong cảnh thiên nhiên trong Truyện Kiều nói chung và "Cảnh ngày xuân" nói
riêng có những điểm khác với "thiên nhiên truyền thống" trong thơ ca á Đông xa. Cảnh ở đây
không tĩnh tại mà thờng đợc mở ra theo không gian, thời gian, theo bớc chân, cái nhìn, cảm xúc của
con ngời. Do vậy, cảnh ấy "thật" hơn, có hồn hơn.
Nh vậy, có thể nói, "Cảnh ngày xuân" là một trong những bức tranh thiên nhiên đẹp nhất
"Truyện Kiều". Bức hoạ thiên tài gồm hai mảng màu vừa tơng phản vừa hài hoà. Sáng xuân tinh khôi
náo nức và chiều tà bảng lảng gợi những liên tởng xa xôi về số phận cuộc đời nhân vật chính - Thuý
Kiều. Cảnh sắc ấy gắn với tháng ngày thanh xuân trong sáng, êm đềm của nàng. Cuộc du xuân là sự
kiện mở màn cho cuộc đời thiếu nữ phong lu và xuân sắc của Thuý Kiều. Cũng chính nơi này, nàng
sẽ gặp định mệnh cuộc đời và tình yêu buổi ban đầu đầy mê say, để rồi sau đó không bao giờ còn
gặp lại phút thanh thiên dạo gót vô t thời thiếu nữ.
Đoạn thơ để lại trong em bao niềm vui xen lẫn nỗi tiếc nuối xót xa. Một nàng Kiều tài hoa, xinh
đẹp và đáng yêu nh thế, một khởi đầu cuộc đời đẹp đẽ, êm đềm nh thế lại kết thúc bằng một chuỗi
những đau khổ đoạn trờng suốt mời lăm năm lu lạc. Trong lòng em vọng lên một câu hỏi lớn : Làm
vời", "khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang", phúc hậu của nàng Vân. Còn đây đúng là vẻ đẹp "sắc
sảo mặn mà" nghiêng nớc nghiêng thành với "làn thu thuỷ, nét xuân sơn" chỉ có ở nàng Kiều. Quả
thật, "mỗi ngời một vẻ, mời phân vẹn mời". Họ thớt tha, yêu kiều, e lệ trong những bộ xiêm y lộng
lẫy. Họ rực rỡ trong ánh nắng xuân, nổi bật giữa dòng ngời du xuân trẩy hội đông đúc. Khi họ xuất
hiện giữa lễ hội, thiên nhiên dờng nh càng đẹp hơn, bầu trời nh trong xanh hơn, chim én thêm rộn
ràng tung cánh và cỏ cây hoa lá cũng nh muốn rung rinh, toả hơng theo gót hai nàng. Họ đi đến đâu,
những ánh mắt ngỡng mộ, yêu mến đổ dồn theo đến đấy. Tôi bèn ráng hết sức, rẽ đám đông tiến lại
gần chị em Thuý Kiều và cất tiếng chào :
- Em chào hai chị, chào anh. Hai chị và anh đi chơi có vui không ạ ?
Ba ngời nhìn tôi, mỉm cời thân thiện rồi nhẹ nhàng gật đầu :
- Chào em. Vui lắm em ạ Chúc em đi chơi vui nhé
Tôi cha kịp đáp lại, dòng ngời đã đẩy tôi ra xa. Tôi đành tìm một nơi thoáng đãng đứng dõi mắt
theo hai nàng. Mãi ngắm họ, tôi quên mất thời gian trôi qua, trời về chiều từ lúc nào không biết. Mặt
trời ngả bóng về phía tây. Khắp không gian đang dần khoác lên mình tấm áo màu hoàng hôn vàng
êm dịu. Rồi không khí nhộn nhịp, tng bừng của buổi du xuân tha vắng dần. Ngày vui đi qua trả lại
sự yên lành và chút lặng lẽ vốn có nơi mộ địa.
May sao trên đờng trở về tôi lại gặp chị em Thuý Kiều. Tôi định chạy tới tiếp tục chuyện trò
với họ, nhng có một cái gì đó ngăn tôi lại. Hai nàng Kiều dờng nh cha muốn về. Họ bâng khuâng b-
ớc, vừa đi vừa tha thẩn ngắm cảnh lúc chiều buông. Hoàng hôn thờng gợi trong lòng ta cảm giác
buồn thơng, tàn tạ. Cuộc du xuân thởng cảnh vừa náo nức, tng bừng là thế, giờ đã lặng lẽ chìm vào
cô tịch. Tâm trạng hai nàng Kiều chắc không khỏi lu luyến, hụt hẫng. Dù cảnh vẫn đẹp, vẫn nên thơ
với "dòng nớc uốn quanh", "nhịp cầu nho nhỏ" nhng có cái gì đó đã mất, đã thiếu vắng. Bớc chân
thơ thẩn trên dặm đờng về của hai nàng, đặc biệt trong cái dáng đăm chiêu thẫn thờ của Thuý Kiều
nh ẩn chứa nỗi bồi hồi khôn tả. Dờng nh nàng đang mong ngày vui đừng qua nhanh, những điều tốt
lành luôn ở lại. Nhng số phận Kiều thì tôi đã biết rồi.
Lòng tôi bỗng nao nao thơng cảm. Tôi không thể hiểu đợc vì sao một ngời con gái tài sắc vẹn
toàn bậc nhất nh Thuý Kiều lại phải chịu định mệnh cay đắng oan khiên vào loại bậc nhất nh vậỵ ?
Liệu lúc này đây, nàng đã có linh cảm gì về cuộc đời hoa trôi, bèo dạt tan tác giữa dòng sau này hay
cha Không, tôi phải nói cho nàng biết, nhất định tôi phải nói cho nàng biết trớc để nàng chống trả
- 25 -