Will Durant
Lịch sử văn minh Ấn Độ
Người dịch: Nguyễn Hiến Lê
CHƯƠNG III (C)
VII. ĐẠI VƯƠNG AKBAR
Tamerlan – Babur – Humayun – Akbar – Cách trị dân của ông –
Tính tình ông – Che chở nghệ thuật – Mê triết lí – Có thiện cảm
với Ấn giáo và Ki Tô giáo – Tôn giáo mới của ông – Những ngày
cuối cùng trong đời ông
Chính quyền nào thì cũng hủ hoá vì như Shelley đã nói, quyền hành làm đồi
truỵ những cái gì đụng chạm tới nó. Những lạm dụng thái quá của các vua
Delhi riết rồi làm cho toàn dân – chẳng những dân Ấn mà cả dân Hồi nữa –
oán ghét họ. Khi một bọn xâm lăng mới cũng từ phương Bắc xuống – luôn
luôn như vậy – thì các vua Hồi bị đánh bại một cách dễ dàng cũng y như hồi
xưa dân Ấn bị họ đánh bại.
Người thắng họ đầu tiên là Tamerlan – gọi là Timur-i-lang thì đúng hơn –
một người Thổ cho Hồi giáo là một lợi khí chiến tranh và tự xưng là hậu duệ
của Gengis Khan (Thành Cát Tư Hãn) để được rợ Mông Cổ giúp sức. Khi đã
chiếm được ngai vàng xứ Samarcande, ông ta muốn vơ vét cho được nhiều
vàng hơn nữa và một hôm nghĩ ra rằng Ấn Độ hãy còn đầy bọn tà giáo,
nghĩa là chưa theo Hồi giáo. Các tướng lãnh của ông biết sự dũng cảm của
bọn Hồi, nên còn do dự, tâu với ông rằng tụi tà giáo đó [tức dân Ấn] đương
ở dưới cái ách của Hồi giáo rồi. Các Mullah
[1] thuộc làu làu kinh Coran
[Thánh kinh của Hồi giáo] bèn đọc một thánh thi, thiên khải: “Ôi, Giáo Tổ
[tức Mahomed], phải đem quân tấn công tụi tà giáo không thờ ta đi, trừng trị
chúng thật gắt đi”. Thế là Timur-i-lang nghe lời Chúa dạy, vượt sông Indus,
tàn sát hoặc bắt làm tù binh hết thảy những kẻ nào không trốn thoát, đánh
[5]. Chỉ có mười hai ngàn quân, một số kị
binh thiện chiến, ông ta thắng được trăm ngàn quân của vua Hồi Ibrahim ở
Panipat, giết hàng ngàn tù binh, chiếm Delhi, sáng lập ở đó một triều đại
đáng coi là vẻ vang nhất, thi hành được nhiều ân huệ nhất trong số các triều
đại ngoại nhân đã đô hộ Ấn Độ. Ông sống bốn năm yên ổn ở Delhi, làm
nhiều bài thơ rất hay, viết hồi kí và mất hồi bốn mươi bảy tuổi, nhưng cứ xét
những hoạt động cùng mạo hiểm của ông thì bốn mươi bảy năm đó cũng
bằng trên một trăm năm.
Con trai ông, Humayun nhu nhược và do dự quá, chỉ mê ả phù dung nên
không tiếp tục sự nghiệp của ông được. Một thủ lãnh A Phú Hãn tên là Sher
thắng ông trong hai trận huyết chiến và trong một thời gian lại thống trị Ấn
Độ, Sher Shah tuy đủ tư cách giữ truyền thống Hồi là giết người như ngoé,
nhưng cho xây cất lại Delhi, tỏ ra hiểu nghệ thuật kiến trúc lắm, lại cải cách
nền hành chánh, dọn đường cho chính quyền sáng suốt của Akbar. Hai
“Shar”
[6] nữa tầm thường, giữ ngôi báu trong mười năm, rồi Humayun sau
mười hai năm lang thang cực khổ, tổ chức được một đạo quân ở Ba Tư, trở
vô Ấn Độ, khôi phục lại được ngai vàng. Tám tháng sau, từ sân thượng thư
viện, ông té xuống mà bỏ mạng.
Trong hồi ông phiêu bạt, cực khổ, bà vợ sinh được một người con trai, mà
ông thành kính lựa tên Muhammad để đặt cho, nhưng sau này sử Ấn Độ chỉ
gọi là Akbar, nghĩa là “tối đại”. Trời cho Muhammad đủ những tài đức để
thành một vĩ nhân, và cơ hồ như tổ tiên ông cũng đồng tình hợp lực để ông
được hưởng mọi di truyền tốt vì ông là hậu duệ của Babur, Timur và Gengis
Khan. Ông có vô số sư phó nhưng không chịu học ai cả, ngay đến tập đọc
cũng không chịu. Chỉ thích những môn thể thao nguy hiểm, tập sự nghề làm
vua bằng cách phi ngựa, chơi polo [mã cầu: cưỡi ngựa mà đánh cầu], trị
những con voi dữ nhất, lúc nào cũng sẵn sàng đi săn sư tử, cọp, không ngại
Luật pháp rất nghiêm, thuế tuy nặng nhưng không bằng trước. Thuế điền thổ
bằng từ một phần sáu tới một phần ba số thu gặt được, mỗi năm được
khoảng hai tỉ quan. Nhà vua nắm trong tay cả ba quyền: lập pháp, hành pháp
và tư pháp, là tối cao thẩm phán, ông phải bỏ ra nhiều thì giờ xử những vụ
quan trọng nhất. Ông ban các đạo luật cấm tảo hôn, cấm bắt quả phụ phải
hoả thiêu theo chồng, cho quả phụ được tái giá, bỏ chế độ nô lệ, cấm giết
sinh vật để tế thần, tôn giáo nào cũng được tự do, có tài thì làm nghề nào
cũng được, không phân biệt nòi giống và tôn giáo, bãi bỏ thuế thân mà các
vua Hồi thời trước đánh vào những người Ấn không theo Hồi giáo. Khi ông
mới lên ngôi, còn dùng hình phạt chặt tay chặt chân, nhưng về cuối đời ông,
hình luật Ấn có lẽ nhẹ hơn hết ở thế kỉ XVI. Các quốc gia mới thành lập, bắt
đầu phải dùng chính sách cường bạo, rồi nếu được an ổn thì lần lần chính
sách hoá ôn hoà hơn, tự do hơn.
Muhammad Akbar (1542-1605)
(
Nhưng tư cách, cá tính cương cường của một quốc trưởng thường là nguyên
nhân suy nhược của chính quyền. Chế độ chúng tôi vừa mới miêu tả chỉ dựa
trên những tài đức siêu phàm của Akbar, cho nên khi ông băng rồi, chế độ tự
nhiên lung lay. Ông nuôi nhiều sử quan quá và tự nhiên, bọn này hết sức ca
tụng ông, khen ông có đủ mọi đức: võ sĩ bậc nhất, kị sĩ bậc nhất, rồi về kiếm
thuật, kiến trúc, môn nào cũng vào hạng nhất, dong mạo thì đường bệ, oai
phong không ai bằng. Sự thực, cánh tay ông dài quá, chân vòng kiềng, mắt ti
hí như mọi người Mông Cổ khác, đầu lúc nào cũng nghiêng qua bên trái và
có một nốt ruồi ở trên mũi. Nhưng bề ngoài coi cũng đẹp, nhờ sạch sẽ,
mà họ chống đỡ ngai vàng cho ông; từ hồi đó, các vua Mông Cổ đều lai Ấn
hết. Một người Rajpute thành nguyên soái của ông và một rajah làm tể tướng
cho ông. Mộng của ông là đoàn kết Ấn Độ.
Ông không có cái óc thực tế và tinh mật một cách thản nhiên như César hay
Napoléon; mê siêu hình học, và nếu ông bị cướp ngôi thì rất có thể sống một
đời ẩn sĩ theo thần bí giáo. Óc ông lúc nào cũng hoạt động, lúc rảnh thì sáng
chế cái này, cải thiện cái kia. Như Harounal-Rashid
[13], có lần ông cải
trang, vi hành ban đêm và trở về cung, trong đầu đầy những ý nghĩ cải cách.
Bận rộn vì bao công việc rắc rối, mà ông vẫn có thì giờ thu thập được một
thư viện quan trọng gồm toàn những bản viết tay rất đẹp, khắc tỉ mỉ, công
trình của những thư sĩ (người viết chữ tốt) mà ông coi là những nghệ sĩ
ngang hàng với các hoạ sĩ, kiến trúc sư làm vẻ vang cho triều đại ông. Ông
khinh thuật in, cho là máy móc, không phát hiện được tài hoa của mỗi
người, và ông liệng bỏ những mẫu ấn loát của phương Tây mà các tu sĩ
Dòng Tên đã lựa chọn để tặng ông. Thư viện của ông chỉ có hai mươi bốn
ngàn cuốn, nhưng những người cố đánh giá những vật vô giá, sản phẩm của
tinh thần đó, phỏng định giá trị là non chín chục triệu quan tiền Pháp
[14].
Ông rộng rãi tưởng lệ các thi sĩ, rất quí mến thi sĩ Ấn Birbal, vời về triều,
phong làm tướng quân, nhưng ra trận, tướng quân ta đại bại, chạy dài, chẳng
nên thơ chút nào cả và bị địch giết, tội nghiệp
[15]. Akbar bảo các văn sĩ ở
triều dịch các danh tác về văn học, lịch sử và khoa học Ấn Độ ra tiếng Ba
Tư, ngôn ngữ chính thức hồi đó, ông đích thân coi sóc công việc dịch anh
hùng ca dài vô tận Mahabharata
[16]. Nhờ sự bảo trợ và khuyến khích của
ông mà mọi nghệ thuật đều toàn thịnh. Thời đó là một trong những thời rực
rỡ của nhạc, thơ; và hoạ (cả hoạ Ấn lẫn hoạ Ba Tư), một lần nữa, lên tới
gian ông tin thuyết luân hồi, có lần ông ra trước công chúng mà trên trán
mang dấu hiệu của Ấn giáo, làm cho các cận thần Hồi của ông khó chịu,
ngạc nhiên. Ông biết tỏ ra ân cần, hoà nhã với mọi tín ngưỡng: ông bận một
chiếc áo lót và đeo chiếc dây lưng thiêng liêng của đạo Zoroastre (ở Ba Tư)
nên các tín đồ Zoroastre thích ông; ông theo lời yêu cầu của tín đồ đạo Jaïn,
không đi săn nữa và mỗi tháng cấm sát sinh vài ngày. Khi ông mới nghe
thấy nói về một tôn giáo gọi là Ki Tô giáo mà người Bồ Đào Nha tới buôn
bán ở Goa truyền bá vô Ấn Độ, ông sai một sứ giả tới yêu cầu các nhà
truyền giáo phái Pauliste [một giáo phái Ki Tô giáo, theo giáo lí của Thánh
Paul] ở Goa, phái tới ông hai tu sĩ uyên bác nhất. Sau có vài tu sĩ Dòng Tên
tới Delhi thuyết giáo làm cho ông thích chúa Ki Tô và ông bảo các thư kí
của ông dịch Tân Ước cho ông. Ông cho phép các tu sĩ Dòng Tên tự do
truyền đạo và nhờ họ dạy hoàng tử nữa. Vào cái thời mà ở Pháp, các tín đồ
Công giáo tàn sát tín đồ Tin Lành, thời mà ở Anh [dưới triều nữ hoàng
Elizaberh] tín đồ Tin Lành tàn sát tín đồ Công giáo, cái thời mà Pháp đình
tôn giáo xử tử Do Thái ở Y Pha Nho, mà Giordano Burno
[17] bị thiêu ở Ý,
thì Akbar mời đại biểu tất cả các tôn giáo ở Ấn Độ dự một hội nghị, cho họ
được an ổn hành đạo, ban hành những sắc lệnh về tự do tín ngưỡng, tự do
thờ phụng, và để tỏ mình trung lập trong vấn đề đó, cưới những bà vợ theo
các đạo Bà La Môn, Phật và Hồi.
Khi lửa lòng tuổi trẻ đã dịu rồi, nỗi vui nhất của ông là được đàm luận ung
dung về các vấn đề tôn giáo. Ông bỏ hết các tín điều của đạo Hồi, làm cho
các thần dân Hồi của ông bất bình mà không dám nói ra, trách ông là thiên
vị. Thánh François Xavier có lẽ nói hơi quá rằng: “Ông vua đó từ bỏ hẳn, đã
diệt nguỵ đạo của Mahomet. Trong đô thị đó không còn lấy một giáo đường
Hồi, một bản kinh Coran – kinh của đạo Hồi – và những giáo đường Hồi
trước kia nay dùng làm chuồng ngựa, làm kho chứa đồ”. Akbar không tin
Mặc khải, chỉ chấp nhận những tín ngưỡng dựa vào triết lí và khoa học. Ông
dân chia rẽ, làm cho ý kiến kẻ này bất đồng với kẻ khác… như thế thì có bao
nhiêu tôn giáo là có bấy nhiêu loạn đảng. Vì vậy chúng ta nên họp các tôn
giáo làm một, cho các tôn giáo tuy “nhiều” mà vẫn là “một”; cái lợi lớn
nhất là vẫn giữ được phần tốt trong mỗi tôn giáo mà lại được hưởng tất cả
những cái hay nhất trong các tôn giáo khác. Như vậy là tỏ lòng sùng
ngưỡng Thượng Đế, dân chúng được an ổn mà đế quốc được an ninh.
Dĩ nhiên hội nghị phải tán thành đề nghị đó. Akbar mới đầu tự phong cho
cái chức giáo chủ tối cao, không khi nào lầm lẫn; đó là ý quan trọng nhất
ông mượn của Ki Tô giáo. Còn chính tôn giáo đó thì là một thứ nhất thần
giáo có tính cách phiếm thần, hoàn toàn theo truyền thống Ấn Độ, pha thêm
chút thờ lửa, thờ mặt trời để mua chuộc các tín đồ Zoroastre, một lời khuyên
cữ ăn thịt để lấy lòng các tín đồ Jaïn. Giết bò cái thành một tội nặng: điểm
này người Ấn rất hoan nghênh, nhưng người Hồi lại rất bất bình. Một sắc
lệnh nữa buộc toàn dân phải ăn chay ít nhất là một trăm ngày mỗi năm; ông
cũng cấm ăn hành tỏi để tôn trọng thành kiến trong dân chúng. Đồng thời lại
cấm xây cất các thánh đường Hồi giáo, cấm làm lễ Ramadam, cấm hành
hương ở La Mecque, và đa số các tục Hồi khác. Một số lớn người Hồi phản
kháng và bị tội đày. Ở giữa sân Hoà Bình tại Fathpur-Sikri, người ta cất một
đền Tôn giáo – hợp nhất, (đền nay vẫn còn), biểu hiện hi vọng của ông muốn
được thấy toàn dân Ấn cùng thờ một Thượng Đế, cùng coi nhau như anh em.
Về phương diện tôn giáo, Akbar không thành công chút nào cả vì đụng
nhằm nhiều truyền thống mạnh quá. Vài ngàn người theo tôn giáo mới, đa số
là vì lợi, muốn lấy lòng ông, còn dân chúng vẫn theo tín ngưỡng cũ của họ.
Về phương diện chính trị, có được vài kết quả tốt. Sự bãi bỏ thuế thân và
thuế hành hương hồi trước đánh vào người Ấn, sự tự do ban hành cho các
tôn giáo
[18], sự cuồng tín về nòi giống, tôn giáo giảm đi, do đó dân chúng
bớt hăng say chống nhau về giáo lí, tất cả những cái lợi đó dư để bù những
khó mà giữ được đế quốc cha đã sáng lập nên. Tại sao con các bậc vĩ nhân
lại hầu hết là tầm thường quá đỗi? Có phải tại thiên tài của các vĩ nhân vừa
do di truyền vừa do sinh lí, chỉ lâu lâu may mắn xuất hiện một lần, chứ
không thể tái hiện được? Hay tại bậc thiên tài đã phải phí nhiều sinh lực về
tinh thần và thể chất quá, không còn đâu để truyền lại cho con cái được?
Hay tại con cái họ sống sung sướng, dễ dàng quá, ngay từ hồi nhỏ, không
được nhu cầu và cao vọng kích thích, cho nên mau suy đốn? Jehangir chẳng
những rất tầm thường mà còn đồi truỵ nữa. Cha là dòng dõi Thổ, mẹ là công
chúa Ấn Độ, đông cung thái tử đó ngay từ nhỏ đã rượu chè, trai gái, có thói
bạo dâm của rợ Thát Đát (Hung Nô), thói đó tiềm tàng trong máu của ông
cha chàng: Babur, Humayun và Akbar, tới chàng mới phát ra. Khi lên ngôi
rồi, Jehangir thích thấy cảnh lột da, đóng nõ đít, voi giày tội nhân. Trong tập
Hồi kí, ông ta chép lại rằng một mã quan (quan giữ ngựa) và mấy người theo
hầu vô ý xuất hiện thình lình làm cho con mồi của ông hoảng, chạy đi mất,
ông nổi giận sai chém ngay mã quan đó và chặt gân nhượng chân của bọn
theo hầu, thành thử bọn này suốt đời tàn tật. Sau khi chứng kiến cảnh hành
hình rồi, ông ta bảo: “Ta tiếp tục cuộc săn bỏ dở”. Khi con trai ông, Khusru,
âm mưu thoán nghịch, ông sai đóng nõ đít bảy trăm kẻ phiến loạn, sắp theo
một hàng dài trong đường phố Lahore; và thấy họ hấp hối lâu rồi mới chết,
ông ta hoan hỉ. Để thoả mãn nhục dục, ông ta có sáu ngàn cung tần mĩ nữ,
nhưng quí nhất bà Nur Jehan
[19] mà ông ta đã giết chồng để cướp vợ. Về tư
pháp, ông tỏ ra nghiêm khắc nhưng vô tư; nhưng ông ta tiêu pha quá độ,
thành một gánh nặng cho một quốc gia phú thịnh nhất thế giới nhờ tài trị
nước sáng suốt của Akbar và nhờ hưởng được nhiều năm thái bình.
Về khoảng cuối đời, Jehangir càng say sưa, uống rượu suốt ngày, bỏ bê công
việc triều đình. Như vậy thì dĩ nhiên có nhiều cuộc âm mưu để truất ngôi
ông; ngay từ năm 1622, con trai ông là Jehan đã muốn thoán vị, Jehangir
vừa mới chết thì Jehan đương trốn ở miền Deccan cấp tốc về triều, giết hết
của họ đã phóng đại cảnh thịnh vượng huy hoàng của Ấn thời xưa; nhưng
những châu thành bỏ hoang, những cung điện đổ nát, những thuỷ lộ huỷ
hoại, những hồ nước và đê đập mà thỉnh thoảng chúng ta gặp trong rừng,
những mặt đường hư hỏng, di tích các giếng nước, các trạm trú chân trên
những quốc lộ thời xưa, tất cả những cái đó, với những thiên kí sự của các
du khách thời xưa đủ cho chúng ta tin rằng các sử gia Ấn không thêu dệt
đâu mà chép đúng sự thực đấy.
Jehan giết hết các em để lên ngôi, nhưng ông quên không giết hết các con
trai ông, để cho một người con sau này truất ngôi ông. Năm 1657, người
con thông minh nhất của ông, Aureng-Zeb, nổi loạn trong miền Deccan,
Jehan cũng như David [vua Do Thái thời cổ] ra lệnh cho các tướng lãnh dẹp
quân phiến loạn nhưng rán đừng giết con ông. Nhưng Aureng-Zeb thắng
được hết các đạo quân triều đình, bắt sống được cha, giam vô đồn Agra, tại
đó Jehan sống thêm chín năm đau khổ, uất hận, không một lần nào được con
trai vô thăm, thui thủi với người con gái hiếu thảo Jahanara, suốt ngày ở
trong tháp Jasmine, nơi ông bị nhốt, nhìn sang lăng tẩm trắng toát của
Mumtaz, người yêu của ông, trên bờ bên kia sông Jumna.
Người con đã tàn nhẫn, bất hiếu với cha như vậy nhưng là một trong những
vị thánh của đạo Hồi và có lẽ là nhân vật siêu quần nhất trong số các đế
vương Mông Cổ. Các mullah sư phó của ông đã truyền cho ông những tín
ngưỡng rất mạnh tới nỗi hồi trẻ ông đã có lần muốn từ bỏ xã hội, từ bỏ ngôi
báu để sống trong một nhà tu kín. Mặc dầu độc tài, giỏi ngoại giao, có một
quan niệm về luân lí đặc biệt, chỉ hợp với tôn giáo của ông thôi, ông luôn
luôn là một người rất mộ đạo, đọc kinh hằng giờ, nhịn ăn mấy ngày, thuộc
làu kinh Coran và đem quân diệt các dân ngoại đạo, tóm lại lúc nào cũng
theo đúng kinh Coran. Về chính trị, ông tính toán một cách lạnh lùng, có thể
nói dối khéo léo miễn là có lợi cho nước và cho Chúa. Nhưng vua Mông Cổ
mà như ông thì còn là ít tàn bạo nhất đấy, có thể nói là hiền từ nhất nữa;
quan đi thu thuế. Dưới triều đại Aureng-Zeb, đế quốc Mông Cổ đạt tới mức
thịnh nhất ở Ấn Độ và lan rộng tới miền Deccan; nhưng sự cường thịnh đó
không đâm rễ sâu vào lòng dân nên khi bị quân thù hơi mạnh tấn công thì nó
tan rã liền. Chính Aureng-Zeb trong mấy năm cuối đời nhận thấy óc hẹp hòi,
ngu tín của mình đã làm hại sự nghiệp của tổ tiên. Mấy lời ông viết trên
giường bệnh trước khi chết thực ai oán:
Ta không biết ta là ai, ta đi đâu, và kẻ đầy tội lỗi này sẽ chịu những hình
phạt nào… Ta sống mà không ích lợi gì cho ai cả. Chúa ở trong lòng ta mà
cặp mắt mờ ám của ta không thấy hào quang của Ngài… Ta không còn chút
hi vọng gì ở tương lai nữa. Cơn sốt đã hạ, nhưng ta chỉ còn da bọc xương…
ta đã mắc nhiều tội quá, và ta không biết sẽ bị hành hạ ra sao. Ta chúc các
người khỏi bị Chúa trừng trị.
Ông ra lệnh làm đám tang cho ông cực kì đơn giản, khăn liệm đừng tốn quá
bốn ru-pi [tiền Ấn], tức số tiền công ông khâu mũ chụp. Quan tài chỉ phủ
một tấm vải thô. Ông đã chép kinh Coran, tiền công được ba trăm ru-pi, ông
để lại hết cho người nghèo. Chết hồi tám mươi chín tuổi, kiếp trần của ông
đã kéo dài quá lắm.
Ông chết rồi, chỉ mười bảy năm là đủ cho đế quốc của ông tan tành. Sự tàn
bạo của Jehangir, thói xa xỉ phung phí của Jehan và tinh thần cuồng tín, cố
chấp của Aureng-Zeb đã làm cho dân chúng xưa trung thành với Akbar nay
đâm oán triều đại Mông Cổ. Thiểu số theo Hồi giáo bị khí hậu nóng quá làm
cho thần kinh và thể chất suy nhược, không còn hăng hái chiến đấu như hồi
xưa nữa; mà nhà vua lại không mộ thêm tân binh ở phương Bắc để củng cố
uy quyền đã lung lay. Trong lúc đó, một đảo nhỏ ở bên kia trời Tây
[23] phái
con buôn tới vơ vét những nguồn lợi của Ấn Độ. Ít lâu sau họ chở súng tới
để chiếm đế quốc mênh mông mà thiên tài của hai dân tộc Ấn và Hồi đã liên
Độ bị người Âu xâm chiếm.
[9] Nghĩa là tự chủ, nén được cơn giận. (ND).
[10] Tức Thomas Woodrow Wilson (1856–1924), Tổng thống Mĩ thứ 28.
(Goldfish).
[11] Ông có hai người con chết hồi còn trẻ vì nghiện rượu.
[12] Sách in là ba ngàn, tôi sửa lại thành ba mươi ngàn theo bản tiếng Anh:
thirty thousand. (Goldfish).
[13] Harounal-Rashid (763-809): là vị vua kiệt xuất của nhà Abbasid, là
người đã đưa nền chính trị và văn hóa của đế quốc Ả Rập lên tới tột đỉnh
vinh quang. Dưới triều đại ông, Bagdad là trung tâm nghệ thuật của thế giới
Hồi giáo. (Theo Wikipedia). (Goldfish).
[14] Bản tiếng Anh chép là: $3,500,000. (Goldfish).
[15] Các người Hồi vốn ghét Birbal, hay tin ông ta chết, hoan hỉ lắm. Sử gia
Hồi Badaoni kể lại cái chết đó, bằng một giọng vui thích dã man: “Birbal sợ
chết, đào tẩu, bị giết, và xuống địa ngục với loài chó”.
[16] Tương truyền là của Vyasa, viết vào khoảng thế kỉ thứ II trước Công
nguyên tới thế kỉ thứ V sau Công nguyên, dài 200.000 câu.
[17] Linh mục Giordano Burno (1548-1600) là một nhà triết học, nhà vũ trụ
học và nhà huyền bí người Ý. Ông ủng hộ thuyết nhật tâm của Nicolaus
Copernicus, bị tòa án La Mã kết tội là một dị giáo và bị hỏa thiêu. (Theo
Wikipedia). (Goldfish).
[18] Trừ một thời gian ngắn (1582-85) ngược đãi đạo Hồi.
[19] Có nghĩa là “Ánh sáng thế giới”, cũng có tên là Nur Mahal, “Ánh sáng
cung điện”; Jehangir có nghĩa là “Người chinh phục thế giới”; Shah Jehan là
“Vua thế giới”.
[20] Lăng này được thi sĩ Đoàn Thêm tả trong tập thơ Taj Mahal. (ND).
[21] Ngọc điện này bảy năm mới xây cất xong, làm toàn bằng vàng bạc châu
báu. Chiếc ngai có bốn chân bằng vàng khối; mười hai chiếc cột bằng ngọc
bích đỡ một cái long đỉnh bằng sứ; mỗi cột có hai con công (khổng tước) cẩn
ngọc, đứng ở một gốc cây cành lá toàn bằng kim cương, hồng ngọc, ngọc