Tài liệu Thuốc trị đau dây thần kinh sinh ba - Pdf 97

Thuốc trị đau dây thần kinh sinh ba

Dây thần kinh số V chi phối vùng sọ mặt.
Đau nửa đầu và nửa mặt là một bệnh hay gặp trong các phòng khám bệnh
đa khoa nói chung và phòng khám thần kinh nói riêng. Tuy nhiên, nhiều trường
hợp có cùng một bệnh cảnh đau như vậy nhưng căn nguyên hoàn toàn khác nhau,
do đó việc điều trị cũng có những đặc thù riêng cho từng cơ chế bệnh.
Vì sao mắc bệnh?
Đau dây thần kinh sinh ba (dây thần kinh số V) là một rối loạn mạnh mẽ
nhất của chức năng dây V, biểu hiện từng cơn đau dữ dội ở môi, lợi, mắt, cằm.
Qua quá trình nghiên cứu và điều trị, người ta nhận thấy có thể có sự chèn ép cơ
học rất kín đáo trên dây thần kinh hay ở hạch Gasser gây đau dây V; có sự mất
myelin ở rễ cảm giác gần hạch Gasser; do sự phóng lực đột xuất kiểu động kinh từ
các neuron nhận cảm giác vùng hành não và tủy sống cổ của dây thần kinh số V;
tổn thương dây V phối hợp với viêm xoang hoặc răng cùng bên, sau sang chấn sọ
gây gãy xương nền sọ, u nền sọ hoặc ung thư vòm họng di căn, túi phồng động
mạch thông sau; bệnh Zona, viêm mỏm ương đá, u tiên phát dây thần kinh hoặc di
căn; u mạch, u dây VIII, u màng não, cholesteatoma; bệnh xơ cứng não tuỷ rải rác,
nhồi máu não vùng hố bên hành não (hội chứng Wallenberg) bệnh rỗng hành não;
đái tháo đường, bệnh Goute do lắng đọng axit uric vào ống xương (lỗ trên ổ mắt
và lỗ dưới ổ mắt, lỗ cằm), nơi dây V đi qua
Làm thế nào để nhận biết?
Đau mi mắt trên, da vùng trán và lan ra phía sau; đau cánh mũi, môi trên có
khi lan tới mi mắt dưới; chỏm cằm, môi dưới có khi lan ra cung răng dưới; đau
thành từng cơn, đột ngột, bùng phát và kết thúc đột ngột; cơn đau phát sinh không
rõ nguyên nhân hoặc khi có kích thích (cạo râu, rửa mặt, nhai, nói, chạm vào mặt).
Cơn đau thường xuất hiện vào ban ngày, ít khi xảy ra vào ban đêm; đau dữ dội
như bỏng, như luồng điện giật, như tia lửa, dao đâm. Bệnh nhân rất sợ hãi mỗi khi
nghĩ lại cơn đau; trong cơn đau bệnh nhân phải giữ nguyên tư thế đầu, không dám
cử động, gọi là "tư thế đau dây V”, ngồi im, đỡ lấy má bên đau, không nói, không
kêu; có thể có co giật cơ mặt, vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt, nước mắt, nước mũi

pháp này mặc dù có một số tỷ lệ tái phát nhiều hơn phương pháp mổ nhưng ít
nguy hiểm, thực hiện được dễ dàng.
Tại Việt Nam, GS. Nguyễn Thường Xuân, Trần Thụy Lân (1978) đã diệt
hạch Gasser bằng huyết thanh nóng.
Điều trị ngoại khoa: Trường hợp ngoại lệ nếu điều trị bằng nội khoa không
đạt kết quả cần phải điều trị bằng phẫu thuật.
Kỹ thuật thông dụng là cắt dây thần kinh qua da sau hạch Gasser, bổ sung
thêm bằng tần số phóng xạ. Phương pháp này cho kết quả khả quan hơn, khoảng
95% bệnh nhân giảm đau. Tỷ lệ tái phát 7 - 21%. Các biến chứng sau phẫu thuật
có thể có cảm giác tê cóng mặt, mất sự chỉ huy của thần kinh giác mạc. Viêm giác
mạc thứ phát nếu cắt nhánh mắt.
Kỹ thuật vi phẫu đòi hỏi phải mở hộp sọ vùng chẩm. Khoảng 5% có biến
chứng nặng sau phẫu thuật như mất cảm giác đau và dẫn truyền thần kinh, đòi hỏi
phải điều trị lâu dài sau phẫu thuật bằng các thuốc chống trầm cảm khác.
Ngoài ra cần phải tìm nguyên nhân gây đau dây thần kinh V để điều trị kết
hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status