Tình hình phát triển một số ngành Công nghiệp năm 2009 - Pdf 17

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP
NĂM 2009
1. Ngành Điện
1 Trong những tháng đầu năm, do ảnh hưởng của suy giảm tốc độ tăng trưởng
kinh tế thế giới nên kinh tế Việt nam cũng có tốc độ phát triển chậm hơn (GDP 6 tháng
đầu năm chỉ đạt 3,9% so với 6,74% cùng kỳ năm 2008). Sản xuất công nghiệp nhất là
thép và xi măng giảm làm cho nhu cầu phụ tải điện không còn tăng mạnh như năm
trước. Do năm 2008 đã có thêm nhiều nguồn điện mới được huy động đưa vào vận
hành, cùng với thời tiết thuận lợi mưa sớm nên các nhà máy thuỷ điện được huy động
nhiều hơn, không còn tình trạng căng thẳng nguồn điện như mùa khô năm 2008. Việc
cung ứng điện cho nhu cầu phát triển nền kinh tế cũng như xã hội của cả nước trong
năm 2009 thuận lợi hơn, chưa phải thực hiện tiết giảm điện như các năm trước. Trong
những ngày tháng 6/2009 khi nắng nóng trên 36
o
C, khu vực TP Hà Nội đã xảy ra quá tải
cục bộ tại nhiều trạm biến áp, đường dây trung thế, hạ thế, aptomat (tổng, nhánh) tại các
trạm phân phối, thời gian cấp điện lại còn chậm. Nguyên nhân chính là nhiều công trình
điện đang được đầu tư để đáp ứng nhu cầu điện của thành phố bị chậm tiến độ so với
quy hoạch.
2 Tổn thất điện năng vào những tháng đầu năm vẫn ở mức cao, gần 10%, tăng hơn
so với năm 2009 do mất cân đối nguồn điện ở các miền nên phải vận hành đường dây
500 kV Bắc - Nam với công suất cao và đầy tải. Những tháng cuối năm phát triển công
nghiệp đã được phục hồi dần và nhu cầu phụ tải điện cũng đã bắt đầu tăng trở lại. Nếu
quý I điện tăng trưởng là 3,79% (trong đó điện cấp cho công nghiệp và xây dựng giảm
1,56%, cấp cho quản lý và tiêu dùng dân cư tăng 8,55%); đến quý II đã tăng 11,3% (cấp
cho công nghiệp và xây dựng tăng 9,46%, cho quản lý và tiêu dùng dân cư tăng 14,1%)
và sang quý III đã tăng lên 17,3% (cấp cho công nghiệp và xây dựng tăng 16,3%, cho
quản lý và tiêu dùng dân cư tăng 16,3%). Ước cả năm 2009 điện thương phẩm đạt 74,3
tỷ kWh, tăng 12,7% so với năm 2008.
2. Ngành Dầu khí
Giá dầu thô thế giới trong năm 2009 tăng dần qua các tháng: nếu như tháng 4 năm

cửa. Đạt được kết quả này chủ yếu là do hàng loạt các biện pháp kích cầu của Chính phủ
như các thay đổi về chính sách tài chính, tiền tệ, chính sách ưu tiên ngoại tệ để nhập
khẩu phôi thép, thép phế liệu… và do các doanh nghiệp trong ngành không ngừng cải
tiến chất lượng, chú trọng vào việc khẳng định thương hiệu như thép Thái Nguyên
Tisco, thép Hoà Phát, thép Miền Nam… cùng nhau chiếm lĩnh thị trường trong nước.
Cuối năm, tiêu thụ thép gặp khó khăn hơn do phải chịu sự cạnh tranh từ thép
ngoại nhập giá rẻ và ảnh hưởng của mùa mưa bão. Lượng thép ngoại nhập từ Trung
Quốc và các nước ASEAN tăng mạnh do được hưởng thuế suất nhập khẩu 0%
1
. Trong
khi đó, khả năng cạnh tranh của thép nội chưa cao, thị trường xuất khẩu còn nhỏ hẹp nên
sản lượng xuất khẩu còn hạn chế
2
. Do vậy, sản lượng thép cả năm đạt khoảng 6,32 triệu
tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong năm 2009 năng lực sản xuất của ngành đã tăng thêm khoảng 2,2 triệu tấn
thép và 1,5 triệu tấn phôi do có thêm một số nhà máy sản xuất đi vào hoạt động góp
phần nâng công suất sản xuất thép xây dựng toàn ngành lên gần 7 triệu tấn/năm, công
suất sản xuất phôi lên 4,5 - 4,7 triệu tấn/năm nhưng đồng thời cũng đã làm dãn thêm
khoảng cách giữa cung và cầu thép trên thị trường. Đây cũng là vấn đề của ngành cần
phải giải quyết trong những năm tới.
5. Ngành Phân bón
1
Sản lượng thép nhập khẩu từ ASEAN chiếm tới trên 70% lượng thép nhập khẩu năm 2009
2
Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Campuchia và Lào
Ngành phân bón gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ. Sản xuất chỉ duy
trì sản lượng ở mức hợp lý do lượng tồn kho khá lớn từ đầu năm. Các tháng cuối năm
nhu cầu sử dụng phân bón giảm do ảnh hưởng bởi xu hướng chung của thị trường phân
bón trên thế giới. Tiêu thụ phân bón còn bị ảnh hưởng bởi lượng nhập khẩu dồn về các

dừng ở công đoạn gia công, lắp ráp các thiết bị cơ khí. Tuy là chìa khóa thúc đẩy công
nghiệp phát triển nhưng hiện nay 70 - 80% sản phẩm phục vụ sản xuất lắp ráp vẫn phải
nhập khẩu, bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp trong nước còn chuyển từ sản xuất sang gia
công lắp ráp hợp tác sản xuất với các doanh nghiệp nước ngoài. Nguyên nhân cơ bản
vẫn là thiếu các nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư phát triển sản xuất, thiếu nguồn
nhân lực có trình độ, tay nghề giỏi. Công tác hỗ trợ dịch vụ của các sản phẩm cơ khí
chưa được quan tâm đầu tư đúng mức từ phía các doanh nghiệp.
7. Ngành Dệt may
3
Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16 tháng 01 năm 2009.
4
Quyết định 497/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 4 năm 2009.
Những tháng đầu năm 2009 nhiều doanh nghiệp dệt may phải thu hẹp sản xuất do
giảm đơn hàng xuất khẩu, đơn giá giảm và biến động lao động, đặc biệt là những doanh
nghiệp nhỏ và vừa khả năng cạnh tranh kém và các doanh nghiệp FDI do bị ảnh hưởng
từ các công ty mẹ tại chính quốc (đơn hàng giảm 20 - 25%, giá giảm 10 - 15%).
Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm, cùng với nhiều chính sách giải pháp của
Chính phủ nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, ổn định sản xuất, kinh
doanh, xuất khẩu đồng thời với sự chủ động tháo gỡ của doanh nghiệp, tình hình sản
xuất kinh doanh của ngành đã được cải thiện và tăng trưởng trở lại. Một số doanh
nghiệp đã có đơn hàng cho đến hết quý I năm 2010, thậm chí đến hết quý II/2010. Kim
ngạch cả năm 2009 ước đạt khoảng 9,08 tỷ USD, bằng 99,6% so với năm 2008.
Cùng với xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp như Phong Phú, Việt Tiến, Nhà Bè, Việt
Thắng, Thái Tuấn… đã thực hiện có hiệu quả việc chiếm lĩnh thị trường nội địa, bằng
cách tăng cường tiếp thị tại các thành phố lớn kết hợp với chương trình đưa hàng về
nông thôn, góp phần giúp ngành đứng vững trong giai đoạn kinh tế gặp nhiều khó khăn.
8. Ngành Da giầy
Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đợt tăng trưởng quá “nóng” vào
năm 2008, đơn hàng xuất khẩu giầy nữ và giầy thể thao của các doanh nghiệp da giầy
sụt giảm mạnh vào quý I năm 2009. Sang quý II và những tháng cuối năm 2009, hoạt

suất huy động đã đạt trên 80% so với cùng kỳ năm 2008, sản lượng hầu hết các sản
phẩm đều tăng, sản lượng tiêu thụ cũng tăng lên nên lượng tồn kho giảm nhiều so với
đầu năm. Bảo đảm giấy in, viết phục vụ cho năm học 2009 - 2010. Tuy vậy sản lượng
giấy sản xuất năm của toàn ngành mới bằng 86% so với cùng kỳ năm 2008 (ước đạt 1,6
triệu tấn).
10. Ngành Thuốc lá
Hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2009 của ngành thuốc lá vẫn ổn định và tiếp
tục tăng trưởng. Định hướng đổi mới cơ cấu sản phẩm, tăng sản phẩm thuốc đầu lọc và
nhãn cao cấp tiếp tục được thực hiện có hiệu quả. Năm 2009 sản phẩm thuốc lá bao các
loại ước đạt 4,5 tỷ bao, tăng 2,0 % so với cùng kỳ. Tuy nhiên tình trạng buôn lậu thuốc
lá vẫn gia tăng. Ngày 07 tháng 3 năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định
43/2009/NĐ-CP bổ sung các loại thuốc lá nhập lậu vào danh mục hàng hoá cấm kinh
doanh, đây là điều kiện thuận lợi để bảo vệ ngành thuốc lá trong nước.
Hiện nay, tình hình nhập lậu thuốc lá nhãn quốc tế theo đường tiểu ngạch vẫn
chưa kiểm soát được do thói quen của người tiêu dùng vẫn chuộng thuốc lá nhập khẩu.
Những tháng cuối năm 2009 giá nguyên liệu thuốc lá vẫn ở mức cao và có xu hướng
tăng cũng ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của ngành.
11. Ngành Bia - Rượu - Nước giải khát
Nhìn chung, năm 2009 ngành bia tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định. Giá
nguyên vật liệu giảm so với năm 2008 là điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất của
ngành. Các Công ty bia lớn trong ngành có uy tín về thương hiệu như HABECO,
SABECO, Hệ thống Bia APB tại Việt Nam, Nhà máy bia Sabmiller… đều tăng trưởng
tốt. Những công ty sản xuất bia với sản lượng thấp, máy móc thiết bị cũ, chất lượng
không đảm bảo đang dần bị thu hẹp. Tổng sản lượng bia cả nước năm 2009 ước đạt 2,0
tỷ lít, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Sản xuất rượu năm nay gặp khó khăn do giá nguyên liệu đầu vào là các hoa quả,
vỏ chai… tăng cao; tuy nhiên, những doanh nghiệp sản xuất lớn, có thương hiệu, vẫn
ổn định và phát triển tốt như Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội, Công ty vang Thăng
Long, các sản phẩm rượu của SABECO
Về sản xuất nước giải khát, trong năm 2009, các doanh nghiệp trong ngành đã

đẩy mạnh hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác xúc tiến thương
mại; ổn định thị trường xuất khẩu truyền thống như Nhật, Mông Cổ, Campuchia, Úc , …
và mở rộng thêm thị trường xuất khẩu như Pakistan, Ethiopa. Sản lượng dầu thực vật
tinh luyện năm 2009 ước đạt 593 nghìn tấn, tăng 0,1% so với năm 2008.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status