BỆNH HỌC THỰC HÀNH - LOA LỊCH - Pdf 17

BỆNH HỌC THỰC HÀNH
LOA LỊCH
(Cảnh Lâm Ba Tuyến Kết Hạch – Scrofula - Adenopathie
Cervicale)
Đại Cương
Là bệnh Lao hạch ở cổ, đặc điểm của bệnh là có nhiều hạch nổi lên
thành chuỗi ở cổ, phía dưới tai, xuống hàm, vòng lên giáp tai phía bên kia,
giống như cái nhạc ngựa, vì vậy gọi là Tràng Nhạc.
Đông y cho rằng vị trí bệnh thuộc Can, Đởm. Can khí uất kết làm cho
tân dịch bị ngưng tụ lại thành đờm sinh bệnh. đờm và khí uất lâu ngày hóa
hỏa, ảnh hưởng đến phần âm, xuất hiện chứng âm hư nội nhiệt.
Hạch khó tiêu, khi hóa mủ vỡ ra khó liền miệng, nên để lại vết sẹo rõ.
Phân loại
Các sách y xưa, dựa vào hình dáng của hạch mà phân ra như sau:
Theo sách ‘Bệnh Nguyên Từ Điển’: Đại giả vi loa, tiểu giả vi lịch’
(loại lớn thì gọi là loa, loại nhỏ gọi là lịch.
Hạch có xâu như chuỗi gọi là Nhiễu xà loa lịch.
Hạch dính chùm: Liên thục loa lịch.
Hạch ở sau gáy: Bàn xà lịch.
Hạch ở hông, ngực, nách: Qua đằng lịch.
Hạch ở dưới cạnh lỗ tai bên phải: Phong oa lịch.
Hạch ở dưới cạnh lỗ tai bên trái: Huệ đại lịch.
Bệnh thường gặp ở trẻ em và thanh niên thể chất yếu.
YHHĐ gọi là Lao Hạch, dân gian quen gọi là Tràng Nhạc.
Nguyên Nhân
+ YHHĐ cho rằng do hạch lâm ba ở cổ nhiễm khuẩn lao.
+ Theo YHCT, có thể do:
. Tinh thần không thư thái, can khí uất kết, khí trệ thương tỳ, vận hóa
suy giảm, đờm nhiệt nội sinh kết tụ ở cổ gáy mà sinh bệnh. Can uất hóa hỏa
gây tổn thượng thận âm, nhiệt độc thịnh, âm huyết mất điều hòa da cơ không
được nuôi dưỡng hóa sinh mú vó khó liền miệng.

thược, Hạ khô thảo, Hương phụ, Cương tằm, Hải tảo đều 12g, Trần bì 6g,
Thạch quyết minh (hoặc Mẫu lệ) 40g (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu
Học).
+ Dùng bài Tiêu Dao Tán hợp Nhị Trần Thang gia giảm (Trung Y
Ngoại Khoa Học).
Thuốc dùng ngoài: Dương Hòa Giải Ngưng Cao, Xung Hoà Cao đắp
ngoài.
+ Trung Kỳ: (Thể Đờm Ngưng Hóa Nhiệt): hình thành apxe lạnh (mủ
lạnh), sắc da hồng xam, hơi nóng, giữa mềm hơi bập bềnh, kèm theo sốt
chiều, mồ hôi trộm, mệt mỏi chán ăn, lưỡi đỏ ít rêu, mạch Huyền Sác.
Điều trị: Thanh nhiệt, hóa đờm, thác lý, thấu nùng. Dùng bài Tứ Diệu
Thang gia vị (Hoàng kỳ, Đương quy, Xuyên sơn giáp (nướng), Ngân hoa,
Liên kiều, Hoàng cầm, Triết bối mẫu, Bồ công anh, Tạo giác thích, Sinh
Cam thảo).
+ Hậu kỳ: (thể khí huyết hư): mủ ra ri rỉ loãng trong lợn cợn đục,
miệng lâu lành hoặc thành lỗ dò, sắc da tím bầm, người gầy, sốt về chiều,
đêm đổ ồ hôi trộm, lưỡi đỏ bóng ít hoặc không rêu, mạch tế sác. Bệnh kéo
dài, miệng vết thương có thịt thối, sắc trắng xạm, sắc mặt xạm, kém tươi
nhuận, người gầy da nóng, mạch Tế Nhược.
Phép trị:
. Tư âm, thanh nhiệt, bổ dưỡng khí huyết, kiện tỳ, hóa đờm. Dùng bài
Lục Vị Địa Hoàng Hoàn, Bát Trân Thang gia giảm.
. Dưỡng âm, thanh nhiệt, hóa đờm. Dùng bài Thanh Cốt Tán gia giảm:
Thanh hao 6g, Miết giáp, Mẫu lệ (sinh) đều 40g, Ngân sài hồ, Địa cốt bì, Tri
mẫu, Huyền sâm đều 12g, Bối mẫu 4g.
Phế âm hư thêm Sa sâm, Mạch môn đều 12g. Thận âm hư thêm Thục
địa, Bạch thược, Câu kỷ tử đều 12g, Ngũ vị tử 8g. Khí hư thêm Đảng sâm
16g, Bạch truật 12g. Huyết hư thêm A giao, Tang thầm đều 12g, Hà thủ ô
16g.
Dùng ngoài: dùng thuốc dẫn lưu như Ngũ Ngũ Đơn, Thất Tam Đơn,

Nhân Chí): Liên căn phỉ thái, Liên căn nhụy, Sinh khương, Bạch hồ tiêu đều
60g, Nam nhân đầu phác (tóc người đàn ông) 120g, Ma du 1,5kg. Cho dầu
vào bình bằng đồng, cho thuốc vào, nấu cho đến khi thuốc có mầu vàng, bỏ
bã. Lại thêm Văn đơn 500g, lấy khăn vải ép lấy dầu dùng.
TD: Ôn kinh tán kết. Trị lao hạch chưa vỡ mủ.
Dưỡng Âm Thanh Nhiệt Hóa Đờm Nhuyễn Kiên Thang (Trung Y
Ngoại Khoa Học): Huyền sâm, Hạ khô thảo, Mẫu lệ, đều 16g, Địa cốt bì,
Miết giáp đều 12g, Xạ can 8g sắc uống.
Thanh Cốt Tán Gia Giảm (Trung Y Ngoại Khoa Học): Ngân sài hồ,
Địa cốt bì, Tri mẫu, Huyền sâm đều 12g, Miết giáp, Mẫu lệ đều 40g, Thạch
cao 6g, Xuyên bối mẫu 4g).
Phế âm hư thêm Mạch môn, Sa sâm; Thận âm hư thêm Thục địa,
Bạch thược, Kỷ tứ đều 12g, Ngũ vị tử 8g; Khí hư thêm Đảng sâm 16g, Bạch
truật 12g; Huyết hư thêm Tang thầm 12g, A giao 12g, Hà thủ Ô 16g.
Nội Tiêu Loa Lịch Hoàn (Dương Y Đại Toàn): Hạ khô thảo 240g,
Huyền sâm, Thanh diêm đều 150g, Hải tảo, Bối mẫu, Bạc hà, Hoa phấn, Hải
cáp phấn, Bạch cập, Liên kiều, Đại hoàng (chưng), Cam thảo (sống), Cát
cánh, Chỉ xác, Đương quy, Tiêu thạch đều 30g. Tán bột, trộn với rượu làm
thành viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 9g với nước sôi ấm.
+ Bạc hà tươi, cả cây 1kg, quả Bồ kết (bỏ hột) 0,5kg. Bạc hà rửa sạch,
cho ít nước vào, vắt lấy nước cốt, tẩm với Bồ kết đã thái nhỏ, ngâm một
ngày đêm, lấy ra, phơi khô, sao thật vàng, tán nhỏ, luyện với hồ và nước Bạc
hà tẩm Bồ kết còn thừa, làm thành viên bằng hạt đậu xanh. Ngày dùng 2 lần,
mỗi lần 5 viên với nước đun sôi để nguội, trước bữa ăn.
Theo kinh nghiệm lâm sàng cho thấy thường chỉ dùng hết số thuốc
trên là có thể khỏi rồi.
Kỵ thai. Trong thời gian uống thuốc, không được hút thuốc lào, thuốc
lá. Cấm uống rượu.
+ Hạ khô thảo 40g, sắc đặc uống ngày một lần.
+ Hạ khô thảo 40g, Xạ can 8g. Sắc uống.

đó đặt trên chỗ đã đánh dấu ở giữa lưng bệnh nhân cho thật cân thì hai đầu
đoạn dây đó thành hai huyệt. Cộng tất cả trước sau là ba huyệt. Trước hết
cứu huyệt ở giữa một tráng, rồi đến hai bên, mỗi huyệt cứu một tráng. Cứu
như vậy trong ½ tháng hoặc 20 ngày là khỏi.
Nếu sau ½ tháng chưa khỏi hẳn thì cứu thêm vài ba lần nữa cho khỏi.
Khi trị bệnh, cấm ăn các vật sống (Châm Cứu Đại Thành).
+ Lấy huyệt: Huyệt A Thị (ở chính giữa hạch nổi).
Cách châm: Trước hết dùng kim hào 2 tấc châm vào giữa hạch, rồi lấy
một lát gừng tươi mỏng, khoét một lỗ ở giữa tròng vào đầu kim. Lại lấy 1
đoạn ngải nhung to bằng quả ngân hạnh đặt lên quanh miếng gừng, châm lửa
đốt ngải. Cứu xong, quanh tràng nhạc nổi quầng đỏ, ở giữa phồng dộp nước
(chọc vào thì nước trong chảy ra), lấy cao dán dán lên. Cách 4 ngày châm 1
lần.
+ Lấy huyệt: Huyệt A Thị (chỗ hạch bạch huyết). Cách châm: Dùng
cồn iốt, cồn tinh chế sát trùng, dùng Chloroprocain gây tê cục bộ tại chỗ.
Tay trái giữ cố định hạch bạch huyết sưng to, dùng kim không gỉ đốt trên lửa
cho đỏ rồi chọc thẳng nhanh vào hạch, để kim nửa phút rồi rút ra. Bên ngoài
dùng băng gạc vô trùng băng lại. Khi châm chớ chọc quá sâu, chỉ châm đến
vùng trung tâm của hạch là được. Nếu hạch sưng to dính kết thành chuỗi có
thể châm đốt cả bốn xung quanh. Các điểm châm khi chọc kim nóng đỏ phải
thay đổi mà tiến hành. Thời gian châm đốt: nếu người bệnh có phản ứng
phát sốt có thể cách 7 ngày châm 1 lần, nếu không bị phản ứng có thể 2 - 4
ngày châm một lần.
+ Châm Khúc Trì thấu Tí Nhu.
Cách châm: Dùng kim vàng 6 tấc châm từ Khúc Trì hướng lên Tí Nhu,
đau bên này châm huyệt bên kia (đau phải châm trái, đau trái châm phải)
hoặc châm cả hai bên cùng lúc. Trước khi châm phải bôi vào mũi kim một ít
Glycérin cho kim trơn tru, sau đó để bệnh nhân ngồi gập hai bàn tay trước
ngực, khuỷu tay nâng ngang tầm vai. Thầy thuốc dùng ngón cái tay trái cắt
ngang huyệt Khúc Trì để bắt khí tán đi, sau đó dùng cồn sát trùng, tay phải


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status