Will Durant
Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
CHƯƠNG III
THỜI ĐẠI CÁC NGHỆ SĨ
I. VĂN NGHỆ PHỤC HƯNG: ĐỜI TỐNG
1. Chế độ xã hội của Vương An Thạch
Đời Tống – Một vị tể tướng có tư tưởng xã hội – Cách trừ nạn thất nghiệp –
Chế độ kĩ nghệ - Định lương bổng và giá cả - Quốc hữu hoá thương mại –
Quốc gia bảo hiểm cho thất nghiệp, nghèo đói, già nua – Thi tuyển quan lại
– Vương An Thạch thất bại
Sau loạn An Lộc Sơn, nhà Đường không làm sao ngóc đầu lên được nữa.
Các ông vua nối ngôi Minh Hoàng không lập lại nổi uy quyền trong đế quốc
và sau một thế kỉ suy nhược, nhà Đường chấm dứt. Trong năm mươi ba năm
(907-960), năm triều đại khác kế tiếp nhưng đều yếu và ngắn ngủi [trong sử
gọi là đời Ngũ Đại: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu].
Trong trường hợp như vậy luôn luôn phải có một bàn tay mạnh và tàn nhẫn
mới lập lại được trật tự. Một quân nhân
[1] xuất hiện trong cảnh hỗn loạn,
dựng lên nhà Tống và lên ngôi, tức Tống Thái Tổ. Người ta tái lập triều đình
và các chức tước, mở lại các kì thi để tuyển quan lại và một vị cố vấn cho
Hoàng Đế rán giải quyết các vấn đề xã hội, thành lập một chế độ gần như
chế độ xã hội để triều đình kiểm soát đời sống kinh tế trong nước.
Vương An Thạch (1021-1086) là một trong rất nhiều nhân vật kì khôi đóng
một vai trò quan trọng trong lịch sử Trung Quốc. Rất tiếc rằng vì xa cách
trong không gian lẫn trong thời gian, lại thêm dĩ vãng của Trung Hoa cũng
khác xa với hoàn cảnh hiện tại của họ, cho nên xét các nhân vật Trung Hoa,
kho để sau này dùng tới, một phần đem bán khắp nước, những nơi nào
thiếu
[3]. Triều đình có một uỷ ban ngân sách, xét xem phải tiêu bao nhiêu,
thu được bao nhiêu để tiết kiệm được những số tiền lớn, khỏi thất thoát vào
những cái túi rộng của bọn tham nhũng. Người già, người thất nghiệp, người
khốn cùng được trợ cấp. Chính sách giáo dục và chế độ thi cử được xét lại
để tuyển những người có kiến thức thực tế, chứ không bàn suông về đạo
Khổng bằng những câu hoa mĩ, khoa đại; giáo dục bớt chú trọng tới hình
thức, tới nhớ nhiều, và theo lời một sử gia Trung Hoa thì trong một thời
gian, bọn “học sinh tại các trường làng cũng bỏ thơ phú đi mà học sử kí, địa
lí, kinh tế”.
Tại sao những gắng sức nhân đạo đó lại thất bại? Trước hết có lẽ vì cuộc thí
nghiệm có nhiều yếu tố thuộc về hành động hơn là về lí thuyết thuần tuý.
Đành rằng, theo nguyên tắc, bọn phú gia phải gánh phần thuế nặng nhất,
nhưng sự tiêu pha của quốc gia cứ tăng hoài, quốc gia phải thu nhiều lúa
ruộng, đó là một gánh nặng cho toàn dân, nghèo cũng như giàu. Cho nên
chẳng bao lâu, bọn dân nghèo cũng đứng về phe người giàu, kêu ca rằng
thuế má nặng quá; loài người bao giờ cũng muốn quốc gia lãnh thêm nhiều
chức vụ, trách nhiệm nhưng lại không chịu trả cái giá của một chính quyền
như vậy [nghĩa là muốn quốc gia bảo đảm an toàn cho mình, nhưng không
muốn đóng thuế]. Lại thêm, Vương An Thạch tuy giảm số lính chính qui,
thường bị cho dân đỡ phải nuôi, nhưng để bù vào số giảm ấy, ông buộc gia
đình nào có hai người đinh trở lên thì bắt một người làm “bảo đinh”, dạy cho
võ nghệ, hễ có chiến tranh thì dùng làm lính
[4]. Ông giao ngựa và cỏ, lúa
cho dân nuôi, dân phải săn sóc kĩ để khi có chiến tranh thì nhà nước lấy mà
dùng
[5]. Khi có ngoại xâm và các cuộc nổi loạn trong nước, tân pháp của
Vương An Thạch hoá ra mất lòng dân. Sau cùng, còn một nguyên nhân nữa:
sống xa hoa, phong nhã cũng phát triển mạnh như ở kinh đô cũ, và các
thương nhân khắp thế giới đổ xô lại mua những sản phẩm cực quí, cực đẹp
của kĩ nghệ và nghệ thuật Trung Hoa. Vua Huy Tôn đặt ra những kiểu trang
phục mới ở Biện Lương, vì ông là một nghệ sĩ hơn là một quốc trưởng –
trong khi rợ Kim tiến vô kinh đô thì ông chẳng mãi vẽ đấy ư? và ông lập ra
một viện hàn lâm để khuyến khích – bằng cách triển lãm và định giá – các
nghệ thuật sau này làm vẻ vang cho nhà Tống. Người ta sưu tập các đồ
đồng, bức hoạ, bản viết tay và các bảo ngọc; nhiều tiệm sách lớn được thành
lập mà vài tiệm tránh được cái hoạ binh lửa. Các học giả, nghệ sĩ ùa lại cả
hai kinh đô ở phương Bắc và phương Nam.
Dưới đời Tống, nghề in bắt đầu xuất hiện, mới đầu rất khiêm tốn, trong văn
học Trung Hoa. Sau bao nhiêu cố gắng kiên nhẫn, liên tục trong mấy thế kỉ,
bây giờ phát minh mới đem áp dụng được dưới hai hình thức chính; mới đầu
khắc cả một trang sách lên gỗ, rồi sau dùng hoạt tự bằng một kim loại đúc
trong những cái khuôn. Phát minh đó, hoàn toàn của dân tộc Trung Hoa, là
phát minh lớn nhất trong lịch sử, sau sự phát minh ra chữ viết.
Trước hết phải tìm một thứ gì giản tiện hơn lụa hay tre để in chữ lên. Lụa đắt
quá, mà tre thì nặng quá: Mặc tử đi đâu cũng phải chở theo ba xe sách bằng
tre, trọn tài sản của ông; còn Tần Thuỷ Hoàng thì mỗi ngày phải vận dụng
bằng tay cả trăm kí lô văn thư. Vào khoảng 105 sau T.L, đời Đông Hán, một
viên hoạn quan tên là Thái Luân tâu với vua Hán Hoà Đế rằng đã phát minh
ra được một thứ giấy rẻ tiền hơn, nhẹ hơn, làm bằng vỏ cây, cây gai, giẻ rách
và lưới cũ. Thái Luân là một vị đại thần được phong tước hầu, vì âm mưu
với hoàng hậu, bị tố cáo, “về nhà tắm rửa, chải đầu, bận bộ áo đẹp nhất rồi
uống thuốc độc tự tử”. Cách chế tạo đó truyền bá rất mau vì những tờ giấy
cổ nhất người ta được biết, do Aurel Stein tìm được trong một bức tường ốp
của Vạn lí trường thành, là những công văn kể những biến cố xảy ra trong
khoảng từ 21 tới 137 sau T.L, có lẽ vào thời Thái Luân; những công văn đó
[7] cho
phép tham cứu các “thiên Phật động” (hang ngàn ông Phật) ở Đôn Hoàng.
Một trong số những động đó hình như đã bị bịt kín vào khoảng 1035 sau
T.L, mãi đến năm 1900 mới được đục ra, và người ta đã tìm thấy 1.130 bó
tài liệu, mỗi bó gồm mười hai, có khi hơn nữa, cuốn giấy viết tay; toàn thể
thành một thư viện chứa 15.000 cuốn sách, giấy vẫn còn tốt y như mới
nguyên. Chính trong những bản viết tay ấy mà người ta kiếm được cuốn
sách in cổ nhất hiện nay chúng ta được biết, tức cuốn Kinh Kim Cương, nó là
một cuộn giấy, trang cuối có mấy hàng này: “Wang Chieh [?] in ngày… (tức
ngày 11.5.868 dl) để phát không vì nhớ đến công ơn cha mẹ”. Trong đám
viết tay này còn thấy ba cuốn sách in nữa. Một cuốn có đặc điểm rất mới mẻ
này: các tờ giấy không cuốn lại như Kinh Kim Cương mà gấp lại thành sách
nhỏ như sách ngày nay. Cũng như châu Âu cuối thời Trung cổ và gần đây ở
các dân tộc sơ khai, chính tôn giáo đã cổ xuý cho nghề in mạnh hơn hết, vì
tu sĩ nào cũng muốn truyền bá đạo của mình bằng ấn phẩm và hăng hái
muốn cho mọi người có được những lá bùa, những kinh kệ in trên giấy. Các
quân bài có lẽ cũng cổ như các ấn phẩm tôn giáo đó, xuất hiện ở Trung Hoa
năm 969 - sớm hơn nữa, chưa biết chừng – rồi từ Trung Hoa truyền vào châu
Âu cuối thế kỉ XIV.
Những cuốn đầu tiên ấy in bằng mộc bản. Chúng ta biết được điều đó do
một bức thư một người Trung Hoa viết vào khoảng 870: “Một hôm ở Tứ
Xuyên, tôi thấy trong một tiệm nọ một cuốn kinh [chắc là kinh của Khổng
giáo] in trên một bản gỗ”. Hình như lúc đó, nghệ thuật in đã phát triển khá
rồi, thực lạ lùng, sự phát triển ấy xảy ra trước hết ở các tỉnh miền tây như Tứ
Xuyên, Tân Cương
[8] tức những tỉnh được các vị tăng Ấn Độ tới khai hoá
và trong một thời gian có một nền văn hóa độc lập với văn hóa tại các kinh
đô ở phía Đông. Thuật in đó truyền qua miền Đông từ đầu thế kỉ thứ X khi
một tể tướng tên là Feng Tao thuyết phục nhà vua bỏ tiền ra in các kinh của
in, dân sẽ không phải chịu, trẫm sẽ không bắt dân đóng thuế. Trẫm và hoàng
tộc sẽ chịu hết, vị đại thần nào muốn góp tiền thì tuỳ ý”.
Hoạt tự từ Triều Tiên truyền qua Nhật Bản rồi mới trở về Trung Hoa, nhưng
hình như sau khi Gutenberg (1400-1468) phát minh được thuật in ở châu
Âu, sau Triều Tiên mấy thế kỉ. Ở Triều Tiên, hoạt tự được dùng trong hai thế
kỉ rồi bỏ; ở Trung Hoa lâu lâu người ta mới dùng tới, mãi cho tới khi các
thương nhân và các nhà truyền giáo từ phương Tây qua chỉ cho họ thuật in ở
châu Âu. Từ thời Feng Tao cho tới thời Lí Hồng Chương [cuối đời Thanh],
người Trung Hoa vẫn thích in bằng mộc bản, vì in lối chữ Trung Hoa thì
cách ấy có vẻ tiện cho họ hơn. Mặc dù in cách đó rất chậm, họ cũng đã tuôn
ra thị trường vô số sách cho dân chúng đọc. Trong khoảng từ 994 tới 1063,
người ta in những bộ đoạn đại sử [sử chép riêng một thời đại], gồm mấy
trăm cuốn, thành thử các nhà văn có một kho bác học vô giá và mới mẻ; và
tác phẩm của họ đạt được các giới trung lưu, đôi khi tới một số bình dân
nữa; văn học có tính cách dân chủ hơn
[12], nhiều hình thức hơn. Nghệ thuật
in mộc bản là một nguyên nhân chính của sự phục sinh văn nghệ đời Tống.
Được phát minh ấy kích thích, văn học Trung Hoa hoá ra phong phú lạ lùng,
tiến trước phong trào phục hưng ở Ý tới hai thế kỉ. Các kinh điển được in lại
cả trăm lần, chú giải cả ngàn lần; các sử gia bác học cặm cụi nghiên cứu dĩ
vãng để viết lại và dùng nghệ thuật in mới mẻ, kì diệu đó, truyền bá cho
hàng triệu độc giả; người ta in những bộ tuyển tập thi văn, những bộ tự điển
lớn; những bộ Bách khoa toàn thư vĩ đại vô tới cả nông thôn. Bộ Bách khoa
toàn thư đầu tiên có giá trị là bộ của Wu Shu (947-1002)
[13], không thể sắp
theo mẫu tự được, nên phải sắp theo môn, theo đề tài; bộ đó chú trọng tới
các hiện tượng vũ trụ. Năm 977, vua Tống Thái Tôn sai soạn một bộ Bách
khoa toàn thư quan trọng hơn gồm 30 cuốn, hầu hết là trích trong số 1690
thần của dân tộc Trung Hoa.
Thời đó các triết gia tranh luận nhau nhiều nhất về Chu Hi và các địch thủ
của ông, cách giải thích một đoạn trong sách Đại học. Khổng tử muốn nói gì
khi ông bảo muốn trị nước thì trước hết phải tề nhà mình, muốn tề nhà mình
thì trước hết phải sửa thân mình, muốn sửa thân mình thì trước hết phải
chính cái tâm của mình, muốn chính cái tâm thì trước hết phải làm cho tinh
thành cái ý, muốn làm cho tinh thành cái ý thì trước hết phải có tri thức xác
đáng, tri thức xác đáng ở chỗ xét kĩ mọi vật (trí tri tại cách vật).
Chu Hi bảo ý nghĩa đoạn đó không có gì tối tăm về triết lí, luân lí và đạo trị
nước. Ông chấp nhận hoàn toàn mà không hề phản kháng khuynh hướng
thực nghiệm (hay chứng nghiệm) của Khổng tử; và mặc dầu ông cho vấn đề
bản thể (ontologie) một địa vị quan trọng tới nỗi Khổng tử nếu biết được, tất
phải ngạc nhiên, nhưng rốt cuộc học thuyết của ông vừa vô thần vừa kích
thần, điểm đó chắc Khổng tử lấy làm thích. Kinh Dịch từ trước vẫn thống
ngự môn siêu hình học Trung Hoa, Chu Hi cũng nhận như kinh đó rằng có
một sự tương phản rõ rệt, trong sự thực: dương và âm; nhưng đôi khi người
ta thấy hai cái đó hoà hợp với nhau và luôn luôn tác động lên ngũ hành: kim,
mộc, thuỷ, hoả, thổ để tạo ra vạn vật; cũng vậy, lí và khí – luật trời và vật
chất – hợp tác với nhau để điều khiển vũ trụ, tạo cho vũ trụ hình thức của nó.
Nhưng trên tất cả, là thái cực, cái tuyệt đối, lí của các lí, cơ cấu của vũ trụ.
Chu Hi cho cái thái cực đó là thiên (trời) trong đạo Khổng chính thống,
Thượng Đế chỉ là một luật diễn tiến hợp lí, không có nhân tính, không có
hình thể. Đạo trời chỉ là lí.
Chu Hi bảo thiên đạo đó cũng là nhân đạo (đạo của người), cũng là đạo trị
dân. Đạo đức chỉ là sự hoà hợp với thiên đạo và biết áp dụng đạo luân lí vào
việc trị nước tức là khéo trị nước. Thiên nhiên vốn thiện thì bản tính con
người cũng thiện, theo luật thiên nhiên tức là minh triết. Ông Choi Mao Shu
thiền định để tìm hiểu cái “ngã” lại dễ đạt được sự minh triết hơn là đọc tất
cả các sách, tìm hiểu cả vạn vật. Bị đày làm cai trạm ở tỉnh Quí Châu, một
nơi núi non, dân còn dã man, mà lại đầy rắn độc, ông tìm được trong bọn
thảo khấu vài người bạn và một số môn sinh, dạy cho họ triết lí, nấu cơm
cho họ ăn, hát cho họ nghe. Một đêm, vào giờ tí, họ ngạc nhiên thấy ông từ
trên giường nhảy xuống đất mừng rỡ la lớn: “Rõ ràng là cái thiên tính của tôi
đủ rồi, đi tìm cái lí trong sự vật là lầm lẫn”. Bọn họ chẳng hiểu gì cả, nhưng
ông vẫn dần dần giảng cho họ thuyết duy tâm của ông: “Tâm tức là lí, trong
vũ trụ có cái gì ngoài cái tâm, có cái lí gì ngoài cái tâm đâu”. Từ đó ông
không suy diễn rằng Thượng Đế chỉ do con người tưởng tượng ra; trái lại
ông cho rằng Thượng Đế là một sức mạnh tinh thần bàng bạc khắp vũ trụ,
cực lớn, không thể là một người được, mà lại có thể có thiện cảm hay ác cảm
với con người.
Từ quan niệm hoàn toàn duy tâm ấy, ông cũng đạt tới những qui tắc luân lí y
hệt với Chu Hi. “Thiên lí toàn thiện, chấp nhận, theo đúng thiên lí, tức là có
đạo đức”. Khi người ta bảo ông, trong thiên nhiên, có hiền nhân mà cũng có
những con rắn, thì ông đáp – mà thánh Thomas d’Aquin, Spinoza và
Nietzsche sau này chắc cũng đáp như ông – rằng “thiện” với “ác” như là
những thành kiến, có lợi cho cá nhân hay nhân quần thì gọi là thiện, có hại
thì gọi là ác. Còn thiên nhiên thì siêu thiện ác, không biết những danh từ con
người tạo ra đó. Một môn đệ của ông [tên là Khản] kể lại rằng – nếu không
phải là bịa ra – cuộc đối thoại dưới đây mà chúng ta có thể đặt cho nhan đề
là Siêu thiện ác:
Một lát sau thầy bảo: “Quan niện thiện và ác đó phát khởi từ thân thể ta,
cho nên nó sai”. Tôi không hiểu rõ. Thầy giảng thêm: “Sinh ý của trời đất
có thể so sánh với trường hợp hoa và cỏ. Làm sao phân biệt được thiện và
ác trong hoa, cỏ. Anh thích ngắm hoa thì cho hoa là “thiện”, cỏ là “ác”.
Tới lúc anh cần dùng cỏ thì anh sẽ cho cỏ là “thiện”. Anh phân biệt thiện ác
[1] Tức Triệu Khuôn Dẫn. (Goldfish).
[2] Phép đó gọi là phép “thanh miêu”: nông dân vay từ khi lúa xanh tới lúc
lúa chín trả lại với số lời 2 phân (mỗi tháng?). (ND).
[Trong cuốn Sử Trung Quốc, cụ Nguyễn Hiến Lê bảo số lời là 2, 3 phân mỗi
tháng, và cụ còn cho biết thêm: “địa chủ cho vay thì có khi lãi tới 20 phân
mỗi tháng”. (Goldfish)].
[3] Phép “quân du” và phép “bình giá”. (ND).
[4] Tức phép “bảo giáp”: cứ năm nhà làm một “bảo”. Bảo đinh phải luân
phiên canh phòng trộm cướp, tức như dân phòng. (ND).
[5] Tức phép “bảo mã”. Nhà vua không giao lúa, cỏ cho người nuôi ngựa mà
miễn một phần thuế cho họ. (ND).
[6] Coi cuốn Tô Đông Pha – Cảo Thơm tái bản 1974. (ND).
[7] Theo Từ Hải thì Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc. Durant lầm? (ND).
[8] Theo Từ Hải thì Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc. Durant lầm? (ND).
[9] Feng Tao: Phùng Đạo 馮道 (882-954) - 130 quyển kinh Khổng giáo
được in trong khoảng 932-953 (
(Goldfish).
[10] Pi Sheng: Tất Thăng 毕昇 (990-1051). (Goldfish)
[11] Theo tập Tin tức Đại Hàn (số tháng 10-1973) của Sở Thông tin Đại
Hàn thì ngày 15.5.1973, người ta mới tìm thấy tại thư viện Đại Hàn ở Hán
Thành một cuốn sách cổ về Phật giáo nhan đề là Chongyong Tap Sunjong
Simyo Popmum, cuốn đầu tiên in bằng mẫu tự kim khí hiện nay được biết.
Cuốn đó in khoảng 1275-1298. (ND).
[12] Durant muốn nói sự dùng bạch thoại để viết truyện? (ND).
[13] Tức bộ Sự loại phú 事類賦 của Ngô Thục 吳淑 (947-1002). (Goldfish).
[14] Bản tiếng Pháp in lầm là monde interieur (nội tâm). Tôi đã sửa lại như