BỆNH HỌC THỰC HÀNH - THẦN KINH
SINH BA ĐAU
gây nên bệnh.
- Do tình chí bị uất ức, không thoải mái, giận dữ… làm tổn thương
Can, khiến cho Can mất chức năng sơ tiết, hoá thành hoả. Hoả là dương,
Can là âm, vì vậy dương hoả sẽ dẫn tà khí vào kinh Dương. Nhiệt tà ở Thiếu
dương sẽ xâm nhập vào các kinh dương gây nên bệnh.
- Ở lứa tuổi 40, phần âm đã bị giảm đi phân nửa, huyết không còn
nuôi dưỡng được Can, Can mất chức năng sơ tiết. Âm suy không kềm chế
được dương, Can dương bốc lên. Ngoài ra, Can hoạt động nhờ Thận dương
ôn dưỡng, tuổi già, chức năng này cũng bị suy giảm, đây là lý do tại sao
chứng Can uất gặp nhiều ở tuổi già. Hai chứng này thường gặp nơi phụ nữ
đang hành kinh, có thai và cho con bú.
Khí hư, khí trệ, âm hư hoặc dương hư sẽ làm cho huyết ứ, trong khi
đó Tỳ khí hư, dinh dưỡng suy kém hoặc khí trệ làm cho đờm ngừng trệ lại ở
trong kinh mạch gây nên bệnh.
Triệu Chứng
- Loại Nguyên Phát: đau nhức từng cơn như thiêu đốt hoặc như kim
đâm, mỗi lần lên cơn đau vài giây hoặc 1-2 phút. Mỗi ngày có thể lên cơn
nhiều lần, có khi kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng. Cơn đau có thể kèm theo
co rút, da đo? ư?ng, cha?y nước mắt, nước miếng. Sờ ấn vào một số điểm
đau ở mặt như hố trên mắt (Dương bạch), lỗ dưới mắt (Tứ Bạch), lỗ cằm
(Thừa tương), 2 bên cánh mũi (Nghênh hương), mép miệng (Địa thương)
có thể làm cơn đau phát ra.
- Loại Kế Phát: đau liên tục, da mặt cảm thấy tê bì, mất pha?n xạ, cơ
thái dương và cơ nhai bị tê, co rút.
Tuy nhiên, trên lâm sàng, cần lưu ý đến biện chứng bệnh:
. Nếu bị bệnh mà kèm chứng trạng ngoại cảm là do phong tà xâm
nhập.
. Nếu kèm phiền táo, hay giận, miệng khát, táo bón là do Tỳ Vị có
thực Hoả.
. Nếu cơ thể vốn suy yếu, gầy ốm, gò má đo?, mạch Tế Sác, mỗi khi
tán bột, uống với nước thuốc sắc. Có cảm giác nóng nhiều ở mặt thêm Địa
long 9g, Thăng ma 12g. Ăn kém, khó tiêu, nôn mửa do uống thuốc này,
thêm Mạch nha, Chỉ xác đều 9g.
Châm Cứu: Hợp cốc, Ngoại quan, huyệt lân cận chỗ đau.
Nhánh I: Toàn trúc xuyên Ngư yêu, Ty trúc không xuyên Ngư yêu,
Thái dương, Dương bạch, Nghinh hương, A thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn
2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Nhánh II: Tứ bạch, Cư liêu, Quyền liêu, Nghinh hương, Hạ quan, A
thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn 2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Nhánh III: Giáp xa, Đại nghinh, Địa thương, Thừa tương, Giáp thừa
tương, Hạ quan, A thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn 2-3 huyệt, và thay đổi để
châm.
(Hợp cốc, Ngoại quan khu phong, tiết nhiệt; Hợp cốc một trong lục
tổng huyệt trị vùng mặt, miệng. Châm tả huyệt cục bộ để thông kinh hoạt
lạc, chỉ thống dựa theo ý ‘Thống tắc bất thống’).
Đau nhiều hoặc đau không ngủ được thêm Thần môn (Nhĩ huyệt),
Thần đình. Có cảm giác nóng ở mặt, thêm Nội đình. Đau vùng trán thêm
Đầu duy, Ấn đường. Đau quanh ổ mắt thêm Đồng tử liêu, Toàn trúc, Ngư
yêu, Ty trúc không. Vùng mũi đau thêm Tỵ thông, Cư liêu xuyên Nghinh
hương. Đau vùng trước tai thêm Nhĩ môn, Thính hội. Đau quanh vùng môi
thêm Nhân trung, Thừa tương, Địa thương.
+ Phong Hàn Đờm Ngưng: Đau dạng co giật, nếu nặng thì đau không
thể chịu được, khi đau da mặt xám như da chì, gặp lạnh đau tăng, thích
chườm ấm, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch Khẩn.
Nếu hàn đờm ngăn trở kinh lạc, mặt có cảm giác như tê dại, lưỡi nhạt,
rêu lưỡi trắng dầy, mạch Nhu, Hoạt, Khẩn.
Điều trị: Khu phong, tán hàn, đạo đờm, thông kinh hoạt lạc. Dùng bài
Xuyên Khung Trà Điều Tán gia giảm: Xuyên khung, Bạch chỉ đều 15g,
Khương hoạt, Kinh giới, Phong phong đều 9g, Toàn yết, Ngô công, Nam
tinh đều 6g, Cam thảo, Tế tân đều 3g.
Đầu duy, Ấn đường. Đau quanh ổ mắt thêm Đồng tử liêu, Toàn trúc, Ngư
yêu, Ty trúc không. Vùng mũi đau thêm Tỵ thông, Cư liêu xuyên Nghinh
hương. Đau vùng trước tai thêm Nhĩ môn, Thính hội. Đau quanh vùng môi
thêm Nhân trung, Thừa tương, Địa thương.
+ Can Uất Hoá Hoả: Dễ tức giận, uất ức kèm một bên đầu hoặc mặt
đau rát. Gặp nóng càng tăng. Đôi khi đau gây nên đau đầu. Mặt đỏ, mắt đỏ.
Nặng hơn các cơ co giật, hoặc co thắt từng cơn ở vùng bệnh, đôi khi giữa
các cơn người bệnh lại cảm thấy bình thường, miệng đắng, họng khô, bứt
rứt, ngực đầy, hông sườn đau, hay mơ, ngủ không yên, nước tiểu vàng, táo
bón, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền, Sác.
Điều trị: Thanh Can giải nhiệt, thông kinh hoạt lạc. Dùng bài Chi Tử
Thanh Can Tán gia vị: Thạch cao 20g, Xuyên khung 15g, Ngưu bàng tử, Sài
hồ, Bạch thược, Zf quy, Chi tử, Đơn bì, Cương tằm, Hoàng cầm đều 9g,
Hoàng liên 3g.
(Xuyên khung, Thạch cao là hai vị thuốc đặc hiệu dùng trị đau ở đầu
mặt do phong nhiệt gây nên, nhất là nhiệt ở kinh Thiếu dương và Quyết âm
và Dương minh. Xuyên khung đưa khí lên trê, hoạt huyết, chỉ thống còn
Thạch cao trừ nhiệt; Bạch thược hợp với Sài hồ giải Can uất; Bạch thược
hợp với Đương quy dưỡng huyết, ngừa cho Can khỏi bị uất. Đương quy hoạt
huyết; Chi tử, Đơn bì là cặp nối đặc hiệu để thanh nhiệt hoá uất ở Can, thêm
Hoàng cầm, Hoàng liên hỗ trợ càng tăng tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp ở
Can và Vị. Ngô công, Cương tằm thông kinh, hoạt lạc, giảm đau; Ngưu bàng
tử là vị thuốc chủ yếu trị đầu và mặt đau do nhiệt.
Châm Cứu: Hợp cốc, Hành gian, Túc lâm khấp. Huyệt cục bộ vùng
đau.
Nhánh I: Toàn trúc xuyên Ngư yêu, Ty trúc không xuyên Ngư yêu,
Thái dương, Dương bạch, Nghinh hương, A thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn
2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Nhánh II: Tứ bạch, Cư liêu, Quyền liêu, Nghinh hương, Hạ quan, A
thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn 2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Mạch nha, Chỉ xác đều 9g. Can uất khí trệ thêm Thanh bì, Hương phụ đều
9g, Xuyên luyện tử 5g.
Châm Cứu: Hợp cốc, Tam âm giao, Phong long, Huyệt cục bộ vùng
đau.
Nhánh I: Toàn trúc xuyên Ngư yêu, Ty trúc không xuyên Ngư yêu,
Thái dương, Dương bạch, Nghinh hương, A thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn
2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Nhánh II: Tứ bạch, Cư liêu, Quyền liêu, Nghinh hương, Hạ quan, A
thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn 2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Nhánh III: Giáp xa, Đại nghinh, Địa thương, Thừa tương, Giáp thừa
tương, Hạ quan, A thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn 2-3 huyệt, và thay đổi để
châm.
(Hợp cốc là ‘Lục Tổng Huyệt’ trị bệnh vùng đầu mặt, châm tả để hành
khí, chỉ thống; Tam âm giao hoạt huyết, hoá ứ toàn thân, phối hợp với Hợp
cốc tác dụng càng mạnh. Hai huyệt này hành khí, hoạt huyết mạnh ở vùng
mặt. Phong long hoá đờm. Tả các huyệt cục bộ để thông kinh, hoạt lạc, chỉ
thống).
Đau nhiều hoặc đau không ngủ được thêm Thần môn (Nhĩ huyệt),
Thần đình. Có cảm giác nóng ở mặt, thêm Nội đình. Đau vùng trán thêm
Đầu duy, Ấn đường. Đau quanh ổ mắt thêm Đồng tử liêu, Toàn trúc, Ngư
yêu, Ty trúc không. Vùng mũi đau thêm tỵ thông, Cư liêu xuyên Nghinh
hương. Đau vùng trước tai thêm Nhĩ môn, Thính hội. Đau quanh vùng môi
thêm Nhân trung, Thừa tương, Địa thương.
+ Đờm Hoả Thượng Xung: Đau tức, rát từng cơn ngắn, căng trướng,
đau nhiều khi ăn, thích chườm cay ấm lên vùng đau, miệng khô nhưng
không thích uống, đầu nặng, ngực bụng đầy trướng, thỉnh thoảng nôn ra
đờm, nước chua, đắng, miệng đắng, dễ tức giận, cáu gắt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi
vàng mỏng, mạch Huyền Hoạt, Sác.
Điều trị: Hoá đờm, thanh nhiệt, thông kinh hoạt lạc, chỉ thống. Dùng
bài Hoàng Liên Ôn Đởm Thang gia vị: Xuyên khung, Diên hồ sách đều 15g,
+ Khí Hư Huyết Ứ: Mặt đau, đau liên tục thời gian dài, đau dữ dội
không chịu nổi, đau một chỗ cố định chứ không lan toả, mặt xám, khi đau có
kèm giật giật, tay chân tê, sợ gió, tự ra mồ hôi, hơi thở ngắn, ngại nói, tiếng
nói nhỏ, yếu, da mặt trắng nhạt, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch Trầm, Tế,
Nhược.
Điều trị: Ích khí, hoạt huyết, thông kinh hoạt lạc. Dùng bài Thuận Khí
Hoà Trung Thang gia vị: Hoàng kỳ, Xuyên khung đều 15g, Đảng sâm, Bạch
truật, Đương quy, Bạch thược, Xích thược, Địa long, Mạn kinh tử đều 9g,
Trần bì, Cam thảo đều 6g, Thăng ma 4,5g, Sài hồ, Tế tân đều 3g.
(Bài Thuận Khí Hoà Trung Thang gia vị là một biến thể của bài Bổ
Trung Ích Khí Thang. Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Cam thảo bổ trung,
ích khí; Sài hồ thăng ma thăng dương khí để nuôi dưỡng trên mặt; Trần bì lý
khí; Đương quy hoà huyết. Hoàng kỳ, Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết
trong kinh mạch; Đương quy, Xuyên khung, Xích thược hoạt huyết ứ trệ
trong kinh mạch; Mạn kinh tử, Tế tân chỉ thống ở vùng đầu, mặt; Địa long
thông kinh, hoạt lạc, chỉ thống).
Bệnh lâu ngày xâm nhập vào kinh mạch thêm Toàn yết, Ngô công và
Cương tằm đều 6g.
Nếu chỉ có huyết ứ, khí hư, thay bài Thuận Khí Hoà Trung Thang gia
vị bằng bài Chỉ Kinh Tán gia giảm: Xuyên khung, Địa long, Xích thược,
Đơn bì đều 15g, Cương tằm 12g, Đương quy, Đào nhân, Hồng hoa đều 9g,
Toàn yết, Ngô công đều 6g. đau nhiều thêm Băng phiến 1g (tán bột, hoà vào
nước thuốc uống).
Châm Cứu: Hợp cốc, Tam âm giao, Túc tam lý. Huyệt cục bộ vùng
đau.
Nhánh I: Toàn trúc xuyên Ngư yêu, Ty trúc không xuyên Ngư yêu,
Thái dương, Dương bạch, Nghinh hương, A thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn
2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Nhánh II: Tứ bạch, Cư liêu, Quyền liêu, Nghinh hương, Hạ quan, A
thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn 2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Bạch tật lê đều 12g, Thiên ma, Chi tử, Hoàng cầm, Sơn thù, Đỗ trọng đều
9g.
Châm Cứu: Hợp cốc, Phục lưu, Tam âm giao. Huyệt cục bộ vùng đau.
Nhánh I: Toàn trúc xuyên Ngư yêu, Ty trúc không xuyên Ngư yêu,
Thái dương, Dương bạch, Nghinh hương, A thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn
2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Nhánh II: Tứ bạch, Cư liêu, Quyền liêu, Nghinh hương, Hạ quan, A
thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn 2-3 huyệt, và thay đổi để châm.
Nhánh III: Giáp xa, Đại nghinh, Địa thương, Thừa tương, Giáp thừa
tương, Hạ quan, A thị huyệt. Mỗi lần điều trị chọn 2-3 huyệt, và thay đổi để
châm.
(Hợp cốc một trong ‘Lục tổng huyệt’ trị vùng mặt, miệng. Châm tả để
hành khí, chỉ thống vùng mặt. Phục lưu là huyệt Kim của kinh Thận, bổ
huyệt này để bổ Thận; Tam âm giao là huyệt hội của ba kinh âm ở chân.
Châm bổ để bổ Tỳ, Can, Thận âm. Châm tả huyệt cục bộ để thông kinh hoạt
lạc, chỉ thống dựa theo ý ‘Thống tắc bất thống’).
Đau nhiều hoặc đau không ngủ được thêm Thần môn (Nhĩ huyệt),
Thần đình. Có cảm giác nóng ở mặt, thêm Nội đình. Đau vùng trán thêm
Đầu duy, Ấn đường. Đau quanh ổ mắt thêm Đồng tử liêu, Toàn trúc, Ngư
yêu, Ty trúc không. Vùng mũi đau thêm tỵ thông, Cư liêu xuyên Nghinh
hương. Đau vùng trước tai thêm Nhĩ môn, Thính hội. Đau quanh vùng môi
thêm Nhân trung, Thừa tương, Địa thương.
Tham Khảo: Châm Cứu Điều Trị
+ Sơ đạo kinh khí ở vùng đau. Huyệt chính: Thái dương, Toàn trúc,
Tứ bạch, Hạ quan, Hiệp Thừa Tương. Huyệt phụ: Hợp cốc, Nội đình, Thái
xung, Túc tam lý, Ngoại quan, Hiệp khê, Phong trì.
Cách châm:
- Nhánh 1 đau: dùng huyệt Thái Dương hoặc Toàn trúc. Châm Toàn
trúc mũi kim phải hướng ra ngoài để truyền cảm giác ra vùng trán.
- Nhánh 2 đau: dùng Tứ bạch, mũi kim phải hướng lên, ra ngoài, cho
Châm Cứu Học).
+ Huyền lư, Nhân trung, Nghinh hương, Hạ quan, Hợp cốc (Châm
Cứu Học Giản Biên).
+ Tam gian, Tứ bạch (Châm Cứu Học HongKong).
+ Thông Kinh Hoạt Lạc. Châm A Thị huyệt, Ế phong hoặc Phong trì,
Hợp cốc.
(Các A Thị huyệt gồm: Dương bạch, Tứ bạch, Nghinh hương, Địa
thương, Thừa tương). Châm A Thị huyệt nào đau nhất, vê mạnh. Nếu đau
không gia?m châm huyệt thứ 2 cách ngày châm 1 lần.
Ý nghĩa: A Thị huyệt để thông kinh khí ở các kinh bị tà khí làm trở
ngại; Ế phong, Phong trì, Hợp cốc để giải biểu khu tà (Châm Cứu Học Việt
Nam).
+ Thái dương, Phong trì, Hạ quan, Giáp xa, Hợp cốc (‘Thiểm Tây
Trung Y Tạp Chí 1985, 460).
+ Nhánh 1: Ngư Yêu, Nhánh 2: Tứ bạch, Nhánh 3: Hạ quan hợp với
Hiệp Thừa tương (Trung Y Tạp Chí 1987, 53).
+ Nhánh 1: Toàn trúc hợp với Đầu duy, Dương bạch. Nhánh 2: Tứ
bạch, Quyền liêu. Nhánh 3: Giáp xa, Hạ quan, Quyền liêu(‘Tứ Xuyên Trung
Y Tạp Chí’ 1987, 47).