Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa lời mở đầu - Pdf 17

Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
Vài lời thưa trước

Trong thời gian thực hiện ebook Ấn Độ và Phật Thích Ca, tôi đã có ý định
tiếp theo là gõ ít nhất là chương I cuốn Lịch sử văn minh Trung Hoa, nên
trong bài Vài lời thưa trước, tôi viết: “Tôi chép trọn chương I: Tổng quan
về Ấn Độ, cũng vì một lí do khác nữa. Đó là, nếu như không có điều kiện đọc
trọn cuốn Lịch sử văn minh Ấn Độ, chỉ với chương I và chương II thôi,
chúng ta cũng tạm đủ để hiểu tại sao trong cuốn Lịch sử văn minh Trung
Hoa, Will Durant lại viết câu này: “Trọng tâm của tư tưởng Trang tử cũng
như của triết gia nửa thần thoại, Lão tử, mà Trang tử coi là sâu sắc hơn
Khổng tử nhiều, là một ảo tưởng huyền bí về một cái vô ngã, rất gần với đạo
Phật và các Upanishad trong các kinh Veda, khiến chúng ta phải ngờ rằng
các thuyết siêu hình của Ấn Độ đã truyền qua Trung Quốc ít nhất là bốn thế
kỉ trước khi đạo Phật vô Trung Quốc ”.”.
Cuốn Lịch sử văn minh Trung Hoa là phần A: Trung Hoa của cuốn III: Viễn
Đông (Book III: The Far East – A: China) trong tập I: Di sản phương Đông
(Volume One: Our Oriental Heritage
[1] của bộ Lịch sử văn minh (The Story
of Civilization) của Will Durant.
Trước khi dịch cuốn Lịch sử văn minh Trung Hoa, cụ Nguyễn Hiến Lê đã có
khá nhiều tác phẩm viết hoặc dịch về triết học và văn học Trung Quốc. Do
vậy, so với cuốn Lịch sử văn minh Ấn Độ, cụ có nhiều điều kiện hơn để giúp
người đọc dễ hiểu rõ và hiểu đúng nguyên tác hơn. Nhờ “vài chữ hoặc một

Durant; hơn nữa, cụ Nguyễn Hiến Lê lại không có chút nghi ngờ nào giống
như Will Durant rằng thuyết luân hồi trong các kinh Veda của Ấn Độ đã ảnh
hưởng đến học thuyết của Trang tử, nên cụ bảo: “Trang tử không phải là
nhà khoa học, mà thời ông sống, đạo Phật chưa truyền qua Trung Hoa, ông
không biết các luật khoa học, và luân hồi, nhưng ông đã cảm thấy một cách
sâu sắc luật biến hoá trong vũ trụ. Ông nghĩ rằng chúng ta chết rồi có thể
biến thành bất kì một vật nào khác như đổi căn nhà (VI.6) mà vật cũng vậy,
cũng có thể biến thành người, và dù biến thành gì thì vật và ta rốt cuộc cũng
trở về Đạo, “qui căn”, hợp nhất với Đạo. Đó là một tư tưởng đặc sắc của
ông, làm căn cho thuyết không phân biệt ta và vật, trọng thiên tính và sự tự
do của vạn vật”.
Trong cuốn Sử Trung Quốc, chúng ta thấy cụ Nguyễn Hiến Lê trích dẫn rất
nhiều từ bộ Lịch sử văn minh, đặc biệt là từ cuốn Lịch sử văn minh Trung
Hoa, và có lẽ do chịu ảnh của Will Durant, trong cuốn đó, cụ trình bày khá
chi tiết nền văn minh Trung Hoa. Cụ bảo: “Tôi cho lịch sử Trung Hoa là
lịch sử của một nền văn minh vô cùng độc đặc, tuy ra đời sau vài nền văn
minh khác: Ai Cập, Lưỡng Hà nhưng tồn tại lâu nhất”.
*
Trong các đoạn trích dẫn mà cụ Nguyễn Hiến Lê không tìm được nguyên
tác, cụ phải dịch từ bản tiếng Pháp – như trên tôi đã nói – có khá nhiều bài
thơ; và trong những bài này tôi tìm được nguyên tác vài bài (trong chú thích

Giữa những năm 30 của thế kỉ này, khi các đế quốc châu Âu, châu Mĩ, đang
đà cường thịnh, khi bản đồ Á Phi còn tô một màu thuộc địa xám xịt, thì Will
Durant cho ra bộ LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI với phần MỞ ĐẦU là
lịch sử văn minh các nước phương Đông: Ai Cập, Tây Á, Ấn Độ, Trung Hoa,
Nhật Bản…
Hôm nay, ta nghe đâu đó có lời dự báo rằng cán cân kinh tế của các thập kỉ
sau sẽ nghiêng về châu Á. Nhưng 55 năm trước, W. Durant đã viết “Tương
lai ở phía Thái Bình Dương và chúng ta phải hướng cặp mắt và trí óc về
phía đó”. Nhà sử học, nhà bác học Mĩ gốc Pháp này đã cùng vợ bỏ ra gần
ba chục năm để nghiên cứu các dân tộc châu Á và phương Đông và đã viết
về các quốc gia này với thái độ công bằng, trân trọng. Từ khi sách ra đời đã
mấy thập kỉ, nhưng công trình nghiên cứu này ở ta vẫn chưa phổ biến nhiều;
trong lúc đó hãy còn một số giờ dạy và một số tài liệu khác vẫn xem nền văn
hóa châu Âu mở đầu với Hi-LA là tột đỉnh, là khởi nguyên của mọi nền văn
hóa. Quan niệm này đã bị W. Durant phê phán ngay tại nơi nó được phát
sinh, là giới sử gia phương Tây.
Trong phần văn minh phương Đông, W. Durant viết khá kĩ về Ấn Độ và
Trung Hoa. Hai quốc gia này là nơi phát sinh hai nền văn minh lớn có tác
dụng và ảnh hưởng đến hai phía của lục địa châu Á trong đó có Việt Nam.

Nhân đây chúng tôi chân thành cảm ơn gia đình học giả quá cố NGUYỄN
HIẾN LÊ cho phép chúng tôi sử dụng bản dịch này.
NXB Văn Hoá Thông Tin

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ WIIL DURANT VÀ BỘ LỊCH SỬ VĂN
MINH
[3]
Trong giới biên khảo, sử gia giữ một địa vị đặc biệt, vì sức làm việc phi
thường của họ. Họ kiên nhẫn, cặm cụi hơn hết thảy các nhà khác, hi sinh
suốt đời cho văn hoá không màng danh vọng, lợi lộc, bỏ ra từ ba đến năm
chục năm để lập nên sự nghiệp. Họ đọc sách nhiều, du lịch nhiều, suy tư
nhiều, và nếu họ có ít thành kiến, thì tác phẩm của họ càng lâu đời càng có
giá trị, hiện nay ở phương Tây, loại sách về sử được phổ biến rất rộng, có cái
cơ muốn lấn át tiểu thuyết.

được, nhưng Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú vẫn còn đáng làm gương cho
chúng ta và nếu được sanh ra ở một nước như Trung Hoa chẳng hạn thì sự
nghiệp hai vị đó chưa chắc đã kém ai.
Hiện nay hai sử gia nổi danh nhất thế giới là Toynbee (1889…)
[5] với bộ A
Study of History (Khảo luận về Sử) và Will Durant với bộ The Story of
Civillisation (Lịch sử Văn minh). Toynbee là một sử triết gia, có phần sâu
sắc hơn Durant, Durant cổ điển hơn, nhằm mục đích phổ biến hơn, như H.G.
Wells, tác giả bộ Lịch sử Thế giới, nhưng công trình của ông lớn lao hơn của
Wells nhiều, và mặc dầu tính cách khác nhau, đáng được đặt ngang hàng với
công trình của Toynbee.
*

* *
William James Durant (thường gọi là Will Durant) sanh năm 1885
[6] (hơn
Toynbee 4 tuổi) ở North Adams, tiểu bang Massachusettes, trong một gia
đình gốc Pháp – Gia Nã Đại, đậu cử nhân triết ở trường Saint Peter, làm
phóng viên cho tờ New York Evening Journal, rồi tuân theo lời cha mẹ vô
Chủng viện Seton Hall học thêm bốn năm nữa, nhưng tự xét không hợp với
với nghề mục sự, ông thôi học, ra làm hiệu trưởng trường Labor Temple

Mục đích của ông bà là tìm hiểu xem tài năng và sức lao động của con người
đã giúp cho văn hoá của nhân loại được những gì, óc phát minh nảy nở và
tiến bộ ra sao, đạt được những kết quả nào trong mọi khu vực: chính trị, kinh
tế, tôn giáo, luân lí, văn học, khoa học, triết học, nghệ thuật; tóm lại vạch rõ
những bước tiến của văn minh nhân loại. Ông cho rằng từ trước các sử gia phương Tây rất ít chú trọng đến văn minh
phương Đông, đó là một khuyết điểm lớn: “Chúng ta sẽ ngạc nhiên nếu được biết tất cả các món nợ tinh thần của
chúng ta đối với Ai Cập và phương Đông; nợ về các phát minh hữu ích cũng
như về tổ chức chính trị, kinh tế, về khoa học, văn chương, triết học, tôn
giáo. Hiện nay châu Á tràn trề một sinh lực mới, càng ngày càng mau đuổi
kịp châu Âu và chúng ta có thể đoán trước rằng vấn đề quan trọng của thế
kỷ XX sẽ là sự xung đột giữa Đông và Tây; vậy thì viết sử mà hẹp hòi, theo
truyền thống cũ, bắt đầu bằng sử Hy Lạp, chỉ chép vài hàng về sử châu Á
(…) thì là thiển cận, thiếu hiểu biết, hậu quả có thể tai hại. Tương lai ở phía
Thái Bình Dương và chúng ta phải hướng cặp mắt và trí óc về phía đó”. Lời đó viết năm 1935 trong khi Đức, Ý đương cường thịnh, Anh chưa suy,
mà Ấn Độ và Trung Hoa còn là thuộc địa hoặc bán thuộc địa của Âu, quả
thật là một nhận định sáng suốt, đáng coi là một lời tiên tri. Vì có chủ trương đó, ông mấy lần du lịch khắp thế giới (năm 1927 du lịch
châu Âu, năm 1930 đi vòng quanh thế giới để tìm hiểu Ai Cập, Tây Á, Ấn
Độ, Trung Hoa, Nhật Bản; năm 1932 lại du lịch Nhật Bản, Mãn Châu, Tây


Ông bà biết rằng ngừng lại ở lúc nhân loại bắt đầu vào một giai đoạn có rất
nhiều biến cố lớn lao về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, khoa học, triết
học, văn học… là điều vô lí; nhưng ông bà nhớ rằng mình đã quá già rồi
(ông đã 80 tuổi), nên xin nhường công việc viết tiếp cho lớp người trẻ hơn,
mà chỉ soạn thêm một cuốn khoảng 200 trang để thay phần kết, gom những
nhận xét cùng suy tư của ông bà về lịch sử văn minh. Cuốn đó nhan đề là
Bài học của lịch sử.
Ông biết rằng công trình phân tích và tổng hợp mấy ngàn năm lịch sử nhân
loại đó lớn lao quá, một người làm thì thế nào cũng lầm lẫn nhiều mà sẽ trở
thành cái đích cho các nhà chuyên môn trong từng ngành tha hồ chỉ trích.
Ông nhớ lời khuyên của Ptahhotep
[8] năm ngàn năm trước: “Trong một hội
nghị, sẽ có một nhà chuyên môn chỉ trích anh đấy. Có điên thì mới nói lan
man về mọi vấn đề”. Mà thực vậy, có người thấy ông khởi công đã cho ông là điên, ngờ rằng ông
làm không xong hoặc chẳng ra cái quái gì cả. Nhưng ông cứ can đảm bước
tới, tin chắc rằng phải có một công trình tổng hợp văn minh để nhân loại
hiểu sự quí báu của văn minh, nó là di sản của mọi dân tộc chứ chẳng của
riêng dân tộc nào. “Lịch sử nhân loại như một dòng sông đôi khi đầy máu và
xác những người chém giết nhau, cướp bóc lẫn nhau; mà các sử gia chỉ
thường chép những hành động đó thôi. Nhưng trên bờ còn có những người
khác cất nhà, làm vườn, nuôi con, làm thơ”. Các sử gia khác bi quan vì
không nhìn lên bờ; ông sẽ chép công việc của những người xây cất trên bờ.
Việc phải làm thì làm, nếu cầu toàn thì không khi nào nên việc và hai ông bà
Bản tiếng Anh gồm mười cuốn: cuốn đầu về di sản phương Đông soạn xong
năm 1935
[9] (mất 6 năm), cuốn thứ hai về Hi Lạp xong năm 1939 (4 năm),
từ đó cứ 3 hay 4 năm xong một cuốn đến năm 1965 trọn bộ. Cuốn đầu ra rồi, không ai còn nghi ngờ khả năng của ông nữa, và khi cuốn
cuối in xong, ai cũng phải phục ông: sự nghiệp của ông ngang hàng với sự
nghiệp các sử gia danh tiếng của nhân loại; cuốn thứ ba: César và Ki Tô viết
rất hay, tổng hợp rất khéo; các cuốn về văn minh phương Tây thời Cận đại,
tài liệu rất dồi dào, soạn rất công phu: đời sống, hành vi cùng tư tưởng và sự
nghiệp các danh nhân như Léonard de Vinci, Mozart, Voltaire, Rousseau,
Goethe được chép lại rất đầy đủ, mỗi nhà từ 30 đến 100 trang. Tác phẩm được hoan nghênh nhiệt liệt, các trường Đại học ở Mỹ đều khuyên
sinh viên đọc để mở mang kiến thức. Nhà Payoy ở Pháp đã nhờ sáu người
dịch từ mười lăm năm trước; nhà Rencontre ở Lausanne (Thuỵ Sĩ) cuối năm
1970 mới in xong toàn bộ bản tiếng Pháp gồm 33 cuốn
[10], như vậy mỗi
cuốn bản tiếng Anh gồm ba hoặc bốn cuốn bản tiếng Pháp.
Trước sau ông bà đã bỏ ra 39 năm (1929-1967) để thực hiện công trình,
không kể những năm ông kiếm tài liệu khi còn học ở Đại học Columbia.
[2] Cuốn Lịch sử văn minh Trung Hoa - trong Hồi kí và Đời viết văn của tôi,
cụ Nguyễn Hiến Lê gọi tắt là Văn minh Trung Hoa – có lẽ dịch trong năm
1974, nhưng “chưa kịp in thì thay đổi chế độ”, như lời cụ bảo. Không hiểu
tại sao bản in của nhà Đại học Sư phạm lại là Lịch sử Văn minh Trung Quốc,
và trong ngay trong cuốn Lịch sử Văn minh Trung Hoa của nhà Văn hoá
Thông tin mà chúng ta ta đang đọc đây, trong “Lời nhà xuất bản” chúng ta
cũng thấy gọi là Lịch sử văn minh Trung Quốc?
[3] Bài giới thiệu này NXB trích trong bài Tựa cuốn Lịch sử Văn minh Ấn
Độ, cụ Nguyễn Hiến Lê viết tại Sài Gòn ngày 1.1.1971. (Goldfish).
[4] Sinh năm 1332, mất năm 1406. (Goldfish).
[5] Theo Wikipedia thì Toynbee sinh ngày 14-4-1889 và mất ngày 22-10-
1975. (Goldfish).
[6] Theo Wikipedia thì Will Durant sinh ngày 5-11-1885 và mất ngày 7-11-
1981. Sau khi ông mất, hai cuốn sách nữa của Durant được xuất bản trong
những năm gần đây là Những bộ óc và ý tưởng vĩ đại nhất mọi thời đại
(2002) và Những anh hùng của lịch sử: Lịch sử tóm tắt văn minh từ thời cổ
đại đến cận hiện đại (2001). (Goldfish).



(Lời Thiệu Công tâu với vua Lệ Vương
vào khoảng năm 845 trước Tây lịch)
[1]

[1] Will Durant bảo đã trích trong cuốn Outline History of China của Gowen
and Hall. Chúng tôi không kiếm được nguyên văn chữ Hán. Lệ Vương là
một ông vua đời Chu (878-842), bị dân nổi loạn truất ngôi. (ND).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status